ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60.38.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Trung Tụng
13
1.1.4.
Khái niệm người của pháp nhân
18
1.1.5.
Khái niệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
25
1.2. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra là loại bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
26
1.2.1.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
26
1.2.2.
Những đặc trưng cơ bản của bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
29
1.2.2.1.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân trong trường
hợp người của pháp nhân gây thiệt hại là trách nhiệm trực tiếp
1.2.2.2.
Việc bồi thường chỉ diễn ra khi người của pháp nhân có lỗi trong
việc thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thực tế cho
người khác (cá nhân, tổ chức khác) và người bị hại (hoặc người
đại diện hợp pháp của người bị hại) đòi bồi thường thiệt hại
31
1.2.2.3.
Xác định giới hạn, phạm vi thực hiện trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
53
2.1. Thực trạng pháp luật
53
2.1.1.
Các quy định hiện hành về bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
53
2.1.1.1
Về chủ thể
53
2.1.1.2.
Về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của pháp nhân
58
2.1.2.
Các quy định hiện hành về giải quyết bồi thường thiệt hại do
người của pháp nhân gây ra
59
2.1.2.1.
Các nguyên tắc của việc giải quyết bồi thường thiệt hại
59
2.1.2.2.
Trình tự thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại
64
2.1.2.2.1.
Phương thức bồi thường
64
2.1.2.2.2.
Nghĩa vụ hoàn trả
66
NHÂN GÂY RA
85
3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về việc bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
85
3.2. Giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96 1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức cụ
thể của trách nhiệm dân sự, là quy định của luật dân sự mà khi được áp dụng
sẽ làm hình thành một quan hệ dân sự trong đó người có hành vi xâm phạm
đến tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác thì người gây ra thiệt hại phải bồi thường những
thiệt hại do mình gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng đối
với bất kỳ một chủ thể nào nếu xử sự của họ trái với quy định của pháp luật
nói chung và gây ra thiệt hại cho chủ thể khác.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra là
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp cụ thể. Vấn
đề này lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 tại điều
622. Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời, vấn đề bồi thường thiệt hại do người của
TS. Phùng Trung Tập – Trưởng bộ môn Luật dân sự Khoa Luật Dân sự,
Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong bài viết này có đề cập đến nhiều vấn đề
trong đó có nội dung có tính chất tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu
đề tài của tác giả như: việc phân tích những hành vi có lỗi trong một số loại
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (về cơ sở xác định lỗi, hình thức lỗi), hay
khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần phải xác định
yếu tố lỗi để có căn cứ quy trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật.
- Ngoài ra còn có nhiều chuyên đề, bài viết, bài nghiên cứu của một số
tác giả làm công tác xây dựng pháp luật cũng là những tài liệu nghiên cứu
quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện đề tài nghiên cứu.
3
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người của pháp nhân gây ra. Cụ thể là người của pháp nhân thực thi công việc
của pháp nhân gây thiệt hại trong quá trình thực thi công việc của mình.
- Pháp luật của Việt Nam quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người của pháp nhân gây ra, so sánh với pháp luật một số nước quy định
về vấn đề này.
- Nội dung và thực tiễn thi hành pháp luật hiện hành của Việt Nam về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê
Nin, ứng dụng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận văn còn sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học tin cậy khác như: phương pháp phân tích, so sánh,
tổng hợp và một số phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp khác.
5. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
5.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
6. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn cũng như thực trạng
của việc áp dụng pháp luật điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do người
của pháp nhân gây ra để tìm ra những tồn tại trong quy định của pháp luật
điều chỉnh vấn đề này.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giải quyết bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
5
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
1.1. Khái niệm thiệt hại, bồi thường thiệt hại, pháp nhân và người của
pháp nhân
1.2. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra là loại bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.3. Ý nghĩa của việc quy định bồi thường thiệt hại do người của pháp
nhân gây ra
1.4. Quá trình hình thành và phát triển của quy định bồi thường thiệt
hại do người của pháp nhân gây ra ở Việt Nam
1.5. Pháp luật của một số nước về bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
2.1. Thực trạng pháp luật
2.2. Thực tiễn giải quyết tại Toà án bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra ở Việt Nam hiện nay
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
một cách trái pháp luật đến đời sống, thân thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc
bất cứ quyền nào của người khác” và “tổn thương đến uy tín hoặc lòng tin,
hoặc thu nhập hay sự thịnh vượng của người khác” (Điều 420 và 423) [8]. Bộ
luật dân sự Trung Quốc lại quy định về thiệt hại trái pháp luật chứ không quy
định thiệt hại một cách chung chung, đó là các điều từ 184 đến 198: trong đó
7
có các loại thiệt hại trái pháp luật về tính mạng (Điều 192), về thân thể, sức
khoẻ, danh dự, tự do, uy tín, sự riêng tư hoặc sự trong trắng hoặc đối với nhân
phẩm của người khác một cách nghiêm trọng (Điều 195), và về tài sản (Điều
196) [9]. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định tại Điều 310: “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật
chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” [2]. Bộ luật dân sự Việt
Nam năm 2005 quy định tại Điều 307: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao
gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù
đắp tổn thất về tinh thần” [1]. Quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại là
thiệt hại về tinh thần bao gồm “tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc
suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân” và thiệt hại về vật chất bao gồm “tài
sản bị mất, huỷ hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn
thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được”.
Tóm lại, thiệt hại có thể hiểu là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu
của sự vật sau khi chịu sự tác động từ bên ngoài.
Như vậy, nhìn từ góc độ nào (khoa học pháp lý hay quy định của pháp
luật) thì thiệt hại cũng thường gồm,
a) Thiệt hại về vật chất
Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản (tài sản bị mất, bị huỷ hoại,
bị hư hỏng) và chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng hoa
lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra phải thu được.
Về pháp lý, thiệt hại về vật chất vừa động chạm đến tài sản hữu hình –
thiệt hại trực tiếp (là vật và lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể) như
b) Thiệt hại về tinh thần
Trong cuộc sống, sự tồn tại của yếu tố tinh thần nhằm toát lên “toàn bộ
hoạt động nội tâm của con người nói chung (như ý nghĩ, tình cảm )” [27, tr.
9
1684]. Hoạt động này chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần
của con người, làm nên giá trị tinh thần qua phạm trù danh dự, uy tín, nhân
cách, phẩm giá của một con người hoặc danh dự, uy tín của một tổ chức. Đời
sống nội tâm là một trong hai mặt không thể thiếu cho sự tồn tại của mỗi cá
nhân. Trong hoạt động xã hội, sự tồn tại của mặt thứ hai này trong cuộc sống
con người cũng luôn bị đe dọa bởi khả năng gây thiệt hại khi tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm của con người bị xâm phạm.
Việc xem xét một thiệt hại về tinh thần với tính chất của sự tổn thất đối
với đối tượng phi vật thể, bao gồm thiệt hại thuần tuý tinh thần và thiệt hại
tinh thần có nguồn gốc từ thiệt hại vật chất, do tính mạng, sức khoẻ bị xâm
hại. Tính hiện thực và xã hội của thiệt hại tinh thần là ở chỗ, nó xâm phạm
đến phần quan trọng trong việc học tập, duy trì và phát triển các mối quan hệ
giữa cá nhân và cộng đồng, đó là danh dự, uy tín, phẩm giá của con người .
Thiệt hại về tinh thần trong quan niệm pháp lý của luật Châu Âu và luật
Anh - Mỹ là loại thiệt hại không được biểu đạt bằng việc mất tài sản, hay vật
hoặc các quyền định giá được bằng tiền. Khác với thiệt hại về vật chất mà
việc xác định thiệt hại không phải là khó khăn đặc biệt, thiệt hại về tinh thần
là thiệt hại đối với cuộc sống tâm linh của con người mà theo học thuyết pháp
lý của Pháp gọi là thiệt hại đối với “thành phần tình cảm, tình thương yêu của
sản nghiệp tinh thần”. Vì thế, thiệt hại về tinh thần không có tiêu chí chung
cho mọi cá nhân.
Hình thức thể hiện của thiệt hại về tinh thần đương đối đa dạng, có thể
là đau đớn do thương tích, đau khổ về tinh thần do mất người thân (cha, mẹ, vợ,
chồng, con ) hoặc là nỗi khổ tâm khi không thể tham gia vào hoạt động xã hội
hay không thể hoà nhập được vào đời sống cộng đồng nữa (như bị mù, bị liệt ).
“bù đắp” một phần hay toàn bộ thiệt hại đã xảy ra?
11
Mặc dù rất khó xác định tính chất, mức độ của thiệt hại về tinh thần,
nhưng việc bồi thường thiệt hại về tinh thần bằng một khoản tiền nào đó có
tác dụng tích cực nhất định cho sự phục hồi trạng thái tinh thần bình thường
của người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần mà người
gây thiệt hại phải gánh chịu có tính chất như một chế tài, vì sẽ không công bằng
nếu một người có lỗi khi thực hiện một hành vi gây thiệt hại cho người khác mà
lại không bị trừng phạt. Có áp dụng như vậy thì mới bảo đảm nguyên tắc công
bằng và góp phần gìn giữ những tình cảm, truyền thống, đạo đức tốt đẹp.
Thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; danh dự, uy tín,
tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác.
1.1.2. Khái niệm bồi thường thiệt hại
Thông thường, khi xảy ra thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại được những
đối tượng không bị thiệt hại hoặc bị thiệt hại ít hơn giúp đỡ, chia sẻ để vượt
qua khó khăn, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái; đây là trách nhiệm đạo
đức, trách nhiệm lương tâm cộng đồng của đối tượng giúp đỡ, chia sẻ. Trường
hợp thiệt hại do con người có lỗi gây ra thì việc giúp đỡ, chia sẻ vẫn diễn ra,
nhưng bên cạnh đó còn có trách nhiệm pháp lý của người có lỗi gây thiệt hại
đối với người bị thiệt hại, người ta gọi đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Bồi thường thiệt hại là việc “đền bù những tổn thất đã gây ra” [27, tr. 191].
“Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành
vi gây ra thiệt hại phải bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất và tổn thất
về tinh thần cho bên bị vi phạm. Điều kiện phát sinh trách nhiệm này là phải
có thiệt hại, có hành vi gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây ra thiệt hại” [13, tr.216].
Bộ luật dân sự của Pháp quy định: Bất cứ hành vi nào của một người mà gây
thiệt hại cho người khác, thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi
13
hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn
thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại” [ 35, tr.31]. Với
quan niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật
sau khi chịu sự tác động bên ngoài, vì vậy bồi thường thiệt hại có thể hiểu là
trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật, hiện tượng. Về mặt
pháp lý, thiệt hại là những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khoẻ,
uy tín, danh dự, nhân phẩm; vì vậy, bồi thường thiệt hại là sự khôi phục lại
những tổn thất trên bằng những cách thức và tiêu chí do pháp luật đặt ra.
Bồi thường thiệt hại là quan hệ pháp luật phát sinh từ hậu quả của
những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân;
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác.
Bồi thường thiệt hại là một hình thức của trách nhiệm dân sự; theo đó,
bên có hành vi trái pháp luật một cách cố ý hoặc vô ý gây ra thiệt hại, phải bù
đắp, khôi phục lại trạng thái ban đầu những tổn thất về tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của
cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác bị thiệt hại.
1.1.3. Khái niệm pháp nhân
Trong quan hệ dân sự, bên cạnh chủ thể là cá nhân còn có các chủ thể
khác, đó là cơ quan, tổ chức và một số chủ thể hạn chế khác. Cơ quan, tổ chức
là những tập thể người nên trong quan hệ dân sự có những đặc thù riêng về
chủ thể, chứ không như chủ thể là cá nhân. Để có tư cách pháp nhân, là chủ
thể tham gia quan hệ dân sự thì cơ quan, tổ chức phải đáp ứng được những
điều kiện cần thiết được pháp luật quy định.
Cơ quan, tổ chức trước hết phải tồn tại độc lập, sự tồn tại độc lập đó thể
hiện là có tư cách chủ thể riêng, không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành
viên trong cơ quan, tổ chức đó.
14
đề là khái niệm pháp nhân nhưng trong nội dung lại dường như là liệt kê các
điều kiện để 1 tổ chức được công nhận là pháp nhân: Pháp nhân là một tổ
chức, có quyền sở hữu, quyền sử dụng hay quyền định đoạt đối với tài sản
một cách độc lập và tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của tổ chức đó
và có quyền nhân danh mình chiếm hữu và định đoạt tài sản và các quyền
nhân thân phi tài sản, để thanh toán nghĩa vụ và tham gia với tư cách là
nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự trước Toà án. Các pháp nhân có địa vị
độc lập. [6]
Theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì “Một tổ
chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1) Được
thành lập hợp pháp; 2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3) Có tài sản độc lập với
cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4) Nhân danh
mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. [1]
Quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 cũng
giống như quy định tại Điều 94 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 là đã
liệt kê các dấu hiệu để 1 tổ chức có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, so với quy
định tại Điều 94 của Bộ luật dân sự năm 1995 ở điều kiện thứ nhất là “Được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc
công nhận” [2] thì Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định ngắn
gọn chứ không còn diễn giải, giải thích bằng các hành vi cụ thể vì tất cả các từ
diễn đạt trên đều thể hiện tổ chức đó “Được thành lập hợp pháp”.
Như vậy, pháp nhân là một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự;
song, không phải bất kỳ một tổ chức nào cũng đương nhiên là pháp nhân. Mà
“Pháp nhân là một tổ chức có đủ các điều kiện được pháp luật thừa nhận là có
tư cách pháp lý. Khi tham gia các giao dịch dân sự, pháp nhân cũng bình đẳng
như các chủ thể khác của luật dân sự. Tổ chức là pháp nhân khi có đủ các yếu
16
tố sau: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,
đăng ký hoặc công nhận; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với
dân sự năm 2005, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp
nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp
nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.
Để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, pháp nhân phải tự mình
thông qua hoạt động của mình. Nhưng pháp nhân là một tập thể, tổ chức nên
không thể cùng một lúc tất cả các thành viên của pháp nhân đều tham gia nên
các hoạt động của pháp nhân đều được tiến hành thông qua hành vi của những
người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Khi tham gia các quan hệ pháp luật
dân sự, người đại diện hợp pháp của pháp nhân không tạo ra quyền và nghĩa
vụ cho người đại diện mà là hành vi của pháp nhân, vì pháp nhân, nhân danh
pháp nhân. Người đại diện của pháp nhân gồm, người đại diện theo pháp luật
hoặc người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong
quan hệ dân sự. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định tại Điều 91:
“1. Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại
diện theo uỷ quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo quy định về
đại diện tại Chương VII, Phần thứ nhất của Bộ luật này. Theo đó, 1) đại diện
là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của
người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự trong phạm vi đại diện; 2) Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được
để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác
lập, thực hiện giao dịch đó; 3) Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật
18
hoặc theo uỷ quyền; 4) Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ
giao dịch dân sự do người đại diện xác lập; Người đại diện phải có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ
luật này. (Điều 139)
2. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong điều lệ
người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện
lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.” [Điều 26]
“1- Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn (Hợp đồng lao động
không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời
hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng); b) Hợp đồng lao động xác
định thời hạn (Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó
hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong
khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng); c) Hợp đồng lao động theo
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
2- Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều
này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao
động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở
thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trường hợp hai bên ký kết
hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký
thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải
ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
3- Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có
tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay
20
thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc
nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.” (Điều 27), và,
“Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công
việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm
việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và
bảo hiểm xã hội đối với người lao động.” (khoản 1 Điều 29) [11]
Quan hệ lao động đáp ứng được đúng các quy định của pháp luật lao
bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.[28]
Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nào? Người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng là ai?
Theo quy định của Nghị quyết số 388 thì cơ quan tiến hành tố tụng là
cơ quan thực hiện chức năng điều tra, truy tố, xét xử vµ thi hành án. Ng-êi cã
thÈm quyÒn cña c¬ quan tiÕn hµnh tè tông lµ ng-êi cã thÈm quyÒn tiÕn hµnh
c¸c ho¹t ®éng điều tra, truy tố, xét xử vµ thi hành án. [24]
Trường hợp đặc biệt, ở Việt Nam tồn tại các Tổng công ty là các pháp
nhân có vốn Nhà nước là chủ yếu, các chức danh chủ chốt của các pháp nhân
này thường là cán bộ, công chức được bổ nhiệm, tuy nhiên, nếu gây thiệt hại
trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao thì vẫn là người của pháp
nhân đó gây thiệt hại nên pháp nhân phải bồi thường theo quy định tại Điều 618.
Từ việc phân loại pháp nhân, kết hợp với việc xem xét quy định đặc thù
của pháp luật về cán bộ, công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tiến
hành tố tụng, dùng phương pháp loại suy, ta có thể xem xét khái niệm người
của pháp nhân ở góc độ hẹp hơn. Từ đó, công tác thực tiễn và công việc