Luat thue - De cuong bai giang - Phan 3 - Pdf 31

Chương 4:
THUẾ THU VÀO HÀNH VI SỬ DỤNG MỘT SỐ TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC
A- Giới thiệu chung về pháp luật thuế thu vào hành sử dụng một số tài sản của
nhà nước:
1. Khái niệm pháp luật thuế thu vào hành vi thu vào hành sử dụng một số tài
sản của nhà nước:
Trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam hiện nay, những sắc thuế sau đây điều tiết vào
hành vi tác động vào một số tài sản:
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà
nước thống nhất quản lý, giao cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng. Vì vậy, khi sử
dụng đất nông nghiệp, các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp
vào ngân sách nhà nước.
- Thuế nhà, đất: Nhà ở thuộc quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức, đất ở
thuộc quyền sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng.
Như vậy, nhà và đất là hai đối tượng chịu thuế của hai sắc thuế khác nhau nhưng được điều
chỉnh ở cùng một đạo luật thuế do những đặc điểm chung về tính chất và cơ chế hành thu. Tuy
nhiên, vì những lý do khác nhau nên tạm thời nhà nước chưa tiến hành thu thuế đối với hành vi
sử dụng nhà ở mà chỉ thu thuế đối với hành vi sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình.
- Thuế tài nguyên: Tài nguyên thiên nhiên là tài sản thuộc quyền sở hữu
toàn dân do nhà nước thông nhất quản lý và giao cho các tổ chức, cá nhân khai thác. Hành vi
khai thác tài nguyên bên cạnh việc tác động đến tài sản của nhà nước thì còn ảnh hưởng đến sự
phát triển bền vững về kinh tế, xã hội của thế hiện hiện tại và tương lai. Vì vậy, thu thuế đối với
hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là điều cần thiết.
Khái niệm cơ bản về pháp luật thuế thu vào hành vi sử dụng một số tài sản của nhà
nước như sau: pháp luật thuế thu vào hành vi sử dụng một số tài sản của nhà nước là tập hợp
các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà, đất và thuế
tài nguyên vào ngân sách nhà nước.
2. Đặc điểm của thuế thu vào hành vi tác động vào một số tài sản:
Một là, thuế thu vào hành vi tác động vào một số tài sản là loại thuế trực thu.
Hai là, đối tượng chịu thuế là các tài sản mà cụ thể là hành vi sử dụng tài sản (đất nông

+ Đất để ở, đất xây dựng công trình thuộc diện chịu thuế nhà, đất;
+ Đất làm giao thông, thuỷ lợi dùng chung cho cánh đồng;
+ Đất chuyên dùng là đất được xác định sử dụng vào mục đích không phải là sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và làm nhà ở.
- Nhóm khác:
+ Đất do Uỷ ban nhân dân các cấp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân thuê dùng
vào sản xuất nông nghiệp đã thu tiền thuê đất (có bao hàm cả thuế sử dụng đất
nông nghiệp) (trừ Uỷ ban nhân dân xã cho thuê đất dành cho nhu cầu công ích của
xã đã đề cập ở trên);
+ Hồ chứa nước cho nhà máy thuỷ điện có kết hợp dịch vụ du lịch và nuôi trồng
thuỷ sản;
+Hồ, đầm vừa dùng vào kinh doanh, du lịch, dịch vụ …có kết hợp nuôi trồng thuỷ
sản;
+ Nuôi cá lồng ở hồ, đầm, sông.
1.3. Căn cứ tính thuế:
Trang - 2
Theo quy định tại điều 5 Luật thuế Sử dụng đất nông nghiệp và điều 5 Nghị định
74/1993/NĐ-CP ngày 25/10/1993 thì căn cứ để tính thuế sử dụng đất nông nghiệp gồm:
a. Diện tích: Diện tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích giao cho hộ
sử dụng đất phù hợp với sổ địa chính Nhà nước hoặc kết quả đo đạc gần nhất được cơ quan
quản lý ruộng đất có thẩm quyền xác nhận.
-
b. Hạng đất:
Theo quy định tại điều 7 Luật thuế Sử dụng đất nông nghiệp và điều 1 Nghị định
74/1993/NĐ-CP ngày 25/10/1993thì: “Đất trồng cây hàng năm và đất có mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản được chia làm 6 hạng, đất trồng cây lâu năm được chia làm 5 hạng”. Có 5 căn cứ để
xác định hạng đất gồm các yếu tố:
- Chất đất: là độ phì của đất thích hợp với từng loại cây trồng; đối với đất có mặt nước
nuôi trồng thuỷ sản còn bao gồm độ muối và nguồn dinh dưỡng của nước.
- Vị trí: là khoảng cách so với nơi cư trú của người sử dụng đất, khoảng cách so với thị

Ngày 10/08/1992, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thuế nhà, đất mới.
2.1. Khái niệm, đặc điểm thuế nhà, đất.
các đặc điểm của thuế nhà, đất:
Trang - 3
- Thứ nhất, đối tượng chịu thuế nhà, đất là đất ở, đất xây dựng công trình.
- Thứ hai, đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có hành vi sử dụng
đất ở, đất xây dựng công trình.
- Thứ ba, mục tiêu cơ bản của thuế nhà, đất là nhằm điều tiết một phần thu nhập từ các
tổ chức, cá nhân có hành vi sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình vào ngân sách Nhà nước trên
cở sở đó thực hiện hoạt động quản lý đất ở, đất xây dựng công trình.
- Thứ tư, thuế nhà đất là loại thuế trực thu.
2.2. Đối tượng chịu thuế.
Theo quy định tại điều 1 Nghị định 94 và khoản 1 mục I Thông tư 83 thì đối tượng chịu
thuế nhà, đất là: là đất ở, đất xây dựng công trình thụôc lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, không phân biệt đất có giấy phép hay không có giấy phép sử dụng. Với quy
định này, chúng ta cần lưu ý những nội dung sau đây:
Thứ nhất, đối tượng chịu thuế nhà đất là đất có mục đích sử dụng làm đất ở hoặc đất xây
dựng công trình phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt. Như vậy, thực tiễn sẽ phát sinh 3 trường hợp:
+ Một là, đất đã được quy hoạch sử dụng vào mục đích khác (nông nghiệp, đất chưa sử
dụng…) nhưng hiện tại được sử dụng để xây dựng nhà ở, xây dựng công trình thì không là đối
tượng chịu thuế nhà, đất.
+ Hai là, đất đã được quy hoạch với mục đích sử dụng là đất ở, đất xây dựng công trình
nhưng không được sử dụng hoặc sử dụng vào mục đích khác (nông nghiệp, lâm nghiệp…) thì
vẫn là đối tượng chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp.
+ Ba là, đất chưa có quy hoạch sử dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì căn cứ
vào hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế
1
.
Thứ hai, đất ở, đất xây dựng công trình là đối tượng chịu thuế nhà, đất phải là đất thuộc

3.1. Khái niệm, đặc điểm thuế tài nguyên.
Con người tác động vào tài nguyên với nhiều hình thức: khai thác, xử lý và sử dụng
nhưng thuế tài nguyên chỉ điều tiết vào hành vi khai thác, thuế tài nguyên không điều tiết vào
tất cả các hành vi tác động vào tài nguyên mà chỉ điều tiết vào hành vi khai thác tài
nguyên. Nghĩa là hành vi tác động làm biến đổi bản chất “tự nhiên” của tài nguyên. Vì vậy, tại
điều 1 Pháp lệnh thuế tài nguyên quy định: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên
nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều là đối tượng phải nộp thuế tài nguyên, trừ
đối tượng không thuộc diện nộp thuế.
Đặc điểm của thuế tài nguyên.
- Thứ nhất, đối tượng chịu thuế tài nguyên là các loại tài nguyên thiên nhiên. Nếu tài
nguyên đó được hình thành có sự can thiệp của con người thì nó không còn là đối tượng chịu
thuế tài nguyên nữa.
- Thứ hai, tài nguyên thiên nhiên là đối tượng chịu thuế phải tồn tại trên lãnh thổ Việt
Nam, thuộc chủ quyền Việt Nam theo luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế.
Số tiền
thuế
nhà, đất
phải
nộp
=
Diện tích
đất ở, đất
xây dựng
công trình
x
Mức thuế đất
ở, đất xây
dựng công
trình

đều là đối tượng nộp thuế mà chỉ có các tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác tài nguyên
hợp pháp theo quy định của pháp luật mới là đối tượng nộp thuế.
Khi xác định đối tượng chịu thuế, cần lưu ý một số trường hợp sau:
- Theo quy định tại Điều 3, Pháp lệnh thuế tài nguyên (sửa đổi) và Điều 3 Nghị định số
68/1998/NĐ-CP ngày 03/09/1998 của Chính phủ, trường hợp doanh nghiệp liên doanh với nước
ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư) mà Bên Việt
Nam góp vốn pháp định bằng các nguồn tài nguyên được ghi trong Giấy phép đầu tư thì doanh
nghiệp liên doanh không phải nộp thuế tài nguyên đối với số tài nguyên mà Bên Việt Nam dùng
để góp vốn pháp định. Định kỳ 3 tháng, 6 tháng, Bên Việt Nam phải kê khai số tài nguyên phát
sinh đã góp vốn, báo cáo Bộ Tài chính để ghi vốn Ngân sách Nhà nước và quản lý vốn theo chế
độ hiện hành.
Trang - 6
- Trường hợp doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở Bên Việt Nam với Bên nước
ngoài theo hình thức: liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng chia sản phẩm khai
thác tài nguyên thì thuế tài nguyên phải nộp của doanh nghiệp liên doanh hay của Bên nước
ngoài phải được xác định trong hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng
chia sản phẩm và nếu thoả thuận tính vào phần sản phẩm chia cho Bên Việt Nam. Khi chia sản
phẩm, Bên Việt Nam có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên vào Ngân sách Nhà nước theo quy
định của Luật Ngân sách thuế tài nguyên trên toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác.
- Đối với tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác bị bắt giữ, tịch thu và được phép bán ra
thì tổ chức được giao bán phải tính đầy đủ thuế tài nguyên trong giá bán và nộp vào Ngân sách.
3.4. Căn cứ tính thuế.
Vì vậy, tại Điều 4 Pháp lệnh thuế tài nguyên quy định: “Căn cứ tính thuế tài nguyên là
sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất”. Chúng ta sẽ lần
lượt phân tích 3 yêu tố này.
a. Sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác.
- Do tính chất đa dạng của các loại tài nguyên nên tùy thuộc vào từng loại tài nguyên mà
đơn vị đo sản lượng tài nguyên làm căn cứ tình thuế là khác nhau. Theo quy định tại điều 6 Nghị
định 68 thì “Sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác là số lượng, trọng lượng hay
khối lượng của tài nguyên khai thác thực tế trong kỳ nộp thuế, không phụ thuộc vào mục đích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status