ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀNỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ KIM NGÂN CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG
TRUNG HỌC DẠY NGHỀ BẮC GIANG Nghd :PGS.TS TRẦN KHÁNH ĐỨC Hà nội : 2006
3
4
1.3.1.3. Các phương pháp quản lý 39
1.3.1.4. Đánh giá hiệu lực quản lý 43
1.3.2. Mô hình kiểm soát chất lượng đào tạo 43
1.3.3. Mô hình quản lý chất lượng đào tạo tổng thể TQM 44
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT - DẠY NGHỀ BẮC GIANG
2.1. Vài nét về trường trung học kỹ thuật - dạy nghề Bắc Giang 47
2.2. Thực trạng công tác đào tạo và ở trường THKT DN Bắc Giang 48
2.2.1. Quy mô đào tạo 48
2.2.2. Cơ cấu ngành nghề, hệ đào tạo 49
2.2.3. Tổ chức đào tạo 50
2.2.4. Cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên 52
2.2.5. Chất lượng đào tạo 54
2.3. Thực trạng công tác quản lý chất lượng đào tạo
57
2.3.1. Quản lý tuyển sinh 60
2.3.2. Quản lý tổ chức quá trình đào tạo 62
2.3.4. Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo 63
2.4. Đánh giá chung (SOWT) của công tác quản lý
chất lượng đào tạo ở trường THKT - DN Bắc Giang. 69
2.4.1. Điểm mạnh 69
2.4.2. Điểm yếu 70
2.4.3. Thời cơ 72
2.4.4. Thách thức 74
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT - DẠY NGHỀ BẮC GIANG 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
CÁC PHỤ LỤC 107
2
KÝ HIỆU CỤM TỪ VIẾT TẮT
THKT - DN
GD & ĐT
LĐTB & XH
GDNN
TCCN - DN
THCN
ĐH/THCN/CNKT
THCS
THPT
UBND
HĐND
Trung học kỹ thuật dạy nghề
Giáo dục và đào tạo
Lao động thương binh và xã hội
Giáo dục nghề nghiệp
Trung học chuyên nghiệp - Dạy nghề
Trung học chuyên nghiệp
Đại học/ Trung học chuyên nghiệp/ Công nhân kỹ thuật
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1. Về lí luận:
Sự phát triển của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá đã có tác động
đến giáo dục nghề nghiệp ở các nước. Khi nền kinh tế và xã hội càng phát
triển và quốc tế hoá, giáo dục nghề nghiệp càng phải đáp ứng các nhu cầu 8
đa dạng hơn về nguồn nhân lực. Trong thời đại ngày nay, một việc làm cần
thiết mà tất cả các lực lượng xã hội làm việc cùng nhau để phát triển luật
pháp và chính sách, thành lập cơ cấu tổ chức và thiết kế lại các chương
trình để đảm bảo rằng giáo dục nghề nghiệp đáp ứng thoả đáng các nhu cầu
đa dạng của tất cả thành viên xã hội hoặc tái tham gia vào thế giới nghề
nghiệp.
Đất nước đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ của kinh
tế tri thức, của công nghệ thông tin, của hội nhập và hoà bình. Sự thay đổi
về quy mô cũng như trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ, đòi hỏi phải có
một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật viên, cán bộ thực hành và công nhân
kỹ thuật đủ về số lượng và mạnh về chất lượng, có trình độ và năng lực
dục đào tạo của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã xác
định rõ trọng tâm ưu tiên phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động, phát huy triệt để nguồn
vốn con người - nguồn lực quan trọng nhất trong tiến trình phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vấn đề
phát triển nguồn nhân lực không chỉ cấp bách đối với các khu vực đô thị -
công nghiệp lớn mà còn đặt ra gay gắt đối với khu vực miền núi - dân tộc -
một khu vực đất rộng, người thưa, kinh tế chưa phát triển và trình độ dân trí
còn thấp kém. Nhu cầu nhân lực của khu vực miền núi dân tộc có những
nét khác biệt cả về số lượng, cơ cấu loại hình và những điều kiện tổ chức
thực hiện do đó cần có một số chiến lược phát triển nguồn nhân lực thích
hợp với khu vực này, góp phần tích cực giải quyết vấn đề phát triển nhân
lực chung cho toàn quốc.
Có thể nói vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở khu vực miền núi dân
tộc là một vấn đề hết sức cấp bách - khó khăn nhưng là một khâu đột phá
nhằm nâng cao năng lực nội sinh, phát huy nguồn vốn con người cho công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc miền núi nói
chung và khu vực miền núi phía Bắc nói riêng, hướng tới sự kết hợp phát 10
triển nguồn nhân lực tại chỗ với nguồn nhân lực từ các khu vực phát triển
khác thông qua quá trình đào tạo điều động và phân bố lại lao động trên
phạm vi từng vùng và cả nước. Phát triển nguồn nhân lực gắn với các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương.
1.2. Về thực tiễn:
Cùng với sự phát triển của đất nước, mặc dù Bắc Giang là một tỉnh
miền núi mới được tái lập, nền kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp,
cơ sở vật chất xã hội và kết cấu hạ tầng xã hội còn thấp, nguồn thu ngân
sách còn hạn hẹp… nhưng do xác định đúng hướng đi nên trong những
là nói đến hàm lượng trí tuệ trong đó. Nguồn lực con người có trí tuệ là
nguồn tài nguyên quí giá nhất. Muốn thực hiện được chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát
triển toàn diện con người, nâng cao chất lượng đào tạo.
Những lí do trên đã thúc đẩy tôi chọn đề tài: “ Các biện pháp quản
lý chất lượng đào tạo của trường Trung học Kỹ thuật Dạy nghề của tỉnh
Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý chất lượng đào
tạo,trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp quản lý chất lượng đào tạo của
trường THKT- DN Bắc Giang đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực lao động
kỹ thuật cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà và khu
vực miền núi phía Bắc.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
Quá trình đào tạo nhân lực của trường THKT- DN Bắc Giang
- Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản lý chất lượng đào tạo của trường THKT - DN Bắc
Giang 12
4 . Giả thiết khoa học
Trường THKT – DN Bắc Giang mới được thành lập năm 1997,
nên chất lượng đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế và bất cập. Nếu
có các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo dựa trên những nét đặc thù của
quá trình đào tạo nhân lực đáp ứng với nhu cầu thị trường lao động của địa
phương thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chương 3
Các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo của Trường THKT- DN
Bắc Giang. 14
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
1.1. Tổng quan hệ thống giáo dục nghề nghiệp:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường duy nhất để phát triển
nền kinh tế - xã hội đối với bất cứ quốc gia nào, nhất là các nước chậm và
đang phát triển. Chỉ có công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có thể rút ngắn
được thời gian phát triển kinh tế - xã hội so với các nước “đi trước”. Trong
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, con người - nguồn nhân lực - với
tư cách là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, chính là yếu tố quyết
định quan trọng nhất, là động lực cơ bản nhất. Thực tế đã chứng minh,
nguyên nhân dẫn đến sự thành công của các quốc gia và vùng lãnh thổ có
nền công nghiệp phát triển ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo,
Hồng Công, Đài Loan… không chỉ bắt nguồn từ khoa học - công nghệ mà
chủ yếu là dựa vào nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có hàm
lượng chất xám cao. Vì thế, có thể khẳng định, nguồn nhân lực đã trở thành
yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mang tính quyết định nhất đối với sự
phồn thịnh của quốc gia, dân tộc. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò
và vị trí quan trọng trong công tác phát triển nguồn nhân lực của các quốc
gia.
1.1.1. Một số nƣớc trên thế giới:
Trong các thập kỷ qua, rất nhiều nước trên thế giới đã duy trì và phát
triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân của
mình. Loại hình giáo dục này nhằm đào tạo nguồn nhân lực có nhiều trình
tú tài khác và bằng kỹ thuật viên, hoặc có thể chuyển sang trường khác để
tiếp tục học theo hướng công nghệ hoặc phổ thông.
- Loại hình trường ES chiếm một số lượng rất nhỏ, tuyệt đại đa số
nhân lực trình độ trung cấp như kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ là
những người tốt nghiệp các trường LT có sự đào tạo kết hợp giữa phổ
thông và nghề nghiệp tương tự như loại hình trường trung học nghề ở nước 16
ta hoặc những người tốt nghiệp trường LEP với chương trình hoàn chỉnh;
mô hình đào tạo ở đây là 9+(3-4).
- Đào tạo nghề ở Pháp có hướng đi lên để nâng cao trình độ đến kỹ
thuật viên hoặc chuyển trường để học lên, mở ra nhiều cơ hội học tập tiếp
của người tốt nghiệp trường nghề.
- Loại hình trường đào tạo nghề ở Pháp có thể là đơn cấp như LT,
IUT (institut universitaire de technologie), và ES, nhưng cũng có thể là đa
cấp như LEP và LT có STS ( section des techniciens supeperieus).
1.1.1.2. Ở Đức:
Các loại hình trường của giáo dục nghề nghiệp ở Đức rất đa dạng,
đặc biệt là các loại hình trường đào tạo nghề hoặc giáo dục phổ thông kết
hợp với đào tạo nghề. Trường chuyên nghiệp ở Đức bao gồm nhiều ngành
học. để vào học được trường chuyên nghiệp, học sinh phải kết thúc việc
đào tạo ban đầu ở một trong các loại hình trường nghề, một bộ phận sau
một thời gian làm việc có kinh nghiệm lâu năm, một bộ phận khác chứng tỏ
có năng khiếu đặc biệt về chuyên môn, mô hình đào tạo có thể tóm tắt như
sau: 4 năm trường cơ sở ( tiểu học) + 5 năm trường chính +3 năm đào tạo
nghề +(1/2- 2) năm trường chuyên nghiệp. Trong hệ thống giáo dục của
Đức, vị trí người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp xếp ngang hàng vị trí
người tốt nghiệp đại học, vì ưu thế của họ là đã có một số năm kinh nghiệm
trong nghề nghiệp hoặc là người có năng khiếu đặc biệt sau khi tốt nghiệp
trường nối tiếp nhau, không bị đứt quãng.
Căn cứ vào số năm đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, có thể xếp
đào tạo nghề vào bậc trung học; đào tạo lấy bằng kỹ thuật cũng như kỹ
thuật viên và bằng nghề có trình độ cao hơn chứng chỉ nghề có thể xếp vào
cấp cao đẳng. Đào tạo nghề và kỹ thuật ở trình độ cao sau nhiều năm đào
tạo được coi là rất có giá trị và xếp ngang hàng tốt nghiệp đại học. Về các
loại hình trường trung học chuyên nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt
1.1.2. Việt Nam:
1.1.2.1. Sự phát triển của hệ thống giáo dục nghề nghiệp:
Trước nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển nhân
lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngày 26/3/1998
Chính phủ đã có Quyết định số 67/1998/QĐ - TTg về việc chuyển giao 18
nhiệm vụ quản lý nhà nước về đào tạo nghề từ Bộ Giáo dục và đào tạo
sang Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tiếp theo đó Chính phủ có Nghị
định số 33/1998/NĐ - CP ngày 23 tháng 5 năm 1998 tái thành lập lại Tổng
cục dạy nghề. Quyết định quan trọng trên tạo ra bước phát triển mới của
đào tạo nghề trước ngưỡng cửa thế kỷ 21.
Quyết định 132/2000/QĐ - TTg ngày 24/11/2000 về một số chính
sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có những quy
định về đào tạo nghề cho nông dân. Đây chính là những thuận lợi rất cơ
bản để phát triển hệ thống đào tạo nghề rộng khắp trên cả nước với nhiều
loại hình đào tạo khác nhau phù hợp với nhu cầu phát triển chung của cả
nước cũng như của từng vùng, từng địa phương và từng ngành kinh tế.
Cùng với việc tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo, trong đó có đào
tạo nghề, Nhà nước chủ trương vay vốn của nước ngoài để phát triển đào
công tác đào tạo nghề được Đảng và nhà nước đặc biệt coi trọng thể hiện ở
những vấn đề sau:
* Cơ sở pháp lý:
- Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã đề ra mục tiêu:
“Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành, đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn
hạn và đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có
trình độ cao dựa trên nền học vấn trung học phổ thông hoặc trung học
chuyên nghiệp”4
- Quyết định số 48/2002/QĐ-TT ngày 14/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ
về quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010 chỉ rõ:
- Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành, thực hiện các
chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới một năm (bán lành nghề) và dài hạn
từ một đến ba năm (lành nghề và trình độ cao);
- Từng bước xây dựng và hoàn thiện những trường dạy nghề theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá để tăng năng lực, chất lượng và hiệu quả 20
đào tạo; tập trung đầu tư để nâng cấp và phát triển các trường dạy nghề
chất lượng cao phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội;
- Nâng tỷ lệ tuyển sinh học nghề dài hạn với tổng quy mô tuyển sinh
học nghề từ 16% (năm 2000) lên 22% (năm 2005) và 15% (năm 2010).
11
Hàng loạt chủ trương chính sách, văn bản quy phạm pháp luật được
ban hành như nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động và Luật Giáo
dục, Nghị định về xã hội hoá giáo dục đào tạo, Nghị định về đầu tư nước
ngoài, các quyết định về điều lệ trường dạy nghề, quy chế trung tâm dạy
nghề, quy định chế độ làm việc của giáo viên dạy nghề, quy định về việc sử
dụng, bồi dưỡng giáo viên; quy định nguyên tắc xây dựng chương trình,
quan trọng, trọng tâm và cấp bách của hệ thống đào tạo hiện nay. 3
- Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp:
Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo
điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm
hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh.
Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức,
kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và
có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.
Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất,
dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.
- Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục nghề nghiệp:
- Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực
thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn 22
luyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học
vấn theo yêu cầu đào tạo.
- Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng
thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành
nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc.
- Chương trình, giáo trình giáo dục nghề nghiệp:
- Chương trình giáo dục nghề nghiệp thể hiện mục tiêu giáo dục
nghề nghiệp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội
dung giáo dục nghề nghiệp, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức
đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành, nghề, trình độ đào
tạo của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương
- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm:
+Trường trung cấp chuyên nghiệp;
+Trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, lớp dạy
nghề (sau đây gọi chung là cơ sở dạy nghề).
- Cơ sở dạy nghề có thể được tổ chức độc lập hoặc gắn với cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác.
- Văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp:
- Học sinh học hết chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp, chương
trình bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề, có đủ điều kiện theo quy định của
thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề thì được dự kiểm tra và
nếu đạt yêu cầu thì được thủ trưởng cơ sở giáo dục nghề nghiệp cấp chứng
chỉ nghề.
- Học sinh học hết chương trình trung cấp chuyên nghiệp, có đủ điều
kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi
và nếu đạt yêu cầu thì được Hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp
trung cấp chuyên nghiệp.
- Học sinh học hết chương trình dạy nghề trình độ trung cấp, có đủ
điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy 24
nghề thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được Hiệu trưởng nhà trường
cấp bằng tốt nghiệp trung cấp nghề. Sinh viên học hết chương trình dạy
nghề trình độ cao đẳng, có đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ
quan quản lý nhà nước về dạy nghề thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì
được hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề.
* Đặc điểm của ngành Giáo dục TCCN và dạy nghề:
Giáo dục TCCN và DN là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc
dân, đào tạo người lao động có kiến thức kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ
trung cấp hoặc kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, công nhân kỹ thuật, nhân
định rõ cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền một cách
hợp lý nhằm tạo sự phù hợp tối ưu giữa: Đào tạo - Việc làm và sử dụng
lao động kỹ thuật. Tỉ lệ lao động kỹ thuật có trình độ ĐH/THCN/CNKT
luôn là ẩn số “động”, đòi hỏi phải giải đáp đúng cho từng giai đoạn phát
triển của kinh tế - xã hội.
Nhà nước đã coi phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu và
là khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn
hiện nay. Trong đó hết sức coi trọng việc đào tạo công nhân kỹ thuật và kỹ
thuật viên trung học. Thể hiện rõ của các chủ trương trên là Nghị quyết số
48/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt qui hoạch
mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010. Hiện nay, mạng lưới
trường dạy nghề trên cả nước gồm:
+ 230 trường dạy nghề, trong đó có 101 trường dạy nghề do các Bộ
ngành quản lý, 129 trường dạy nghề do các địa phương quản lý. Trường
dạy nghề ngoài công lập có 29 trường, chiếm tỷ lệ 12,6 % trên tổng số
trường dạy nghề.
+ 212 trường Trung học và Cao đẳng, Đại học có dạy nghề, trong đó
có 70 trường Trung hoc kỹ thuật và 30 trường Cao đẳng kỹ thuật tiền thân
là các trường dạy nghề, do đó các trường này vẫn duy trì đào tạo nghề với
quy mô lớn.