Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A. Phần mở đầu.
Chúng ta đang sống trong một thời kì có nhiều biến động trên tất cả mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội,ở từng nớc, từng khu vực và trên phạm vi toàn thế giới. Đã
quá lâu rồi thời kì mà lịch sử bò lên phía trớc một cách chậm chạp,các quốc gia
có thể sống biệt lập, các dân tộc có thể sống tách rời nhau. Điều quan trọng là mỗi
quốc gia dân tộc mà trớc hết là mỗi Đảng cộng sản cần phải biết mình đang sống
trong giai đoạn lịch sử , với những đặc điểm gì,những mâu thuẫn cơ bản gì,vời xu
hớng phát triển ra sao để chọn hớng đi đúng,phù hợp với quy luật phát triển của
lịch sử,để định ra sách lợc cho đất nớc mình. Với lời cánh báo lịch sử thông qua sự
xụp đổ của hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa,đó là do tình trạng trì trệ,khủng
hoảng do chậm nhận ra nhứng khuyết tật của mô hình xây dựng chủ nghĩa xã
hội,do chậm tiến hành cải tổ cải cách,do chủ trơng cải tổ sai lầm,do không vận
dụng tốt những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ. Vì
thế nên tốc độ tăng trởng kinh tế giảm dần,trình độ kinh tế ngày càng tụt hậu về
phía sau trong cuộc đọ sức về kinh tế với Chủ nghĩa t bản. Nằm trong hệ thống các
nớc Xã hội chủ nghĩa,Việt Nam đang thực hiện quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội, từ
nhận thức sâu sắc về lí luận cũng nh nắm bắt kịp thời thời đại mới Việt Nam bắt tay
vào công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nớc(1986). Bằng những sách lợc hợp lí nớc
ta đã giành đợc những thành tựu đáng khả quan sau 15 năm đổi mới. Nh tại đại hội
Đảng IX đã khẳng định:. Điều đó cũng có nghĩa là nghiên cứu phân tích nền kinh
tế trong tổng thể các mối quan hệ ,sự vận động,phát triển không ngừng của nó. Do
vậy phải vận dụng quan điểm rút ra từ hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
duy vật của triết học Mac Lenin vào quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Thực
tiễn nghiên cứu quan điểm sẽ giúp cho nền kinh tế nớc ta tránh đợc những mặt
xấu,.những mặt sai lầm từ nên kinh tế các nớc khác và trên hết là vận dụng những
kinh nghiệm của nó vào quá trình xây dựng nền kinh tế nớc nhà. Bởi vậy việc tìm
hiểu quan điểm đó là hết sức cần thiết đối với những nhà quản lý nói chung ,những
sinh viên và đặc biệt là đối với sinh viên chuyên nghành kinh tế.
Do sự có hạn của thời gian và tầm nhìn còn hạn chế của sinh viên năm thứ
1.2.Quan điểm phát triển.
Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật chỉ cho chúng ta:
muốn thực sự nắm đợc bản chất sự vật và hiện tợng, nắm đợc khuynh hớng vận
động của chúng phải có quan điểm phát triển. Quan điểm này yêu cầu khi phân
tích sự vật, hiện tợng trong sự vận động, phải phát hiện các xu hớng biến đổi
chuyển hoá của chúng, khắc phục t tởng bảo thủ trì trệ. Sự phát triển chỉ bộc lộ
ra khi ta so sánh các hình thức tồn tại của sự vât ở những thời điểm khác nhau
trên trục quá khứ hiện tại tơng lai. Nh ta đã biết vận động đi lên sẽ là
khuynh hớng thống trị (xét trên phạm vi lớn ). Và phát triển không phải là vận
động theo đờng thẳng mà chỉ là xu hớng vận động tiến lên. xoay quanh xu hớng
đó, sự vận động có thể diễn ra theo các véc tơ ngợc chiều nhau, đó chính là sự
thống nhất biện chứng giữa biến cố tất nhiên tính xu hớng của vận động trong
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quá trình với biến cố ngẫu nhiên tính vô định hớng của vận động tại một thời
điểm. Mặc dù tại mỗi thời điểm vân động có thể là vô định song ta có thể mô
hình hoá tính đa dạng của véc tơ vô định ấy vào ba nhóm: vận động tiến hoá, vận
động cân bằng, vận động thoái hoá (ngợc với xu hớng tiến hoá). Quan điểm nh
thế cho phép ta hình dung sự phát triển là xu hớng tự vạch đờng đi xuyên qua
muôn vàn sự tiến bộ đào thải và loại bỏ.
.2 Nguồn gốc của sự phát triển
Lê- nin có viết:phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Qua đó ta có thể thấy rằng nguồn gốc của sự phát triển đó là sự đấu tranh giữa các
mặt đối lập. Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng,mọi sự vật và hiện tợng trên
thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong . Mỗi sự vật hiện tợng đều là một thể
thống nhất của các mặt,của các thuộc tính,các khuynh hớng đối lập nhau. Những
mặt này đối lập với nhau nhng lại ràng buộc với nhau tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn chẳng những là hiện tợng khách quan mà ,còn là một hiện tợng
phổ biến. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong giới tự nhiên,đời sống xá hội và t duy
của con ngời. Chẳng những mâu thuẫn tồn tại phổ biến ở mọi sự vật hiện tợng mà
lập đã làm cho cá sự vật không thẻ tồn tại một cách vĩnh viễn. Vì thế, đấu tranh
giũa các mựt đối lập là nguồn gốc, là động lực bên trong của mọi sự vận động phát
triển. Bất cứ sự thống nhất của các mặt đối lập cụ thể nào cũng đều có tính chất tạm
thời tơng đối, nghĩa là nó tồn tại trong trạng thái đứng yên,tơng đối của các sự vật
hiện tợng. Còn sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là có tính chất tuyệt đối, nghĩa là
nó phá vỡ sự ổn định dẫn đến sự chuyển hoá về vật chất của các sự vật hiện tợng.
Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt đối lập gắn liền với sự tự thân vận động,
tự thân phát triển diễn ra không ngừng của các sự vật và hiện tợng trong thế giới vật
chất. Lê - nin khẳng định:sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt
đối, cũng nh sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối.
Nghiên cứu sự phát triển ta phải gắn liền với việc tìm ra nguồn gốc của nó, đó
là cái nền tảng cái cốt lõi của vấn đề. Nh trình bày ở trên đó là những cơ sở khi
nghiên cứu quan điểm phát triển. Sự phát triển thống trị trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống,vậy nó thể hiện nh thế nào trong kinh tế.
3) Quan điểm phát triển trong kinh tế
Đối với một nền kinh tế, xu hớng tăng trởng tự vạch đờng đi biểu hiện xuyên
qua cá thời điểm mà ở đó ta có thể nhận thấy hoặc là nó đang ở trạng thái tơng
đói ổn định (tổng cung = tổng cầu) hoặc là mở rộng sản xuất (tổng cung < tổng
cầu) hoặc là trong trạng thái thu hẹp lại sự khủng hoảng và sang trạng thái (tổng
cung > tổng cầu). Cứ mỗi khi nền kinh tế nền kinh tế lâm vào khủng hoảng suy
thoái nếu nó không đủ sức vợt qua đến thời kì phục hồi để tăng trởng về sau thì
nó sẽ bị đào thải và loại bỏ bằng một cuộc cách mạng xã hội hay đảo chính để
thiết lập lại một trật tự kinh tế mới.
Vì vậy, vận động bao hàm trong mình cả sự đào thải,loại bỏ ,nhng phát
triển từ thấp lên cao , từ đơn giản đến phức tạp ngày càng hoàn thiện hơn. cho
nên nguyên tắc phát triển đòi hỏi:
Trong việc hoạch định các chơng trình phát triển kinh tế xã hội của một đất
nớc đòi hỏi phải dự báo đợc xu hớng vận động của nền kinh tế trong tơng lai,
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phục t tởng nóng vội và bảo thủ thể hiện chủ yếu trong các chủ chơng về cơ cấu
kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lí kinh tế.
Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trớc hết là cơ cấu sản suất và đầu t, thờng chỉ
suất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính tới điều kiện và khả năng
thực tế, không kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành
một cơ cấu hợp lí, cha sử dụng hiệu quả những khả năng mở rộng quan hệ kinh
tế với nớc ngoài.
Trong năm năm 1976- 1980, đã đề ra những chỉ tiêu kế hoạch quá cao về xây
dựng cơ bản và phát triển sản suất, không coi trọng đúng mức việc khôi phục và
xắp xếp lại nền kinh tế, thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình
quy mô lớn,không tập trung sức giải quyết căn bản vấn đề lơng thực, thực phẩm,
phát triển hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Kết quả là đầu t nhiều mà kết quả
lại thấp.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trên cơ sở xác định lại bớc đi của công nghiệp hoá,đại hội V chủ chơng trong
năm năm 1882- 1985 vừ phát triển vừa xắp xếp lại xản suất, bố trí lại xây dựng
cơ bản để nâng cao hiệu quả đầu t, nhằm ổn định tình hình kinh tế xã hội, ổn
định đời sống nhân dân tạo tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hoá.
Nhng chúng ta đã không thự hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết Đại hội lần thứ
V . Nông nghiệp vẫn cha thực sự đợc coi là mặt trận hàng đầu, không đợc đảm
bảo những điều kiện cần thiết để phát triển, nhất là vật t, tiền vốn và các chính
sách khuyến khích. Công nghiệp sản suất hàng tiêu dùng, kể cả tiểu công nghiệp
thủ công nghiệp, vẫn bị coi nhẹ về khâu tổ chức, đầu t chính sách. Công nghiệp
nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Một khuyết điểm
lớn là hầu nh không sắp xếp lại cơ sở sản suất để khắc phục sự chồng chéo, bất
hợp lí, không tập trung đợc nguồn năng lợng, nguyên liệu vật t có hạn vào những
cơ sở trọng điểm nhằm khai thác tốt nhất năng lực sản suất hiện có. Mặt khác,
trong xây dựng cơ bản tuy đã đình hoãn một số công trình lớn tập trung vào một
số trọng điểm, nhng về căn bản vẫn ch điều chỉnh hợp lí, không kiên quyết hoãn
nghiêm trị bon đầu cơ, buôn lậu, bọn địch phá hoại thị trờng.
Trong nhận thức cũng nh trong hành động, chúng ta cha thật sự thừa nhận cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta còn tồn tảitong một thời gian tơng đối dài,
ch nắm vẵng và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với
tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Về cơ chế quản lí cho tới trớc công cuộc đổi mới kinh tế năm 1986, cơ chế tập
trung quan liêu, bao cấp về căn bản cha bị xoá bỏ. Cơ chế mới cha đợc thiết lập
đồng bộ. Nhiều chính sách,thể chế đã lỗi thời cha đợc thay đổi, một số thể chế
mới còn chắp vá, không ăn khớp thậm chí tráI ngợc nhau. Tình trạng tập trung
quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tợng vô tổ chức vô kỉ luật cũng khá
phổ biến.
Việc chậm đổi mới cơ chế và bộ máy quản lí, việc điều hành không nhạy bén,
là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuống dới. Một số ngời và cơ sở đã lợi dụng những sơ hở của cơ chế quản lí để
mu lợi ích cá nhân và lợi ích cục bộ.
Chúng ta mới nêu ra đợc phơng hớng chủ yếu của cơ chế mới, còn nội dung ,
hình thức, bớc đi, cách làm cụ thể, thì còn nhiều vấn đề cha giảI đáp đợc thoả
đáng cả về lí luận và thực tiễn.
Rõ ràng chúng ta còn thiếu nhiều hiểu biết và ít kinh nghiệm quản lí, lại cha
chú trọng tổng kết kinh nghiệm. Cho nên lúc bấy giờ phải khắc phục ngay cả hai
khuynh hớng: bảo thủ, trì trệ, không muốn đổi mới; và nóng vội, giản đơn, muốn
giảI quyết mọi vấn đề trong một thời gian ngắn.
Suốt những năm trớc đổi mới lĩnh vực phân phối, lu thông luôn căng thẳng rối
ren. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc đã dành nhiều thời giờ vào công
việc này, nhng các giải pháp đa ra chya thực sự có hiêu quả. Tình hình nh vậy là
hậu quả tổng hợp của nhiều yếu tố cùng tác động trong nền kinh tế và đời sống
xã hội.
Trớc hết, đó là những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, và trong cảI tạo xã
hơn lí luận của Mác trong thời đại phát triển công nghệ hiện nay. Triết học Mác
nhấn mạnh rằng sự phát triển xã hội, xét đến cùng, bắt nguồn từ sự phát triển của
lực lợng sản xuất, trong đó cơ bản nhất là con ngời đang sống và lao động sản
xuất. Cái khác nhau cơ bản của nền sản xuất không phải không phải ở chỗ ngời
ta sản xuất ra cái gì mà là ngời ta sản xuất bằng cái gì và tiến hành sản xuất nh
thế nào. Lực lợng sản xuất bao giờ cũng là yếu tố động nhất, cách mạng nhất
trong phơng thức sản xuất. Song sự phát triển của lực lợng sản xuất không thể
nằm ngoài quan hệ sẩn xuất. Tuyệt đối hoá lực lợng sản xuất để coi thờng hay
phủ nhận quan hệ sản xuất sai lầm. Cái đảm bảo cho sự phát triển của lực lợng
sản xuất là quan hệ sản xuất, cái kìm hãm, xiềng xích lực lợng sản suất cũng là
quan hệ sản xuất. Bản thân lực lợng sản xuất mới chỉ biểu hiện con ngời với tự
nhiên:thể hiện khả năng và sức mạnh to lớn của con ngời trong cải tạo thế giới
khách quan. Nhng con ngời trong bản tính của mình là con ngời xã hội. Con ngời
10