MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đạo đức và giáo dục đạo đức là một phạm trù xã hội, xuất hiện khi có
xã hội loài người, tồn tại và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.
Đạo đức là một mặt quan trọng trong nhân cách của mỗi con người, nói lên
mỗi quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội. Đạo đức là kết quả của
quá trình giáo dục, là kết quả của sự tu dưỡng, rèn luyện của bản thân.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực
hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Người quan niệm
đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng. Coi đó là cái gốc
của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì
sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: "cũng như sông
thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì có tài giỏi đến mấy thì cũng không lãnh đạo được nhân dân’’.
Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là: Nhằm xây dựng những
con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội,
có đạo đức trong sáng, có chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực
hiện tốt sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hoá của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng
đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ trí thức khoa học và công
nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong
công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người thừa kế
xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng, vừa chuyên”.
Giáo dục đạo đức cho học sinh trong bối cảnh toàn cầu hoá ở Việt Nam
2
di vt vụ giỏ v quờ hng, gia ỡnh, thi niờn thiu v hai ln v thm quờ
ca ch tch H Chớ Minh. Hn 55 nm qua, Khu di tớch Kim Liờn ó úng
vai trũ quan trng trong vic, tuyờn truyn v giỏo dc truyn thng quờ
hng, t nc, tm gng yờu nc v i, tinh thn cỏch mng kiờn cng
ca ch tch H Chớ Minh i vi cỏc th h ngi Vit Nam v bn bố quc
t. Trong thi k i mi v hi nhp hin nay, Khu di tớch Kim Liờn ó v
ang khc phc khú khn, tranh th thi c, vt qua thỏch thc phỏt huy
tt hn na vai trũ ca mỡnh i vi vic giỏo dc truyn thng cỏch mng
núi chung v giỏo dc o c cho hc sinh núi riờng tuyờn truyn t tng
H Chớ Minh i vi nhõn dõn.
Vic nhn thc ton din v sõu sc v vai trũ ca Khu di tớch Kim Liờn
trong hot ng giỏo dc o c cho hc sinh cng nh tỡm hiu, ỏnh giỏ
thc trng hot ng, xut phng hng v gii phỏp nõng cao cht
lng giỏo dc ca nú l mt vn cú ý ngha lý lun v thc tin cp bỏch
hin nay. Vỡ vy Tụi quyt nh chn ti Mt s gii phỏp qun lý hot
ng giỏo dc o c cho hc sinh khu di tớch Kim Liờn - Nam n Ngh An lm ti lun vn Thc s khoa hc ca mỡnh.
2. Mc ớch nghiờn cu:
xut mt s gii phỏp qun lý hot ng nhm nõng cao cht lng
giỏo dc o c cho hc sinh Khu Di Tớch Kim Liờn Nam n Ngh
An.
3. Khỏch th v i tng nghiờn cu
- Khách thể: Công tác quản lý hoạt động giáo dục o c cho học sinh
ca h thng bo tng H Chớ Minh.
- Đối tợng nghiên cứu: Mt s gii phỏp qun lý hot ng giỏo dc
o c cho hc sinh THCS khu di tớch Kim Liờn - Nam n - Ngh An.
4
4. Giả thuyết khoa học:
Nếu đề xuất và thực hiện được những giải pháp quản lý có cơ sở khoa
quản lý có nhiều kinh nghiệm trong công tác giáo dục đạo đức ở các trường.
7.3. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê
SPSS 11.5 nhằm xử lý các kết quả đã khảo sát.
8. Những đóng góp mới của luận văn:
- Góp phần bổ sung cơ sở lý luận về vấn đề quản lý các hoạt động giáo đục
đạo đức cho học sinh qua hoạt động.
- Đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và khách quan về thực trạng quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức ở Khu Di Tích Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh ở Khu Di Tích Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.
9. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung của luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh ở Khu Di Tích Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh ở khu di tích Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.
Chương 3: Các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
của khu di tích Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở KHU DI TÍCH KIM LIÊN
NAM ĐÀN – NGHỆ AN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi loài người xuất hiện, trong cuộc sống con người không thể
tránh khỏi những quy luật tất yếu là họ phải có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp
nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm sư phạm “ Khoa sư phạm
vĩ đại”. Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục làm cơ sở
cho nền giáo dục hiện đại sau này.
C.Mác có một luận điểm khoa học rất tuyệt vời: Ông coi con người là
một hệ thống những năng lực thể chất và năng lực tinh thần. Theo cách hiểu
của Mác, đạo đức của con người thuộc về những năng lực tinh thần và nhờ
chúng mà những năng lực thể chất có định hướng phát triển đúng đắn. Chủ
nghĩa Mác đã khẳng định rằng: “Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người
có sự tồn tại quy luật đạo đức. Vì đạo đức được nảy sinh, sinh tồn, phát triển
như là một tất yếu” [17, tr 17]. Đồng thời, chủ nghĩa Mác cũng khẳng định:
“Cội nguồn của đạo đức là từ lao động, từ những hoạt động thực tiễn cải tạo
tự nhiên, xã hội, sáng tạo ra những giá trị có ích cho con người, vì con người.
Đó là quy luật sinh thành và phát triển của những quan hệ đạo đức xã hội”
[ 17, tr 17].
Ở nước ta Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu
những quan điểm đạo đức Mác – Lênin và thật sự làm một cuộc cách mạng
trên lĩnh vực đạo đức, Người gọi đó đạo đức mới, đạo đức cách mạng: “ Đạo
đức đó không phải là đạo đức thủ cửu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó
không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân
8
tộc, của loài người” [ 32, tr 337]
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là mẫu
mực kết tinh tất cả những sản phẩm tốt đẹp nhất của con người Việt Nam với
đạo đức cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác – Lênin. Những tư tưởng đạo
đức cũng như tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan
trọng trong hệ thống di sản tư tưởng của người. Cho nên, có thể nói toàn bộ
sự nghiệp cách mạng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình phát
triển tư tưởng đạo đức và việc xây dựng nền đạo đức cách mạng mà Người là tấm
Võ Thế Anh – 2010, “ Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học
sinh trung học phổ thông huyện cao lãnh , Đồng Tháp trong điều kiện phát
triển kinh tế thị trường”.
Đặc biệt hiện nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về các giải pháp
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở KDT Kim Liên – Nam
Đàn – Nghệ An. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là một vấn đề hết sức cần
thiết, góp phần vào công cuộc xây dựng nền giáo dục toàn diện cho học sinh
trên địa bàn nói riêng và học sinh cả nước nói chung khi hành hương về thăm
quê hương Chủ Tich Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên – huyện Nam Đàn – tỉnh
Nghệ An.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.2.1.1. Khái niệm về đạo đức.
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mois – Lề thói, một phương
thức điều chỉnh hành vi con người. Đạo đức đòi hỏi các cá nhân phải chuyển
hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu,
mục đích hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá
nhân tuân theo những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù
hợp với đòi hỏi của xã hội… Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự
10
nguyện và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của
các mối quan hệ xã hội. có đạo đức của xã hội nguyên thủy, đạo đức của chế
độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Trong xã
hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Đồng thời đạo đức cũng có tính kế
thừa nhất định, phản ánh “Những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kỳ cộng
đồng nào” ( Lê Nin). Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hình
thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều lên án cái
xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho
phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong
quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội”
[21, tr 51].
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức. Tuy nhiên, có thể hiểu
khái niệm này đưới hai góc độ:
Góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản
ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực. Đạo đức điều chỉnh
hành vi của con người sao cho phù hợp với lợi ích của người khác và của xã
hội.
Góc độ cá nhân: Đạo đức là những phẩm chất của con người, phản
ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong
các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với
người khác và với chính bản thân mình.
Đạo đức (ĐĐ) biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát
triển của các điều kiện kinh tế - xã hội, cùng với sự phat triển của xã hội
( XH). Khái niệm ĐĐ ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn.
Các giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay là thể hiện sự
kết hợp sâu sắc truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của
thời đại, của nhân loại. Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một
nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của con
người hiện nay.
12
Đạo đức có ba chức năng cơ bản:
Chức năng giáo dục:
Chức năng giáo dục của ĐĐ là để hình thành những quan điểm cơ
bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực ĐĐ cho con người. Nó giúp
con người có khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng xã hội vì trong đời
Chức năng nhận thức:
Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức xã hội về mặt đạo đức. Các
quan điểm, tư tưởng, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức vừa là kết quả
phản ánh tồn tại xã hội của con người vừa tác động trở lại đời sống con
người.
Các chuẩn mực đạo đức là những tiêu chuẩn giá trị đạo đức phù hợp
với yêu cầu phát triển xã hội, tạo nên tính cách tốt đẹp của mỗi con người. Nó
được con người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu về
mặt đạo đức để con người căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, điều chỉnh
bản thân.
Chức năng nhận thức có vai trò định hướng cho mọi hành vi của chủ
thể đạo đức. Chức năng nhận thức đã trang bị cho con người những tri thức lý
luận và thực tiễn đạo đức để con người nhận thức được lễ phải, tránh những
cái xấu. Để thực hiện tốt chức năng này, mỗi người cần phải rèn luyện mình
trong đời sống để nhận biết những giá trị đạo đức. Đồng thời, xã hội cũng cần
có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục cho mọi người có tri thức về đạo
đức, hiểu những chuẩn mực đạo đức trong xã hội.
1.2.1.2. Giáo dục đạo đức.
Theo giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Giáo dục đạo đức là
quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội
đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin,
nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”.
14
Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của của quá
trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác
như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động
và giáo dục hướng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh niểm tin, thói quen,
kính yêu cha mẹ, người thân trong gia đình, yêu thương đồng loại. Gia đình
hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương quý
mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc và là chỗ dựa tinh thần cho mỗi
thành viên.
- Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt
chẽ, có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo nhân cách trẻ em theo
những định hướng của xã hội.
Quá trình thể hiện các chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt
động dạy học, hoạt động giáo dục,... theo hệ thống chương trình, nội dung
được tổ chức một cách chặt chẽ, có kế hoạch.
- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã
hội, các tổ chức kinh tế, các tổ chức đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức
năng,... [26,tr7]. Hồ Chí Minh (1990), Về vấn đề giáo dục đạo đức, Nxb Hà
Nội.Trong các lực lượng giáo dục nhà trường có vai trò chủ đạo, là trung tâm
tổ chức phối hợp và dẫn dắt công tác giáo dục bởi vì:
+ Nhà trường là cơ quan thuộc sự quản lý của Nhà nước, được sự lãnh
đạo trực tiếp và chặt chẽ của Đảng, nắm quan điểm và đường lối giáo dục xã
hội chủ nghĩa, có đội ngũ chuyên gia sư phạm xã hội chủ nghĩa.
+ Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân
cách.
+ Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được
16
chọn lọc và tổ chức chặt chẽ.
+ Nhà trường có lực lượng giáo dục mang tính chất chuyên nghiệp.
+ Môi trường giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác
dụng tích cực trong quá trình giáo dục đạo đức.
1.2.3. Khái niệm quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
* Giải pháp quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh THCS là hệ thống những
tác động có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các khâu,
các bộ phận của nhà trường nhằm giúp nhà trường sử dụng tối ưu các tiềm
năng, các cơ hội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu quản lý GDĐĐ cho học
sinh ở cấp học này.
Đó là một quá trình, bao gồm nhiều cấp độ và nhiều phạm vi:
Về cấp độ
•
Quản lý công tác GDĐĐ cấp hệ thống GD quốc gia: Đây chính
là công tác GDĐĐ cho thế hệ trẻ, với tư cách một nhiệm vụ giáo dục cơ bản
nhằm thực hiện mục đích giáo dục toàn diện nhân cách. Ở cấp độ này, quản
lý công tác GDĐĐ là công tác quản lý hệ thống xã hội, mà nòng cốt là hệ
thống nhà trường, các bậc học, các cấp học, thuộc các cấp quản lý vĩ mô
(quốc hội, chính phủ, các đoàn thể, các cơ quan QLNN về GDĐT…)
•
Quản lý công tác GDĐĐ HS cấp cơ sở giáo dục- đào tạo (các
nhà trường) là quản lý các hoạt động GDĐĐ tác động trực tiếp đến sự hình
thành các phẩm chất của nhân cách người học.
Về phạm vi
Quản lý hoạt động GDĐĐ HS được xác định chính là một nội dung
quan trọng đặc biệt trong công tác quản lý nhà trường của hiệu trưởng. Điều
đó cũng đồng nghĩa đề tài chỉ giới hạn phạm vi bàn về hoạt động GDĐĐ học
sinh trong trường THCS và một số nội dung cơ bản của quản lý hoạt động
này:
- Mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ HS
- Nội dung cơ bản của quản lý giáo dục đạo đức HS
người ta cũng dành riêng một giải pháp trong hệ giải pháp để ưu tiên xử lý.
20
Giải pháp quản lý giáo dục thể hiện tính năng động sáng tạo của chủ
thể quản lý trong các điều kiện công tác thực tế của một cơ sở giáo dục - đào
tạo cụ thể, nhằm giúp cho nhà quản lý thực hiện các phương pháp quản lý quá
trình giáo dục. Hiệu quả quản lý phụ thuộc rất nhiều vào việc chọn lựa đúng
và áp dụng linh hoạt các giải pháp.
1.2.4.2..Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.
Từ các khái niệm về quản lý và HĐGDĐĐ cho học sinh có thể đi đến
khái niệm về giải pháp quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh như sau:
Giải pháp quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh là hệ thống những tác động
có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các khâu, các bộ
phận của nhà trường nhằm giúp nhà trường sử dụng tối ưu các tiềm năng, các
cơ hội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu quản lý GDĐĐ cho học sinh.
Đó là một quá trình, bao gồm nhiều cấp độ và nhiều phạm vi:
Về cấp độ
•
Quản lý công tác GDĐĐ cấp hệ thống GD quốc gia: Đây chính
là công tác GDĐĐ cho thế hệ trẻ, với tư cách một nhiệm vụ giáo dục cơ bản
nhằm thực hiện mục đích giáo dục toàn diện nhân cách. Ở cấp độ này, quản
lý công tác GDĐĐ là công tác quản lý hệ thống xã hội, mà nòng cốt là hệ
thống nhà trường, các bậc học, các cấp học, thuộc các cấp quản lý vĩ mô
(quốc hội, chính phủ, các đoàn thể, các cơ quan QLNN về GDĐT…)
•
Quản lý công tác GDĐĐ HS cấp cơ sở giáo dục- đào tạo (các
Nam về trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền
công dân.
- Hiểu những yêu cầu về đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật trong đời
sống hằng ngày.
* Kỹ năng
22
- Biết sống và ứng xử theo các giá trị đạo đức đã học.
- Biết ứng xử giao tiếp một cách có văn hóa.
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân phù hợp với lứa tuổi.
* Thái độ
- Yêu quê hương đất nước Việt Nam. Tự hào có ý thức giữ gìn, phát
huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tôn trọng đất nước con người và
các nền văn hóa khác.
- Yêu thương, tôn trọng những người xung quanh.
- Tự trọng, tự tin trong giao tiếp và các hoạt động hằng ngày. .
Giáo dục đạo đức cho học sinh ở hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh là
nhằm củng cố và tiếp nối giáo dục đạo đức cho mọi lứa tuổi, mọi thế hệ con
người Việt Nam nói chung và học sinh nói riêng. Công tác này được thực
hiện thường xuyên và lâu dài trong mọi tìm huống, mọi cấp học chứ không
phải chỉ thực hiện khi mà giá trị đạo đức ở học sinh bị mai một hoặc có những
đòi hỏi cấp bách, nhằm để hình thành nhân cách của các em học sinh theo lý
tưởng xã hội chủ nghĩa mà đảng ta đã lựa chọn phù hợp với tiến trình lịch sử
cách mạng của dân tộc.
Với tầm quan trọng và ý nghĩa như trên nên việc giáo dục đạo đức có
nhiệm vụ như sau:
* Giáo dục ý thức đạo đức: nhằm hình thành ở học sinh một hệ thống
các tri thức đạo đức mà các em cần phải có. Cụ thể:
- Hệ thống các khái niệm cơ bản của phạm trù đạo đức xã hội chủ
học tập, say mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay
hay lao động trí óc.
- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn
hóa và thiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn,
tiết kiệm, bảo vệ của công, không xâm phạm tài sản chung của cải riêng của
24
người khác. Biết bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và những nơi
công cộng khác.
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung
quanh: Giáo dục các em học sinh biết quý trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và
những người lớn tuổi; Biết kính trọng lễ phép,lòng biết ơn đối với Thầy cô
giáo; Đối với em nhỏ phải có sự cảm thông nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha,
Giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết
sức tôn trọng và có mục đích lý tưởng chung. Có tinh thần khiêm tốn, luôn
lắng nghe và biết học hỏi. Giáo dục tính thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn
trọng lợi ích và ý chí tập thể.
- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn luôn tự khiêm
tốn, nghiêm khắc với bản thân mình khi có sự sai phạm, bản thân có đức tính
khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng
cảm, lac quan yêu đời…
- Giáo dục đạo đức có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết
bảo vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường… .
1.3.1.3. Phương pháp giáo dục đạo đức học sinh.
Phương pháp giáo dục đạo đức ở hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh là
cách thức hoạt động gắn bó với nhau của người Tuyên Truyền – Giáo
dục( người giáo dục) và người được giáo dục ( học sinh) ở KDT Kim Liên,
nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất theo mục tiêu giáo dục.
Phương pháp giáo dục đạo đức là một thành tố quan trọng và có tác
- Phương pháp cử cán bộ đi nói chuyện về Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại
các trường và các trung tâm để hình thành cho các em thói quen hướng về cội
nguồn …
1.3.1.4. Hình thức GDĐĐ cho học sinh ở hệ thống bảo tàng
Hiện nay có nhiều hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh THCS