Nghiên cứu tỷ lệ kiểm soát một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh bệnh viện bạch mai - Pdf 31

1

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp từ lâu đã là một mối quan tâm hàng đầu của y học thế
giới. Tăng huyết áp ngày càng trở thành một vấn đề sức khỏe trên toàn cầu do
tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng đồng thời với sự gia tăng tuổi thọ và tăng tần
suất các yếu tố nguy cơ. Tăng huyết áp ước tính là nguyên nhân gây tử vong
7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64
triệu người sống trong tàn phế). Trên thế giới tỷ lệ tăng huyết áp chiếm từ 8
đến 18% dân số (theo Tổ chức Y tế Thế giới) thay đổi từ các nước châu Á
như Indonesia 6 - 15%, Malaysia 10 - 11%, Đài Loan 28%, tới các nước Âu Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 6 - 15%, Hoa Kỳ 24%... Ở Việt Nam, tần suất
tăng huyết áp đang ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển. Các số liệu
thống kê điều tra tăng huyết áp ở nước ta cho thấy: năm 1960 tỷ lệ tăng huyết
áp là 1% dân số; 1979 là 1,9% ở người trưởng thành miền Bắc; tới năm 2002
ở miền Bắc là 16,3% [1] và ở 12 phường nội thành Hà Nội là 23,2% [2];
thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là 21,89% đến năm 2008 thì tần suất tăng
huyết áp ở người lớn Việt Nam là 25,1% [3].
Tăng huyết áp là bệnh mạn tính ảnh hưởng đến cơ thể từ từ và liên tục.
Bệnh thường gây những biến chứng nặng nề, thậm chí gây tàn phế và tử vong
nếu không được điều trị đúng. Việc phát hiện sớm, điều trị tốt làm giảm tỷ lệ
tai biến do tăng huyết áp gây ra. Các nghiên cứu đều chứng minh 2 biện pháp
điều trị dùng thuốc và thay đổi lối sống sẽ cải thiện tiên lượng rất nhiều cho
bệnh nhân tăng huyết áp.
Trên thực tế hiểu biết về bệnh tăng huyết áp của người bệnh và ngay cả
các thầy thuốc chưa tương xứng với tầm quan trọng của nó. Tỷ lệ tăng huyết
áp được chẩn đoán, được điều trị và tỷ lệ tăng huyết áp được kiểm soát trên



3
Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TĂNG HUYẾT ÁP
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Huyết áp động mạch
Máu chảy được trong lòng động mạch có một áp suất gọi là huyết áp
(HA). Trong đó máu trong lòng mạch có áp lực đẩy thành động mạch giãn ra,
thành động mạch có sức ép ngược trở lại, hai lực này cân bằng nhau
P1: áp suất đầu mạch
P2: áp suất cuối mạch
R: Sức cản thành mạch

Sơ đồ 1.1. Máu chảy trong động mạch
Dòng máu chảy trong lòng động mạch được tính theo công thức:

Q=

∆P
R ⇒ ∆P

=Q

×

R

Như vậy sự chênh lệch áp suất giữa hai đầu đoạn mạch quyết định dòng

và biến cố mạch vành giảm 15 - 20% [5]. Đối với vai trò của HATT, nếu hạ
HA từ 140 - 180mmHg nhất là 160mmHg xuống thấp < 120mmHg thì các tai
biến trên giảm rất nhiều. Vì những lẽ đó, năm 1993 tổ chức y tế thế giới
WHO (World Health Organisation) và hội THA quốc tế ISH (International


5

5
Society of Hypertension) đã xem xét lại và đưa ra quyết định lấy mốc

≥ 85 mmHg

3. Tự đo tại nhà (đo nhiều lần)

1.1.2.2. Phân loại tăng huyết áp
Có nhiều cách phân loại THA. Trên thực tế lâm sàng người ta sử dụng
cách phân loại đơn giản, chia THA ra làm 2 loại chính:
- THA nguyên phát (chưa rõ nguyên nhân) hay còn gọi là bệnh THA,
chiếm khoảng 90 - 95% các trường hợp THA.


6

6
- THA thứ phát là THA xác định được nguyên nhân gây ra như: do các
bệnh lý của thận, hẹp eo động mạch chủ, u tuỷ thượng thận, do thuốc ... chiếm
từ 5 - 10% các trường hợp THA [8], [9].
- THA nhóm đặc biệt: THA thường xuyên, THA dao động, THA tâm
thu đơn độc, THA cấp cứu và khẩn cấp, THA kháng trị, THA ở phụ nữ có
thai, ở người ĐTĐ, người có bệnh thận, THA và hội chứng chuyển hóa.
1.1.2.3. Phân độ tăng huyết áp
Mục tiêu của việc xác định và điều trị THA là giảm nguy cơ bệnh tim
mạch, giảm tỷ lệ xuất hiện bệnh và tần suất tử vong. Những tiêu chuẩn này
dùng cho người THA không dùng thuốc chống THA và không có bệnh cấp
tính. Trước đây có một số tiêu chuẩn về chẩn đoán và phân độ THA khác
nhau. Hiện nay, phần lớn các tác giả thống nhất chọn tiêu chuẩn về chẩn
đoán và phân độ theo WHO/ISH 1999 [1], [8], [10].
Bảng 1.2. Phân độ tăng huyết áp theo WHO/ISH -1999 (tuổi > 18)
Độ THA
Tối ưu

Bình thường

HA tâm thu (mmHg)
HA tâm trương(mmHg)
< 120
và/hoặc
< 80


7

7
Tiền THA
THA
Độ 1

120 - 139

và/hoặc

80 - 89

140 - 159

và/hoặc

90 - 99

Độ 2


VÀ NHẬN THỨC VỀ TĂNG HUYẾT ÁP
1.2.1. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Có thể nói tăng huyết áp đã trở thành vấn đề sức khoẻ hàng đầu trên toàn
thế giới do mức độ phổ biến của bệnh, biến chứng của nó gây tàn phế và tử vong
chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân và bệnh tật gây tử vong. Sự phát
triển của tăng huyết áp song hành với sự phát triển của xã hội, bệnh có liên quan
với sự phát triển công nghiệp, đô thị và nhịp sống căng thẳng, tần suất mắc bệnh
cao ở những nước có mức sống cao [11]. Hiện nay tăng huyết áp đang là vấn đề
thời sự của nhiều quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Ở Mỹ [12] tỷ lệ tăng huyết áp 24% trong đó số người trên 18 tuổi là
43.186.000, Ở Anh năm 1998 [13] tỷ lệ tăng huyết áp là 37% trong đó số
người trên 18 tuổi là 18.908.000, ở Trung Quốc tỷ lệ tăng huyết áp là 27,2%,
Liên Xô 10 – 12% [14], Tây Ban Nha [14] 30%, Inđônêxia 15 – 20%, Ấn Độ
[15] 23,7% Nhật Bản [16] 19%, Malayxia [17] 22,2%.
1.2.2. Tình hình tăng huyết áp trong nước
Ở Việt Nam tần suất THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển,
mức sống nâng lên. Theo các số liệu điều tra THA ở Việt Nam năm 1960 theo
điều tra của Đặng Văn Chung tỉ lệ THA chiếm 2 - 3% dân số, năm 1976 là
1,9%, năm 1992 theo điều tra dịch tễ của Trần Đỗ Trinh và cộng sự thì tỉ lệ
THA ở Việt Nam đã tăng lên 11,7%. Điều tra năm 1999 của Phạm Gia Khải
và cộng sự tỉ lệ THA tại Hà Nội là 16,05%. Gần đây nhất điều tra năm 2008
của Viện Tim mạch quốc gia trên phạm vi cả nước thì tỉ lệ THA là 25,1%
trong số những người trên 25 tuổi [18].


9

9
1.2.3. Tình hình quản lý THA trên thế giới và Việt Nam
1.2.3.1. Tình hình quản lý THA trên thế giới

THA ở người trên 25 tuổi là 25,1%. Trong đó số người được điều trị vẫn rất
thấp chiếm 34,2% và tỷ lệ kiểm soát tốt chỉ chiếm 11% [18].
Năm 1994 - 1998 Phạm Tử Dương và cộng sự nghiên cứu quản lý 219
bệnh nhân THA. Kết thúc nghiên cứu nhận thấy nhóm quản lý và điều trị có
tỷ lệ TBMN chỉ là 5,4% không có ca tử vong trong khi đó nhóm không quản
lý và điều trị tỷ lệ tử vong lên tới 12,5% và có 2 ca tử vong. Sự khác biệt giữa
tỷ lệ tử vong và tai biến là có ý nghĩa. Đồng thời nghiên cứu này cũng cho
thấy tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở nhóm quản lý, điều trị cao hơn hẳn [22].
Năm 2006, Nguyễn Lân Việt và cộng sự nghiên cứu trên 580 người
THA trên 25 tuổi tại cộng đồng Hà Nội bằng các hình thức tư vấn, sinh hoạt
câu lạc bộ, phát tài liệu, cấp phát thuốc miễn phí. Sau 1 năm nghiên cứu can
thiệp cho kết quả thay đổi hiểu biết về bệnh THA và các bệnh lý liên quan
tăng từ 77,4 lên tới 85,7%, biết về bệnh lý tim mạch tăng từ 59,1 lên 71,6%.
Các đối tượng cùng tăng tỷ lệ biết đo huyết áp theo dõi thường xuyên từ 81
lên 82,5%, kiểm soát được huyết áp là 87,4% [23].
Từ năm 2008 đến 2010 Đồng Văn Thành đã tiến hành nghiên cứu trên
316 bệnh nhân tại đơn vị quản lý điều trị THA khoa Khám bệnh bệnh viện
Bạch Mai. Số bệnh nhân này được đưa vào mô hình quản lý chặt chẽ, điều trị
thường xuyên, tư vấn, liên lạc thường xuyên giữa thầy thuốc và bệnh nhân.
Kết quả cho thấy tỷ lệ quản lý tốt là 81,2% cao hơn hẳn so với nhóm điều trị
thông thường. Sau 18 tháng theo dõi tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở nhóm điều
trị theo mô hình quản lý là 79,7% so với tỷ lệ 18,4% ở nhóm điều trị thông
thường [24].


11

11
Từ năm 2010 chương trình phòng chống bệnh THA quốc gia được khởi
động, nhưng chương trình chỉ tập trung vào công tác giáo dục truyền thông về

Jousilahti và đồng sự nghiên cứu trên 14.786 người cả nam và nữ tuổi từ 25 64 tại Phần Lan, theo dõi trong nhiều năm đã đưa ra một tỷ lệ mắc bệnh tim
mạch ở nam giới gấp 3 lần nữ và tỷ lệ tử vong ở nam gấp 5 lần nữ [25].
Tuy nhiên, sự khác biệt biến mất sau khi phụ nữ mãn kinh. Khi đó, tỷ lệ
phụ nữ mắc bệnh tim và cơn đau tim cũng giống như ở nam giới. Ở Mỹ, bệnh
tim mạch là nguyên nhân số 1 gây ra tử vong ở nữ cũng như nam giới.
1.3.1.3. Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm.
Nếu thế hệ thứ nhất (bố, mẹ, anh, chị, em ruột) mắc bệnh tim mạch sớm
(nam trước 55 tuổi, nữ trước 65 tuổi) thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch gia tăng
đáng kể. Theo WHF (World Heart Federation) nếu cả hai bố mẹ bị bệnh tim
mạch trước 55 tuổi, thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch có thể tăng 50% so với
dân số chung. Tuy nhiên, những cá thể đó có thể tự bảo vệ bằng cách chăm
sóc trái tim của mình, vì bệnh tim mạch liên quan với nhiều yếu tố chứ không
chỉ riêng tiền sử gia đình.
Khả năng bị đột quỵ tăng lên nếu thế hệ thứ nhất bị đột quỵ. Nhiều
nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ đột quỵ ở một người phụ nữ tăng lên nếu mẹ
bị đột quỵ.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự liên quan của yếu tố di truyền với tăng huyết
áp và rối loạn lipid máu, hai yếu tố nguy cơ quan trọng cho bệnh tim mạch.
Một trong những bệnh lý di truyền là tăng cholesterol máu gọi là tăng
cholesterol máu mang tính chất gia đình. Nếu một người được thừa hưởng đặc
tính này họ sẽ có sự tăng sinh LDL- Cholesterol và nó là nguyên nhân dẫn
đến bệnh mạch vành.


13

13
Đái tháo đường týp 2, một yếu tố nguy cơ tim mạch khác, cũng mang
yếu tố di truyền. Vì nếu một người có bố hoặc mẹ bị đái tháo đường týp 2 thì
người đó có nguy cơ cao mắc bệnh này.

kiện hình thành cục máu đông dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ nếu
mạch máu ở đó bị tắc.
Áp lực trong động mạch tăng lên làm cho quả tim phải làm việc nhiều
hơn. Cũng như bất kì bộ phận nào khác trong cơ thể, quá trình này sẽ dẫn đến
quả tim giãn ra để đáp ứng với sự quá tải. Quả tim càng giãn ra thì nhu cầu
oxy càng tăng lên, tuy nhiên khả năng đáp ứng có hạn. Kết quả là sự mệt mỏi
khi gắng sức thể lực. Nếu không được điều trị hợp lý, suy tim sẽ càng ngày
càng nặng hơn.
Huyết áp tăng cao kéo dài cũng làm hủy hoại thận do ảnh hưởng đến
dòng máu tới thận và mạch máu thận. Huyết áp cao gây co nhỏ mạch máu
võng mạc. Tình trạng này được gọi là bệnh võng mạc có thể gây mù.
Wenyu Wang và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 4.549 người Mỹ gốc
Ấn tuổi từ 45 đến 74, đối tượng được theo dõi từ năm 1989 đến năm 1999.
Phân tích từ dữ liệu thu được cho thấy những người bị tăng huyết áp được
kiểm soát và chưa kiểm soát nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng lên lần lượt
2,19 và 2,77 lần [28].
Từ năm 1997 đến 2002 Shannon M. Dunlay và cộng sự tiến hành nghiên
cứu trên 962 bệnh nhân được chẩn đoán suy tim. Các dữ liệu thu thập được về
các yếu tố nguy cơ của suy tim so với nhóm chứng đã cho thấy, trong các
nguy cơ gây ra suy tim, tăng huyết áp chiếm tới 66%. So sánh với người
huyết áp bình thường, tăng huyết áp có nguy cơ suy tim gấp 1,44 lần [29].


15

15
1.3.2.3. Đái tháo đường
Theo WHF, một người mắc bệnh đái tháo đường typ 2 sẽ có nguy cơ
mắc bệnh tim mạch gấp 2 đến 4 lần người không mắc bệnh đái tháo đường.
Bệnh tim mạch là nguy cơ tử vong hàng đầu ở người mắc đái tháo đường.

dễ bị bỏ qua. Phụ nữ tiền mãn kinh mắc bệnh đái tháo đường dễ bị bệnh tim
mạch hơn do bị phá hủy cơ chế bảo vệ của estrogen.
Nghiên cứu Framingham theo dõi trên đối tượng 5.209 người cả nam và
nữ tuổi từ 30 - 62 trong thời gian 25 năm cho thấy ở nam giới nguy cơ mắc
bệnh tim mạch ở người đái tháo đường cao gấp 2 lần người không bị đái tháo
đường, ở nữ nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở người đái tháo đường cao gấp 3
lần [35].
1.3.2.4. Rối loạn lipid máu
Được gọi là rối loạn lipid máu khi có rối loạn một hoặc nhiều thành
phẩn sau: tăng cholesterol toàn phần, tăng triglycerid, tăng LDL-C, giảm
HDL-C, giảm apoprotein AI, tăng apoprotein B [36].
Rối loạn lipid máu ngày càng được chứng minh có vai trò quan trọng
trong sinh bệnh học bệnh lý mạch não, mạch vành. Năm 2002 tổ chức Y tế
thế giới báo cáo rằng rối loạn lipid máu liên quan với hơn một nửa số bệnh
nhân bị bệnh mạch vành. Rối loạn lipid máu là một trong bốn nguy cơ chính
của bệnh mạch vành bên cạnh hút thuốc lá, đái tháo đường và tăng huyết áp
(Verschuren WM et al, 1995).
Năm 2010 Khader và cộng sự nghiên cứu trên 1.121 đối tượng ở Jordan
đã báo cáo tỷ lệ rối loạn lipid là 75,7%, ở nam giới tỷ lệ tăng triglyceride cao
hơn ở nữ.
Phạm Nguyễn Sơn và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu 144 bệnh nhân
THA tại Khoa A2 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy 37,2% có
tăng cholesterol máu; 25% tăng triglycerid máu; 33,6% có giảm HDL-C [37].


17

17
Năm 1998, Nguyễn Thị Dung tiến hành nghiên cứu 1160 bệnh nhân
THA tại Bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng có kết quả như sau:

Gus, Moreira và cộng sự (Brazil - 1998) nghiên cứu sự liên quan giữa
BMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỷ lệ THA trong một mẫu đại diện 1.088


18

18
người trưởng thành ở Porto Alegre - Brazil. Kết quả nghiên cứu trên cho thấy:
béo phì tính theo BMI có sự liên quan với THA ở cả hai giới (RR 1,9; CI 1,0 3,2 ở nam, RR 2,2; CI 1,3 - 3,8 ở nữ) [23].
Mac Mahon và cộng sự thấy rằng giảm chỉ 8 kg cân nặng ở những người
béo phì nhẹ có liên quan với giảm đáng kể chỉ số khối cơ thất trái và phì đại
thất trái. Alpert và cộng sự chứng minh rằng phân độ cơ năng cho bệnh nhân
suy tim NYHA cải thiện ở 12 trong 14 bệnh nhân giảm > 30% cân nặng sau
cắt dạ dày và mức giảm trung bình > 1 độ NYHA [39].
Trong nghiên cứu Framingham Heart Study trên 5.881 đối tượng theo
dõi trên 14 năm cho thấy mỗi sự gia tăng 1 đơn vị BMI sẽ làm tăng tỷ lệ suy
tim 5% ở nam giới và 7% ở nữ, cứ tăng một phân độ béo phì sẽ làm gia tăng
43% nguy cơ suy tim [39].
1.3.2.6. Lười vận động.
Quá trình đô thị hóa và cơ khí hóa trên toàn thế giới đã làm giảm mức
vận động của con người. Tổ chức Y tế thế giới tin rằng trên 60% dân số thế
giới không vận động tích cực.
Lối sống tĩnh tại được coi là nguy cơ của các nguy cơ tim mạch. Việc
vận động đều đặn ít nhất 30 phút mỗi ngày đem lại lợi ích rõ rệt trong việc
giảm các nguy cơ tim mạch. Người ta đã chứng minh việc luyện tập thể lực
thường xuyên sẽ làm giảm nguy cơ xuất hiện nhồi máu cơ tim đồng thời làm
nâng cao khả năng sống sót khi bị nhồi máu cơ tim. Tập luyện thường xuyên
cũng tác động tích cực tới các yếu tố nguy cơ khác. Lợi ích của việc luyện tập
là giảm cân nặng, tăng khả năng dung nạp với glucose, tăng sức mạnh cơ tim,
giảm rối loạn lipid máu….

rượu [42]. Nghiên cứu COMBINE, một nghiên cứu đa trung tâm trên 1.383
người nghiện rượu đưa ra kết quả ở những người có huyết áp cao, khi được
điều trị nghiện rượu huyết áp tâm thu giảm trung bình 12mmHg và huyết áp


20

20
tâm trương giảm trung bình 8mmHg. Huyết áp bắt đầu giảm từ tháng đầu tiên
điều trị. Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng điều trị nghiện rượu nên được
xem xét là một trong những biện pháp chính trong điều trị THA [43].
Một số lượng lớn nghiên cứu đã chứng minh một đường cong J liên
quan giữa lượng rượu tiêu thụ và tỷ lệ tử vong chung. Mối liên quan này xảy
ra ở cả nam và nữ tuổi trung niên trở lên. Tỷ lệ tử vong thấp nhất ở những
người tiêu thụ 1 đến 2 đơn vị uống mỗi ngày. Ở những người không uống
hoặc hiếm khi uống tỷ lệ này cao hơn. Những người uống từ 3 đơn vị trở lên
tỷ lệ tử vong tăng lên nhanh theo mức độ tiêu thụ rượu [41].
1.3.3. Một số nguy cơ có thể
-

Căng thẳng
Tăng đông máu
Rối loạn các thành phần Apo Protein máu
Hói sớm đỉnh đầu
Mãn kinh sớm…
1.4. ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
Nguyên tắc điều trị [7], [10], [44]:
- Thay đổi lối sống.
- Loại trừ yếu tố nguy cơ (yếu tố có thể thay đổi được).
- Dùng thuốc đơn độc hoặc phối hợp.

- Các tác dụng phụ của thuốc.
* Chọn lựa thuốc đầu tiên: tuỳ theo tình trạng của bệnh nhân có các chỉ
định thuốc bắt buộc hay thuốc ưu tiên hay không.
* Các thuốc điều trị THA:


22

22
- Thuốc lợi tiểu:
Lợi tiểu nên phối hợp liều nhỏ với các thuốc hạ HA khác.
Thuốc lợi tiểu nhóm thiazid hoặc tương tự thiazid
Thuốc lợi tiểu thiazid/tương tự thiazid có thể gây giảm kali máu, suy
giảm dung nạp glucose (nặng hơn khi dùng kèm thuốc chẹn bêta), tăng nhẹ
LDL- cholesterol máu, triglycerid và urat đồng thời gây loạn dương cương.
Thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali (amilorid, triamteren, spironolacton): có hai
vai trò chính trong điều trị THA:
+ Có thể phối hợp thuốc này ở bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu
thiazid/tương tự thiazid nhàm hạn chế mất kali.
+ Spironolacton đóng vai trò quan trọng trong hạ HA ngày càng có
nhiều bệnh nhân THA kháng trị do cường aldosteron.
Thuốc lợi tiểu quai: không có vai trò nhiều trong THA (trừ trường hợp
suy thận và/hoặc suy tim) bao gồm furosemid, ethacrynic acid, bumetanide...
- Thuốc chẹn β:

+ Thuốc chẹn β có tác dụng với thiếu máu cục bộ tim, chống loạn nhịp
tim và giảm đột tử sau nhồi máu cơ tim (NMCT).
+ Thuốc chẹn β khác nhau về thời gian tác dụng, tính chọn lọc trên thụ
thể β1, tính hướng mỡ và hoạt tính đồng vận một phần. Tác dụng bất lợi là
ngủ gà, đau cơ chân khi vận động, giảm trí nhớ, loạn dương cương, mộng mị

+ Gốc sulfurhydryl: alacepril, altiopril, zofenopril.
+ Gốc carbosyl: bezanepril, cilazapril, perindopril, quinapril, ramipril,
delapril, spirapril.
+ Gốc phosphoryl: iosinopril, SQ 29852.
Tác dụng bất lợi là ho khan dai dẳng 10 - 20% và 1% bị phù mạch.
Tránh dùng thuốc ở phụ nữ có thai do nguy cơ phát triển thận thai nhi bất
thường. Không dùng thuốc ở bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên do làm
tình trạng suy thận nặng lên.
- Thuốc ức chế thụ thể angiotensin:


24

24
+ Những thuốc này chẹn thụ thể angiotensin II typ 1 (ATI), dẫn đến giãn
mạch và hạ HA. Losartan là thuốc ức chế chọn lọc trên ATI được sử dụng rộng
rãi tại Mỹ từ năm 1995, các thuốc khác trong nhóm này là valsartan, irbesartan...
tác dụng hạ HA tương tự thuốc ƯCMC.
+ So với ƯCMC thuốc không có tác dụng tăng bradykinin nhưng tác
dụng hạ HA tương tự và không gây ho như ƯCMC. Giống như thuốc ƯCMC,
chúng tác động lên angiotensin II ở thận. Khi dùng thuốc này cần thận trọng và
chống chỉ định như thuốc nhóm ƯCMC.
- Thuốc chẹn thụ thể alpha:
+ Thuốc chẹn thụ thể alpha như prazosin tác dụng ngắn, chẹn hoạt hóa
thụ thể giao cảm alpha - 1 ở mạch máu, gây giãn mạch nhưng cũng gây hạ
HA tư thế nhiều. Những thuốc tác dụng dài hơn như doxazosin và terazosin ít
gây rắc rối này. Thuốc có tác dụng khác là làm giảm triệu chứng phì đại tiền
liệt tuyến.
- Các thuốc liệt giao cảm và các thuốc ức chế thần kinh trung ương:
+ Nhóm tác động trên đồng vận giao cảm alpha trung ương:

ức chế trực tiếp renin đường uống đầu tiên, làm giảm angiotensin I,
angiotensin II và PRA .
+ Thuốc ức chế neutral endopeptidase: có tác dụng hỗ trợ giãn mạch và
lợi tiểu nguồn gốc tâm nhĩ đó là EC 342411, cũng có tác dụng ức chế men
chuyển và đặc biệt có ích cho bệnh nhân THA có suy tim.
+ Các thuốc khác như:
Katenserin ức chế thụ thể serotonin và chẹn thụ thể alpha 1 adrenalin do
vậy làm hạ HA.
+ Đồng vận dopamin gồm carmoxirole ức chế giải phóng noradrenalin,
fenoldoman giãn mạch thận và dihydroergotoxin.
+ Thuốc mở kênh kali gồm pinacidil, nicorandil, cromakalim gây giãn
mạch do mở kênh kali và tăng dòng kali từ cơ trơn thành mạch.
+ Đối kháng thụ thể endothelin.
+ Đối kháng thụ thể vasopressin.


Trích đoạn Số lượng yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích và phân tầng nguy cơ Kết quả kiểm soát lipid máu Ảnh hường của tuổi, giới đến kiểm soát huyết áp Ảnh hưởng của thừa cân béo phì đến kiểm soát huyết áp Ảnh hưởng của ĐTĐ và RLLP đến kiểm soát huyết áp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status