BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN HOÀNG LONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN TRẢNG BOM,
TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nghệ An - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN HOÀNG LONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN TRẢNG BOM,
TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Nam 2011 – 2020 đã đánh giá ngành Giáo dục Đào tạo của nước nhà vẫn tồn tại
nhiều yếu kém, bất cập, từ việc xác định quan điểm và mục tiêu Giáo dục Đào
tạo (GD-ĐT), xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, chất lượng GDĐT ở cả phổ thông và đại học đều thấp. Nội dung chương trình quá tải, sách
giáo khoa có nhiều mặt lạc hậu; cách dạy và học nặng về nhồi nhét kiến thức
một cách thụ động, thiếu kết hợp học với hành, GD-ĐT với thực tiễn kinh tế, sản
xuất và đời sống; …Học sinh, sinh viên kém năng lực chủ động, sáng tạo, kém
khả năng thực hành, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước trong
tình hình mới…Ngoài những hạn chế trên thì còn có một hạn chế cơ bản là chất
lượng đội ngũ thầy giáo, hệ thống tổ chức cho đến công tác quản lý của đội ngũ
CBQL các trường học.
Hạn chế của Cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) hiện nay là thiếu tri
thức về quản lý giáo dục, về quản lý nhà trường. Sự thiếu hụt về tri thức và
phương pháp lãnh đạo của đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) đang được sự quan
tâm chung của lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp.
Trảng Bom là một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, nằm về phía đông
của Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km và cách trung tâm thành phố Biên
Hòa khoảng 30 km. Là một huyện trung du, phía nam giáp huyện Long Thành,
phía đông giáp huyện Thống Nhất, phía tây giáp thành phố Biên Hòa, phía bắc
giáp huyện Vĩnh Cửu và hồ Trị An. Huyện mới được thành lập năm 2004, trên
cơ sở điều chỉnh ranh giới huyện Thống Nhất (cũ). Thời gian qua, sự phát triển
công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom có một vị trí quan trọng trong sự
nghiệp phát triển công nghiệp hàng đầu của tỉnh Đồng Nai. Dân cư đến sinh
sống từ khắp mọi miền đất nước tăng rất nhanh. Vì vậy kéo theo quy mô ngành
giáo dục hiện cũng phát triển rất nhanh, nhất là về số lượng học sinh ở bậc Tiểu
học.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Tiểu học của huyện Trảng Bom hầu hết
cũng từ các vùng miền trên cả nước về sinh sống và công tác, trình độ đào tạo từ
nhiều nguồn khác nhau cho nên chất lượng đội ngũ không đồng bộ. Trong
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội
ngũ CBQL trường Tiểu học huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
trường Tiểu học huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây
dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có
các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê, tính tỷ lệ %, để xử lý số liệu thu được.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
giáo dục nói chung, CBQL trường Tiểu học nói riêng.
7.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng đội ngũ CBQL trường Tiểu học huyện Trảng Bom,
tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
học. Ông cũng khẳng định những thành công hay thất bại qua kinh nghiệm thực
tiễn làm công tác quản lý của một Hiệu trưởng. Cùng với nhiều tác giả khác ông
đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất quản lý
giữa Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề QLGD, QL
nhà trường, đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục. Có thể kể đến: “Một số vấn đề
về giáo dục và khoa học giáo dục, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1986”. (Phạm
Minh Hạc) [22] ; “Chiến lược giáo dục và đào tạo hiệu trưởng trường Tiểu học,
nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 1988” (Đặng Quốc Bảo) [2]; “Đại
cương về khoa học quản lý, Trường CBQLGD-ĐT TW1, Hà Nội 1996” (Nguyễn
Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc) [12]; “Khoa học quản lý trường phổ thông, nhà
xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội, 2002” (Trần Kiểm) [26]; “Giáo dục học đại
cương, 1999” (Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê).v.v... Ngoài ra còn có dự
án Hỗ trợ Đổi mới Quản lý Giáo dục (SREM) là một Dự án do Bộ Giáo dục và
Đào tạo (MOET) thực hiện với sự hỗ trợ của Ủy ban Châu Âu. Dự án này được
triển khai tới tháng 4 năm 2010. Mục đích chính của SREM là tăng cường năng
lực quản lý ở các cấp trong hệ thống quản lý giáo dục.
Riêng về lĩnh vực nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ CBQL cũng đã có một số tác giả của Trường Đại học Vinh quan tâm nghiên
cứu như PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi, PGS.TS Phạm Minh Hùng, PGS.TS Thái
Văn Thành..., các tác giả đều nêu lên các giải pháp chung của việc nâng cao chất
lượng đội ngũ CBQL đó là: Đổi mới công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn
nhiệm, sử dụng, luân chuyển cán bộ; Đổi mới công tác quy hoạch CBQL; Đổi
mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL; Hoàn thiện chính sách đối với CBQL;
Hoàn thiện quy trình đánh giá CBQL; Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ
Đảng đối với CBQL. Từ những giải pháp chung, các tác giả đã nhấn mạnh vai
trò quản lý của người CBQL trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Bởi do tính
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Cán bộ là người giữ chức vụ trong các cơ
quan nhà nước” [27, tr.125]. Có khái niệm khác, thì “ Cán bộ là nhân viên chỉ
huy của một ngành chuyên môn nào đó” [11, tr.85] hoặc “Cán bộ là người làm
công tác nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan Nhà nước” [43, tr.75].
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu một cách chung là: Cán bộ là những
người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định thuộc biên
chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước (cơ
quan dân cử, cơ quan hành chính)
Ngoài ra, Cán bộ cũng là danh xưng thường được những người dân chỉ về
những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý,
cán bộ nguồn...), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân (cán bộ
thuộc dịch vụ công cộng).
1.2.1.2. Cán bộ quản lý
Tuy có nhiều cách hiểu, cách dùng khác nhau trong các trường hợp, các
lĩnh vực khác nhau về CBQL, song các cách hiểu đều có các điểm chung và đều
bao hàm ý nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy. Như vậy, có
thể khái niệm một cách chung nhất: Cán bộ quản lý là chỉ những người có chức
vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng
đến hoạt động của một tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý,
điều hành, góp phần định hướng cho sự phát triển của tổ chức.
Khái niệm cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo là hai khái niệm gắn liền với
nhau, đều được hiểu là những người có chức vụ, có trách nhiệm điều hành và
cầm đầu trong một tổ chức. Cả hai đều có vai trò định hướng, điều khiển hoạt
động của bộ máy và là chủ thể ra quyết định điều khiển hoạt động của một tổ
chức. Người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện chức năng lãnh đạo, đồng thời cũng
phải thực hiện chức năng của người quản lý. Tuy nhiên hai khái niệm trên không
hoàn toàn đồng nhất với nhau.
- Quản lý bao gồm việc tổ chức các nguồn lực, việc kế hoạch hoá, việc tạo
Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng
rãi như: Đội ngũ tri thức, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ nhà giáo...
Các khái niệm đó đều xuất phát theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó
là gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng, hàng ngũ chỉch tề. Có thể
hiểu đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung mục đích, lý
tưởng, ràng buộc nhau về mặt vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên
tắc.
Như vậy tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng các định nghĩa
đều nêu rõ đội ngũ: Là một khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một
lực lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp
hoặc không nhưng cùng chung một mục đích và cùng hướng tới mục đích đó.
Khi xem xét và đánh giá về đội ngũ người ta tập trung chú ý tới 3 yếu tố
đó là: số lượng đội ngũ; cơ cấu đội ngũ (chuyên môn, giới tính, độ tuổi, trình độ
đội ngũ) và chất lượng đội ngũ (phẩm chất và năng lực).
1.2.2.2. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Trong nội tại ngành giáo dục và đào tạo có thể hiểu: CBQLGD là những
người có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức thuộc hệ
thống giáo dục. Người CBQLGD có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn
lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức giáo dục, để
tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt mục tiêu đề ra.
Đội ngũ CBQLGD là một bộ phận rất quan trọng trong một tập thể sư
phạm. Đội ngũ CBQL trong một nhà trường là lực lượng chủ yếu để tổ chức,
điều hành quá trình giáo dục trong nhà trường. Chất lượng đào tạo của một nhà
trường cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào sự điều hành, chỉ đạo của đội ngũ
CBQL.
1.2.2.3. Đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học
Đội ngũ CBQL trường Tiểu học là những người đại diện cho Nhà nước về
mặt pháp lý, có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính, chuyên môn
Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn
trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;
c) Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng,
thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo
quy định;
d) Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài
chính, tài sản của nhà trường;
e) Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp
nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê
duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức
kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình Tiểu học cho học sinh trong
nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
g) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý;
tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp
và các chính sách ưu đãi theo quy định;
h) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức
Chính trị - Xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
i) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực
lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường
đối với cộng đồng....
b. Phó hiệu trưởng
1. Phó hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm
trước Hiệu trưởng, do Trưởng Phòng Giáo dục Đào tạo và đào tạo bổ nhiệm đối
với trường công lập, công nhận đối với trường tư thục theo quy trình bổ nhiệm
hoặc công nhận Phó hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền. Mỗi trường Tiểu học có
từ 1 đến 2 Phó hiệu trưởng, trường hợp đặc biệt có thể được bổ nhiệm hoặc công
nhận thêm.
nên bản chất của sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [43, tr.108].
Trong kỹ thuật đánh giá đo lường, có nhiều khái niệm khác như:
- Theo tiêu chuẩn Pháp - NFX 50-109, chất lượng là “tiềm năng của một
sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” [24].
- Theo Oxford Pocket Dictionary, chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc
trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông
số cơ bản” [24].
- Theo ISO 9000- 2000, chất lượng là “mức độ đáp ứng các yêu cầu của
một tập hợp các đặc tính vốn có” [24].
- Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu, có một định nghĩa về chất lượng tỏ ra
có ý nghĩa đối với việc xác định chất lượng giáo dục và cả việc đánh giá nó, đó
là: Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu [24].
Từ những khái niệm trên có thể có thể khái quát: Chất lượng là cái phản
ánh bản chất của sự vật, là tiêu chuẩn, thước đo phản ánh mức độ đạt được của
sự vật.
Từ đây có thể vận dụng các quan điểm này vào việc đánh giá chất lượng
cán bộ nói chung và đội ngũ CBQL trường Tiểu học nói riêng thì cần phải so
sánh kết quả hoạt động của cán bộ đó với các chuẩn quy định hay những mục
tiêu của các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của họ.
1.2.3.2. Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học
Từ các khái niệm về chất lượng đã nêu trên cùng với khái niệm về đội ngũ
CBQL trường Tiểu học, ta có thể hiểu như sau:
- Chất lượng của người CBQL chính là phẩm chất nhân cách và năng lực
nghề nghiệp của họ, chứ không chỉ đơn thuần là sự phù hợp với mục tiêu.
- Còn chất lượng đội ngũ CBQL trường Tiểu học (khối đông người)
không chỉ bao hàm cả chất lượng của người CBQL và cả các yếu tố được cấu
thành như sau:
+ Số lượng đội ngũ CBQL trường Tiểu học: Số lượng các Hiệu trưởng và
pháp càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết
những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, để có được những giải pháp khả thi và hiệu quả,
cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn.
1.4.4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường
Tiểu học
Giải pháp nâng cao chất lượng là hệ thống các cách thức tổ chức, điều
khiển hoạt động của một nhóm (hay nhiều nhóm xã hội) cùng nhau thực hiện
những mục đích và nhiệm vụ chung. Nói cách khác Giải pháp nâng cao chất
lượng CBQL là những cách thức tác động hướng vào việc tạo ra những biến đổi
về chất lượng trong CBQL nhằm giúp CBQL đạt được mục đích tối ưu nhất
trong công tác quản lý.
Còn giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường TH thực chất là
đưa ra cách thức tổ chức, điều khiển để có hiệu quả hoạt động cao hơn của một
nhóm (CBQL) dựa trên bản chất, chức năng, yêu cầu nhiệm vụ của hoạt động
quản lý. Hoặc cũng có thể nói Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
trường Tiểu học là những cách thức tác động hướng vào việc tạo ra những biến
đổi về chất lượng trong đội ngũ CBQL trường Tiểu học.
1.3. Một số vấn đề về công tác quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý
trường Tiểu học
1.3.1. Vị trí, mục tiêu và nhiệm vụ của trường Tiểu học
1.3.1.1. Vị trí và mục tiêu của trường Tiểu học
Trong Điều lệ trường Tiểu học (điều 2) đã nêu rõ vị trí trường Tiểu học
trong hệ thống giáo dục quốc dân: Trường Tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông
của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu
riêng. [8].
Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên của hệ thống GD quốc dân. Đây là bậc
học nền tảng. Bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 10 tuổi.
Khẳng định vị trí và tầm quan trọng to lớn của trường Tiểu học trong hệ
bàn trường được phân công phụ trách.
- Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương.
- Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo
quy định của pháp luật.
- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện
hoạt động giáo dục.
- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia
các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Nội dung của công tác quản lý ở trường Tiểu học
Trong tài liệu Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường của tác giả Thái
Văn Thành [34] có đề cập các nội dung của công tác quản lý ở trường cụ thể
như sau:
1.3.2.1. Quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học được thể hiện trong khoản 2 điều 27 của
Luật giáo dục [33].
Muốn tổ chức thực hiện có kết quả mục tiêu giáo dục của nhà trường,
trước hết, Hiệu trưởng phải nắm vững mục tiêu giáo dục và những nhiệm vụ
chính của mình.
Muốn nắm vững mục tiêu, cần phải biết phương pháp tiếp cận mục tiêu.
Ngoài ra để chỉ đạo thực hiện mục tiêu đã nêu, người CBQL phải hiểu rõ nhiệm
vụ của mình như: Xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện; chỉ đạo xây
dựng các điều kiện giáo dục (con người, cơ sở vật chất, thiết bị...) để tiến hành
tốt các nhiệm vụ giáo dục...
1.3.2.2. Quản lý việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch của nhà trường
tâm. Đây là hoạt động đặc trưng nhất của nhà trường.
- Những nhiệm vụ của hoạt động dạy học: Làm cho học sinh nắm vững
tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kĩ năng, kỹ xảo cần
thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống; Phát triển trí tuệ của học
sinh, trước hết là phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, hình thành năng lực nhận
thức và hành động. Dạy học phải đi trước sự phát triển; Dạy kiến thức văn hóa
phải đi đôi với việc hình thành thế giới quan khoa học, giàu lòng yêu nước, yêu
XHCN, sống lành mạnh, Giàu lòng nhân ái, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất
nước.
- Quản lý hoạt động dạy của giáo viên như: Thực hiện chương trình dạy
học; Hiệu trưởng điều khiển hoạt động dạy học và học phải dựa vào nội dung
chương trình theo yêu cầu và hướng dẫn theo chương trình; Quản lý việc thực
hiện chương trình dạy học của giáo viên; quản lý việc soạn bài chuẩn bị lên lớp;
chỉ đạo việc tổ chức các chuyên đề về giờ lên lớp.
- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của từng học sinh: Hiệu trưởng cần
nắm được tình hình của giáo viên thực hiện sự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của học sinh.
- Quản lý toàn diện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên:
Tổ chức đánh giá, xếp loại chuyên môn nghiệp vụ của GV; Thực hiện sự sàng
lọc, điểu chuyển những Giáo viên không đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn
nghiệp vụ
- Quản lý hoạt động học của học sinh: Thông qua giáo viên, Hiệu trưởng
quản lý hoạt động học của học sinh. Hoạt động đó xảy ra ở lớp, ngoài lớp, ngoài
trường, ở gia đình và được thể hiện qua nhiều hình thức: học trên lớp. Thực
hành, lao động tự học ở nhà.
1.3.2.4. Quản lý hoạt động giáo dục
- Yêu cầu của việc thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục như: Đảm bảo
cho tất cả các trẻ em đến tuổi học đều đi học; Đảm bảo cho học sinh đi học đều,
lý tập thể giáo viên; Hoàn thiện cơ cấu và cơ chế hoạt động của tập thể; Xây
dựng các nền nếp của tập thể; Xây dựng quy hoạch cán bộ; Sắp xếp, sử dụng
giáo viên, cán bộ; Bồi dưỡng giáo viên
- Xây dựng tập thể học sinh gồm: Các loại hình tập thể trong trường phổ
thông: Tập thể học sinh toàn trường; Tập thể lớp; Tổ học tập; Các tổ chức đoàn
thể như: Đội thiếu niên, nhi đồng; Đoàn Thanh niên Hồ Chí Minh.
1.3.2.7. Quản lý việc thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục ở địa
phương
Nhà trường là thiết chế của xã hội, nhà trường phổ thông có nhiệm vụ
giáo dục toàn diện, song nhà trường không thể là nơi duy nhất bảo đảm hoàn
toàn đầy đủ quá trình giáo dục toàn diện. Ngoài ra tác động giáo dục của nhà