Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tài Agribank, chi nhánh Đông Hà Nội - Pdf 31

Chuyờn tt nghip
trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa NGÂN HàNG TàI CHíNH
---------***---------
Chuyên đề tốt nghiệp

Đề tài:
NÂNG CAO HIệU QUả HOạT ĐộNG thanh toán quốc tế theo
phơng thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn chi nhánh đông hà nội

H v tờn sinh viên : trần thị hơng giang
Chuyờn ngnh : ngân hàng
Lp : ngân hàng a
Khoỏ : 45
H : CHNH QUY
Giáo viên hớng dẫn : th.s hoàng lan hơng

Hà Nội - 2007
Trn Th Hng Giang. Ngõn hng 45 A
1
Chuyên đề tốt nghiệp
MôC LôC
LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................5
CHƯƠNG 1.........................................................................................7
HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NHTM..............................................7
1.1. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ......................................7
1.2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI......................................39
CHƯƠNG 2.......................................................................................47

Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Sơ đồ 1.1. Quy trình thanh toán L/C 22
Bảng 2.1. Tổng nguồn huy động vốn của
NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 -2005 44
Bảng 2.2. Tổng dư nợ của NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 -2006 46
Bảng 2.3. Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Đông Hà Nội 47
Bảng 2.4 Hoạt động TTQT của NHNo&PTNT Đông Hà Nội 50
Bảng 2.5. Doanh số TTQT theo phương thức L/C của
NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 -2006 52
Bảng 2.6. Phí thu được từ hoạt đông TTQT của
NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 -2006 54
Bảng 2.7 Số món thanh toán theo L/C 53
Biểu đồ 2.1. Tổng nguồn vốn huy động của
NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 – 2006 45
Biểu đồ 2.2. Tổng dư nợ của NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 – 2006 46
Biểu đồ 2.3. Chênh lệch thu chi của NHNo&PTNT Đông Hà Nội
2004 – 2006 48
Biểu đồ 2.4 Tổng doanh thu xuất nhập khẩu của
NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 -2006 51
Biểu đồ 2.5. Tổng doanh thu xuất nhập khẩu theo phương thức L/C
2004 2006 53
Biều đồ 2.6. Phí thu được từ hoạt động TTQT của
NHNo&PTNT Đông Hà Nội 2004 -2006 54
Biểu đồ 2.7 Số món TTQT theo phương thức L/C nhập khẩu 56
Biểu đồ 2.8 Quan hệ đại lý của NHNo&PTNT 56
Biểu đồ 2.9 Tổng doanh số nhập khẩu, xuất khẩu theo phương thức L/C
của NHNo&PTNT Đông Hà nội 2004 -2006 59
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A

5
Chuyên đề tốt nghiệp
không tương xứng với tiềm lực của NHNo&PTNT; doanh thu từ hoạt động
này còn chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng doanh thu của ngân hàng. Hoạt động tín
dụng tài trợ xuất nhập khẩu còn chưa phát triển, chưa đa dạng các sản phẩm
hỗ trợ.
Vì vậy, Em chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán
quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn chi nhánh Đống đa Hà Nội” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Chuyên đề nghiên cứu về lý thuyết TTQT theo phương thức L/C, hiệu
quả TTQT theo phương thức L/C, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, các
yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả TTQT theo phương thức L/C; từ đó, dựa trên
cơ sở lý thuyết, nêu lên thực trạng hoạt động của ngân hàng, đánh giá kết quả,
hạn chế và nguyên nhân về hoạt động TTQT theo phương thức L/C tại chi
nhánh NHNo&PTNT Đông Hà Nội.
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, chuyên đề chia làm 3 phần:
Chương 1: Hoạt động TTQT theo phương thức L/C.
Chương 2: Hoạt động TTQT theo phương thức L/C tại NHNo&PTNT Đông
Hà nội
Chương 3: Ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả TTQT theo phương thức
L/C tại NHNo&PTNT Đông Hà Nội.
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A
6
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG
THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NHTM.
1.1. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
“Nếu một doanh nghiệp mới bước vào kinh doanh xuất nhập khẩu thì
lời khuyên của ngân hàng trong thanh toán đó là: ’Hãy chọn phương thức

từ có thể là bất cứ như thế nào, miễn là về bản chất nó là sự cam kết của ngân
hàng phát hành thanh toán cho người hưởng khi bộ chứng từ được xuất trình
hợp lệ. Chính vì vậy mà tuỳ theo thói quen và thông lệ mỗi nước mà tín dụng
chứng từ được gọi theo nhiều cách khác nhau: tín dụng chứng từ, thư tín
dụng, L/C …. Letter of credit, documentary credit …
Một cách tổng quát, có thể xem L/C là sự “đảm bảo thanh toán có điểu
kiện” bởi một ngân hàng cho một người thu hưởng khi người này xuất trình
được bộ chứng từ phủ họp với quy định của L/C. Hay nói cách khác, L/C là
sự cam kết thanh toán hoặc chấp nhận và thanh toán của ngân hàng phát hành
đối với chứng từ xuất trình phù hợp với quy định của L/C.
L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sơởcủa hợp đồng
ngoại thương, nhưng sau khi thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng
này. Một khi L/C được mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung
của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cung không thay đổi
quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan. Điểu này hàm ý, khi nhà xuất
khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những điều kiện
quy định trong L/C, thì ngân hàng phát hành phải trả tiền vô điều kiện cho
nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hoá không hoàn toàn đúng như đã
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A
8
Chuyên đề tốt nghiệp
ghi trên chứng từ. Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình
hình thực tế của hàng hoá; nếu hàng hoá không khớp với chứng từ, thì hai bên
mua bán trực tiếp giải quyết với nhau, không liên quan đến ngân hàng phát
hành. Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp với các điều khoản của
L/C, mà ngân hàng vẫn thanh toán cho người xuất khẩu, thì ngân hàng phải
chịu hoàn toàn trách nhiệm,vì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán
tiền cho ngân hàng phát hành.
Trong thực tế, một số nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C như là công cụ
dự phòng để cụ thể hoá, chi tiết hoá hoặc bổ xung những điều khoản mà hợp

khi nhận được thanh toán và không kiểm soát được hàng hoá cũng như việc
thu tiền hàng. Nhà xuất khẩu hoàn toàn tin tưởng người mua và nếu người
mua từ chối thanh toán, giải pháp duy nhất là đưa ra toà án.
- Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà nhà xuất khẩu sau
khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho nhà nhập khẩu, sẽ tiến hành uỷ thác
cho ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu hoặc chứng từ do nhà xuất
khẩu lập. Phương thức này không đảm bảo quyền lợi cho bên bán, người mua
có thể nhận hàng không chịu trả tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền.
Trong khi các phương thức thanh toán trên đều có sự rủi ro cho một
trong hai bên: bán hoặc mua, thì phương thức L/C đảm bảo được quyền lợi
một cách tương đối cho cả người mua và người bán. Đó chính là lý do vì sao,
phương thức L/C được sử dụng ngày ngày rộng rãi và chiếm tỷ trọng ngày
càng lớn trong TTQT.
1.1.2.1.Ưu điểm
 Đối với người nhập khẩu:
- Nhà nhập khẩu được đảm bảo sẽ nhận được hàng hoá theo đúng với
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A
10
Chuyên đề tốt nghiệp
bộ chứng từ và điều khoản ký kết trong hợp đồng ngoại thương về số lượng,
chất lượng, thời gian giao hàng…
- Và nhà nhập khẩu được bảo đảm rằng chỉ bị ghi nợ tài khoản số tiền
L/C khi tất cả các chỉ thị được thực hiện đúng như trong L/C.
- Nhà nhập khẩu không chỉ nhận được chứng từ hàng hoá đã quy định
trong L/C mà còn được Ngân hàng kiểm tra với chuyên môn và trách nhiệm
cao nhất.
- Nhà nhập khẩu còn được ngân hàng hỗ trợ về các mặt như: vốn, tận
dụng tín dụng của ngân hàng, …vì thời gian từ lúc mở L/C đến khi thu được
tiền bán hàng là khá dài (bao gồm thời gian để nhà xuất khẩu chuẩn bị hàng,
thời gian vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu, thời gian bán

khẩu chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo (bề ngoài hợp
với L/C). Như vậy sẽ không đảm bảo cho nhà nhập khẩu rằng hàng hoá sẽ
đúng như đơn đặt hàng hay không bị hư hại gì. Trong trường hợp này, nhà
nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân hàng phát
hành
Những thay đổi trong hợp đồng ngoại giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất
khẩu phải tiến hành nhiều thủ tục, sửa đổi bổ xung L/C làm kéo dài thời gian
giao hàng, tăng chi phí.
Ngân hàng xác nhận hay một ngân hàng chỉ định khác có thể mắc sai
lầm khi đã thanh toán cho một bộ chứng từ có sai sót, sau đó ghi nợ ngân
hàng phát hành. Nếu ngân hàng mắc sai lầm lại do người nhập khẩu chỉ định,
thì ngân hàng phát hành có quyền truy hoàn số tiền đã bị ghi nợ. Hơn nữa,
trong một số trường hợp, nhà nhập khẩu phải chấp nhận điều khoản hoàn trả
cho ngân hàng phát hành ngay cả khi ngân hàng mắc sai lầm do ngân hàng
phát hành chỉ định . Về nguyên tắc, ngân hàng chỉ định mắc sai lầm phải hoàn
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
trả số tiền đã ghi nợ cho ngân hàng phát hành, nhưng thực tế thì rất phức tạp
và dễ bị từ chối. Vì để được bồi hoàn ngân hàng phát hành phải giao dịch với
một ngân hàng ở rất xa và tại một quốc gia khác, hơn nưa ngân hàng này
thường đề cao mối quan hệ và trách nhiệm của mình với nhà xuất khẩu nội
địa; thậm chí cuối cùng thì ngân hàng phát hành cũng được bồi hoàn, những
phải mất nhiều tháng giao dịch thư từ và tranh cái, chi phí có thể vượt giá trị
của L/C.
Nhà nhập khẩu sẽ chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng đã cập
cảng. Vì bộ chứng từ gồm vận đơn, mà vận đơn là chứng từ sở hữu hàng hoá,
nếu thiếu vận đơn thì hàng hoá không được giải toả. Nếu nhà nhập khẩu cân
gấp hàng hoá, thì phải thu xếp để được ngân hàng phát hành phát hành một
thư bảo lãnh gửi hãng tầu để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà

L/C ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu không hoàn trả hoặc không có
khả năng hoàn trả. Vì vậy mà rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là
hiện hữu, do đó, trước khi chấp nhận phát hành L/C, ngân hàng cần thẩm định
khách hàng một cách chặt chẽ.
Nếu ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà
không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi,
nhà nhập khẩu không chấp nhận, thì không thể đòi tiền nhà nhập khẩu được.
Khi L/C không có xác nhận, ngân hàng chỉ định có thể yêu cầu ngân
hàng phát hành chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy
bộ chứng tử. Trong trường hợp này, nếu không có sự chấp thuận trước của
người nhập khẩu về việc hoàn trả, thì ngân hàng phát hành sẽ gặp rủi ro khi
bộ chứng từ có sai sót, nên nhà nhập khẩu không chấp nhận, do đó ngân hàng
sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà nhập khẩu.
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A
14
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3. Phân loại thư tín dụng:
Trên thực tế trong thanh toán quốc tế có rất nhiều loại thư tín dụng, tuỳ
theo từng điều kiện cụ thể để lựa chọn loại thư tín dụng cho phù hợp.
 Phân theo loại hình:
- L/C không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): là loại L/C sau khi đã
được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ xung hay hủy bỏ trong thời hạn
hiệu lực của nó nếu chưa có sự thoả thuận của các bên tham gia. Sử dụng thư
tín dụng này đảm bảo quyền lợi cho các bên nên được sử dụng rộng rãi và
phổ biến trong thanh toán.
- L/C có thể huỷ ngang (revocable L/C): là loại L/C có thể bị sửa đổi
hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi. Loại này chứa
đựng nhiều rủi ro đối với nhà xuất khẩu. Vì vậy mà L/C này hầu như không
được sử dụng, nó chỉ được sử dụng trong trường hợp: việc giao hàng giữa
công ty mẹ và công ty con, hoặc quan hệ tín dụng giữa hai bên rất tốt.

đó có một điều khoản ghi rõ điều khoản đặc biệt ngân hàng phát hành sẽ
chuyển tiền hoặc uỷ quyền cho ngân hàng thông báo (ngân hàng xác nhận,
ngân hàng chiết khẩu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng một số tiền
nhất định trước khi giao hàng, thông thường số tiền ứng trước tính theo phần
trăm so với giá trị L/C.
- L/C giáp lưng (Back to back L/C ): là loại L/C được mở trên cơ sở
L/C mà nhà nhập khẩu đã mở cho nhà xuất khẩu hưởng (được gọi là L/C
gốc), để thanh toán tiền hàng cho nhà cung cấp, nhà xuất khẩu yêu cầu ngân
hàng phục vụ mình mở L/C cho nhà cung cấp hưởng với nội dung gần giống
nhau, L/C mở sau này được gọi là L/C giáp lưng. L/C giáp lưng được áp dụng
trong trường hợp là mua bán trung gian, giống như L/C chuyển nhượng.
Nhưng khác với L/C chuyển nhượng, L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc
lập với nhau, ngân hàng phát hành L/C giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A
16
Chuyên đề tốt nghiệp
thanh toán bộ chứng từ hợp lệ của L/C giáp lưng. Vì vậy, người cung cấp
hàng hoá (người hưởng lợi L/C giáp lưng) có thể yên tâm về mặt thanh toán.
- L/C dự phòng (Standby L/C): là loại L/C được mở nhằm đảm bảo
quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu nhận được L/C,
nhưng lại không có khả năng giao hàng. Ngân hàng mơởlc cam kết với nhà
nhập khẩu sẽ được thanh toán lại cho họ trong trường hợp nhà xuất khẩu
không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và bồi thường các khoản thiệt hại do
mình gây cho nhà nhập khẩu, nếu như nhà nhập khẩu ứng trước tiền hàng, tốn
phí chi phí mở L/C …
1.1.4. Nội dung của thư tín dụng
Khi nhà nhập khẩu và xuất khẩu ký hợp đồng ngoại thương, trong đó
quy định sẽ thanh toán theo điều khoản của L/C, sau đó nhà nhập khẩu phải
yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C.
Sau đây là mẫu L/C được phát hành:

NO.57 YEN NINH STR., BADINH DIST.,
HANOI, VIETNAM
9) 59 Beneficiary
PONTIN S.R.L
VIA LUZZO 58.32032 FELTRE, BELLUNO
ITALY
10) 32B Currency Code, Amount
USD 6,200.00
Currency Code : USD
Amount : # 6,200.00#
11) 39A Percentage Credit Amount Tolerance
10/10
12) 41D Available With …By…
ANY BANK
BY NEGOTIATION
13) 42C Draft at …
SIGHT FOR 100PCT OF INVOICE VALUE
Trần Thị Hương Giang. Ngân hàng 45 A
18
Chuyên đề tốt nghiệp
14) 42A Drawer (BIC)
VBAAVNVX410
VIETNAM BANK FOR AGRICULTURE (DONGHANOI BRANCH),
VIETNAM
15) 43P Partial Shipments
NOT ALLOWED
16) 43T Transshipments
ALLOWED
17) 44E Port of Loading/Airport of Departure
ANY EUROPEAN PORT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status