1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã những chuyển từ cơ
chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường đồng thời với chính sách mở cửa
của Nhà nước đã làm cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Tất cả các
ngành nghề đã có những biện pháp, có những sự chuyển mình cùng với
những đường lối đúng đắn để phù hợp với sự phát triển, sự tiến bộ của xã hội
và từ đó tăng năng suất lao động cũng như nâng cao thu nhập cho bản thân,
cho đất nước. Cơ chế thị trường cũng buộc các doanh nghiệp phải tự mình
kinh doanh có lãi. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tự trả lời các câu hỏi như:
sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Và mục tiêu là phải
tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện trang trải mọi chi phí và tái sản xuất ra sao?
Đó là những gì cần đặt ra cho mỗi doanh nghiệp. Có như vậy mỗi doanh
nghiệp mới tạo cho mình chỗ đứng nhất định trên thị trường.
Là một sinh viên sau gần bốn năm học tập ở trường Đại học Kinh Tế
Quốc Dân, em đã nhận thức được rất nhiều kiến thức về ngành học của mình
thông qua lời dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo. Đặc biệt, qua đợt thực tập
mà nhà trường đã tổ chức cho mỗi khoá sinh viên trước khi ra trường, em đã
được trải nghiệm thực tiễn với kiến thức của mình và bước đầu đã mang lại
cho em những kinh nghiệm dù còn ít ỏi song cũng có vai trò không nhỏ trong
công việc sau này của bản thân.
Từ ý định tìm hiểu cặn kẽ một doanh nghiệp kinh doanh có lãi ra sao,
một doanh nghiệp có vị trí, có chỗ đứng nhất định trên thị trường như thế nào,
em đã chọn công tu TNHH đầu tư và xây dựng Thành Tú là điểm đến của
mình. Ở đây, em đã được quan sát mọi hoạt động của công ty và được vận
dụng kiến thức đã học vào một phần công việc của công ty. Trong quá trình
thực tập đã được thầy giáo Nguyễn Hữu Đồng hướng dẫn chỉ bảo tận tình
2
cùng với sự giúp đỡ của những người trong phòng kế toán, em đã hoàn thành
bản báo cáo thực tập tổng hợp này.
đứng và niềm tin nơi khách hàng.
Với bản thống kê báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty do
phòng kế toán cung cấp đã chứng minh cho những điều nói trên:
4
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
Đơn vị: 1.000đ
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch %
1. Doanh thu thuần 13.767.446.620 41.288.558.538 27.521.111.918 199,89
2. Giá vốn hàng bán 13.002.181.051 40.088.601.087 27.086.420.036 208,32
3. Chi phí quản lý kinh
doanh
304.985.353 435.637.194 130.651.841 42,84
4. Chi phí tài chính 169.863.238 321.500.000 151.636.762 89,27
5. Lợi nhuận thuần từ
hoạt động kinh doanh
209.416.978 442.820.257 152.403.279 52,45
6. Thu nhập khác 1.421.675 3.665.779 2.244.104 157,85
7. Chi phí khác
8. Lợi nhuận trước thuế 291.838.653 446.486.036 154.647.383 52,99
9. Thuế thu nhập doanh
nghiệp phải nộp
81.714.823 125.016.090 43.301.267 52,99
10. Lợi nhuận sau thuế 210.123.830 321.469.946 11.346.116 52,99
Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của hai năm vừa qua,
Công ty đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra là kết quả năm nay cao hơn
năm trước. Cụ thể là:
Về doanh thu:
Doanh thu của công ty năm 2007 so với năm 2006 đã tăng lên hơn 27 tỷ
đồng, với số tương đối tăng lên là 199,89%. Cả về số tuyệt đối và số tương
- Môi giới, mua bán nhà đất, cho thuê nhà;
- Kinh doanh khách sạn, du lịch lữ hành nội địa và quốc tế;
- Buôn bán vật liệu xây dựng, thép xây dựng;
6
- Dịch vụ bốc xếp và vận chuyển hàng hoá.
2. Đặc điểm về tổ chức quản lý của công ty:
2.1. Chức năng và nhiệm vụ của công ty:
a. Chức năng của công ty:
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là lợi nhuận, sản phẩm chủ
yếu của công ty là cấu kiện bằng thép và bê tông cốt thép nhằm cung cấp cho
các ngành xây dựng và các ngành nghề khác có nhu cầu.
b. Nhiệm vụ và quyền hạn của công ty:
Công ty đã đóng góp vào sự phát triển của ngành xây dựng và nền kinh
tế quốc dân. Đồng thời tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần
làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm các tỷ lệ tệ nạn xã hội và góp phần bình ổn
xã hội.
Sản xuất và gia công các vật tư thiết bị, bê tông cốt thép phục vụ cho
ngành xây dựng.
Kinh doanh khách sạn, du lịch lữ hành nội địa và quốc tế...
7
2.3. Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực lao động:
a. Về cơ sở vật chất:
Với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình, công ty đã trang bị nhiều
thiết bị kỹ thuật khác nhau. Đại đa số các thiết bị thuộc thế hệ tương đối mới
từ năm 2003 – 2004 và được nhập từ nhiều nước công nghiệp như: Nhật Bản,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức, Nga; trong đó chủ yếu là máy móc từ Nga và
Nhật Bản.
Nga
Nga
10
02
02
01
15kw – 280A
24kw – 500A
Máy hàn điểm
Tổ hợp máy hàn
9 Máy uồn sắt Đức
Φ
6 – 40
10 Máy cắt sẳt Nhật Bản
Φ
40
11 Máy khoan bê tong Nhật Bản
12 Máy gia công gỗ 16 1,15 – 15kw
13 Máy phun sơn Nga 35
14 Cổp pha tôn 1000m
2
Với các thiết bị thi công này, công ty đã thực hiện được nhiều công
trình như: Nhà luyện tập & thi đấu thể thao thị xã Cửa Lò - Nghệ An; Cục
điện ảnh – 147 Hoàng Hoa Thám – Hà Nội; trường ĐH kinh tế và quản trị
kinh doanh ĐH Thái Nguyên; trường mầm non Bình Minh – Hoàng Mai – Hà
Nội; khu đô thị mới Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội …
b. Về nguồn lực lao động:
Cơ cấu lao động trong công ty năm 2007 bao gồm các bộ phận sau:
9
1
2
3
2
1
2 Cao đẳng
- Cao đẳng xây
dựng.
- Cao đẳng tài
chính kế toán
5
3
2
4
2
2
1
1
Đối với công nhân kỹ thuật:
TT Công nhân theo nghề số lượng Bậc 4/7 Bậc 5/7 Bậc 6/7 Bậc 7/7
1 Thợ máy xây dựng 4 2 2
2 Thợ mộc xây dựng 8 4 2 2
3 Thợ nề, bê tông 12 6 3 2 1
10
4 Thợ cơ khí 10 3 4 2 1
5 Thợ điện 6 1 3 2
6 Thợ sơn vối 6 3 3
7 Thợ hàn 4 2 1 1
8 Thợ nước 4 2 1 1
Phòng tài chính - kế toán: Có chức năng trong việc lập kế hoạch sử
dụng và quản lý nguồn tài chính của công ty, phân tích các chỉ tiêu kinh tế
nhằm bảo toàn vốn của công ty đồng thời giúp cho ban giám đốc đưa ra quyết
định kinh doanh hợp lý. Phòng tài chính kế toán là nơi tập hợp chứng từ và
các sổ sách kế toán, tiến hành nhập và xuất vật tư, tổ chức công tác hạch toán
kế toán theo đúng chế độ kế toán thống kê và chế độ quản lý tài chính của
Nhà nước. Thực hiện công tác thanh quyết toán các chi phí cho hoạt động
kinh doanh của công ty.
Phòng kỹ thuật tổng hợp: Hỗ trợ cho bộ phận quản lý kỹ thuật công
trình những giải pháp kỹ thuật phức tạp, đôn đốc việc thực hiện tiến độ thi
công và chất lượng công trình.
Các đội xây dựng: bao gồm các bộ phận: Bộ phận quản lý kỹ thuật –
an toàn lao động; bộ phận quản lý hành chính kinh tế; bộ phận quản lý giám
sát thi công; bộ phận kế hoạch và cung ứng vật tư;các tổ đội thi công xây lắp.
Bộ phận quản lý kỹ thuật – an toàn lao động: có chức năng
hướng dẫn cho công nhân các biện pháp an toàn lao động, kiểm tra, nhắc nhở
cho công nhân trong việc thực hiện các quy định về an toàn khi thi công điện,
gián giáo, phòng tránh cháy nổ, tai nạn lao động. Đồng thời giải quyết các vấn
đề liên quan đến công trình, tổ chức thi công đạt yêu cầu kỹ thuật theo đúng
hồ sơ thiết kế.
Bộ phận quản lý hành chính – kinh tế: có nhiệm vụ tổ chức nơi
ăn, nơi ở cho công nhân. Theo dõi, thống kê, cập nhật các chứng từ ban đầu
và điều hành khối lượng công việc và khối lượng thanh toán theo đúng tiến độ
thi công.
Bộ phận giám sát thi công: Có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo cho
công nhân thi công theo đúng thiết kế và các yêu cầu kỹ thuật chất lượng và