Câu hỏi:Tìm hiểu về 4 chỉ số:GDP,chỉ số thất nghiệp.lạm phát và cán cân thanh toán.
Bài làm của nhóm 1
*Tìm hiểu về GDP
I)Định nghĩa về GDP(Gross domestic product)
II) Đo lường GDP
III)GDP danh nghĩa và thực tế
IV)Vai trò của GDP
V) Mở rộng: GDP xanh
I)GDP-Gross domestic product
Các nhà kinh tế học đo lường các số lượng bằng cách sử dụng khái niệm Tổng sản
phẩm trong nước (Gross Domestic Product). Tổng sản phẩm trong nước, thường viết tắt
là GDP, là "giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất
trong một quốc gia trong một thời gian nhất định."
II) Đo lường GDP
Thu nhập và chi tiêu và luồng chu chuyển:
Trong điều kiện kinh tế giản đơn và hoàn toàn đóng với bên ngoài, GDP phản ánh đồng
thời tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế và tổng chi tiêu cho việc mua sắm
toàn bộ hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế. Mọi giao dịch trong nền kinh tế được tiến
hành bởi hai bên, bên mua và bên bán; được phân ra làm hai luồng chi tiêu và thu nhập.
Khoản chi tiêu của người mua nào đó chính là khoản thu nhập của những người bán
khác. Hiển nhiên là nền kinh tế phức tạp hơn nhiều so với nền kinh tế giả định miêu tả ở
trên. Nó không chỉ bao gồm hai mà bốn tác nhân kinh tế: hộ gia đình, công ty, chính phủ
và nước ngoài, tuy nhiên xét cho cùng thì vẫn là giao dịch giữa bên bán và bên mua. Bởi
vậy, xét tổng thể nền kinh tế thì chi tiêu luôn bằng thu nhập.
2) Các phương pháp đo lường GDP
Để phân tích sức khỏe của một nền kinh tế hoặc xác định sự tăng trưởng của nền
kinh tế ấy, cần có một cách thức đo lường kích cỡ của nó. Các nhà kinh tế học thường
đo kích cỡ của một nền kinh tế bằng việc đếm những hàng hóa mà nền kinh tế đó sản
xuất ra.
Phương pháp chi tiêu :
P: giá của từng mặt hàng; Pi: giá của mặt hàng thứ i.
GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ hiện hành của nền kinh tế được
đánh giá theo mức giá cố định của năm cơ sở hay là tổng của lượng hàng hóa được sản
xuất ra trong 1 năm nhân với giá cố định của các hang hóa và dịch vụ ấy trong năm cơ sở.
GDPtn=∑QtiP0i
Với giả định t=0 ở năm cơ sở
GDP danh nghĩa không thể hiện được sự gia tăng của nó chủ yếu là do gia tăng về
giá hay lượng của các hàng hóa dịch vụ được tạo ra trong nền kinh tế. Còn GDP thực tế
cho biết sản lượng hàng hóa và dịch vụ nói chung của nền kinh tế thay đổi như thế nào
theo thời gian.
GDP thực tế được đưa ra nhằm điều chỉnh lại của những sai lệch như sự mất giá của
đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng
thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP. GDP thứ nhất đôi khi được gọi là "GDP
tiền tệ" trong khi GDP thứ hai được gọi là GDP "giá cố định" hay GDP "điều chỉnh lạm
phát" hoặc "GDP theo giá năm gốc" (Năm gốc được chọn theo luật định).
Chỉ số GDP thường thay đổi theo đơn vị phần trăm (%). Số liệu GDP hàng quý được
công bố đều đặn vào một thời điểm xác định nào đó. GDP với vai trò là một trong những
chỉ số cơ bản nhất để chúng ta nắm bắt được hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.
Tuy nhiên, bạn cũng không nên xem GDP là chỉ số duy nhất phản ánh sức cạnh tranh của
nền kinh tế của một quốc gia.
IV) Vai trò của GDP
GDP là công cụ quan trọng phản ánh tình hình phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Trước tiên, tỉ lệ tăng trưởng GDP là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất mô tả tình
hình tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, GDP là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng phản ánh quy mô kinh tế.
Thứ ba, GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu quan trọng thể hiện trình độ phát
triển kinh tế bình quân đầu người. Trình độ phát triển bình quân đầu người ở mức độ nhất
định phản ánh mức độ giàu có và sự cao thấp của đời sống nhân dân.
* Tìm hiểu về thất nghiệp
I) Thất nghiệp là gì? Đo lường thất nghiệp như thế nào?
II) Phân loại thất nghiệp
III) Đối tượng có tỉ lệ thất nghiệp cao
IV) Thực trạng thất nghiệp
V) Nguyên nhân
VI) Tác động
VII) Hướng giải quyết
I)Thất nghiêp là gì??Đo lường thất nghiệp như thế nào?
Mỗi người trưởng thành(từ 15 tuổi trở lên) trong các hộ gia đình điều tra về thất nghiệp
được xếp vào 1 trong 3 nhóm sau đây:
-Một người được cọi là có việc làm:nếu người đó sử dụng hầu hết tuần trước điều tra để
làm công việc được trả tiền lương.
-Một người được coi là thấtt nghiệp nếu trong tuần lễ trước điêu tra người đó không có
việc làm nhưng có nhu cầu và nổ lực tìm kiếm việc làm.
-Người không nằm trong lực lượng lao đọng là những người không thuộc 2 loại
trên,chẳng hạn sinh viên hệ tập trung dài hạn,người nội trợ hoạc người nghỉ hưu…
Tỷ lệ thất nghiệp chính là tỉ lệ phần trăm của lực lượng lao động bị thất nghiêp:
Tỷ lệ thất nghiệp=(Số người thất nghiệp/ lực lượng lao động)*100.
Trong đó:Lực lượng lao động=Số người có việc làm+Số người thất nghiệp.
II)Phân loại thất nghiệp
Thất nghiệp thường được chia làm 2 dạng:Thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp chu kỳ
1.Thất nghiệp tự nhiên:biểu thị mức thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải
chịu.Gồm thất nghiệp tạm thời phát sinh khi công nhân cần thời gian để tìm việc làm,thất
nghiệp cơ cấu phát sinh khi không có sự ăn khớp giữa cơ cấu của cầu và cung lao động
và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển xảy ra khi tiền lươngđược chủ động duy trì cao hơn
sinh viên tốt nghiệp đại học, tỷ lệ thất nghiệp cũng không phải nhỏ. Điều này trở thành
nỗi ám ảnh của các tân cử nhân.
Theo điều tra của Viện Nghiên cứu thanh niên, 70% sinh viên Việt Nam cho biết lo lắng
hàng đầu hiện nay là việc làm. Điều tra của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 63% sinh viên tốt
nghiệp ĐH-CĐ ra trường không có việc làm, 37% có việc làm nhưng nhiều SV phải làm
trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại.
IV)Thực trạng thất nghiệp
N2 />Năm 1997 2000 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tỉ lệ
thất
nghiệ
2.9
2.3
2.1
2.1
2.3
2.4
2.38
2.9
2.88
không chấp nhận công việc đầu tiên mà họ được yêu cầu.Quá rình tìm việc sẽ giúp người
lao động kiếm được vệc làm tốt hơn,phù hợp hơn với nguyện vọng và năng lực của
họ.Điều này còn có 1 lợi ích cho xã hội:làm cho việc phân bố các nguồn lực 1 cách hiệu
quả hơn và do đó góp phần làm tăng sản lượng của nền kinh tế trong thời gian dài.
Thất nghiệp cũng có nghĩa là 1 người có nhiều thời gian cho việc nghỉ ngơ
hơn,bằng cách từ bỏ việc làm nhiều ngườ nhận ra rằng nghỉ ngơi them mang lại cho họ
nhiều thứ hơn tiền lương và thu nhập mà lẽ ra họ có thể nhận nếu làm viêc.
Một người thất nghiệp sẽ được nghĩ ngơi và thời gian nhàn rỗi này cũng có 1 giá
trị nào đó dù phần lớn thời gian nhàn rỗi này là không tự nguyện và có giá trị nhỏ hơn so
với phần thu nhập bị mất.
-Tiêu cực:
+Đối với cá nhân:Thất nghiệp gây ra sự mất mát thu nhập và tổn thương về tâm lý
Thất nghiệp là mối lo của mọi người dân lao động bởi nó gắn liền với cả
đời sống vật chất và tinh thần của họ.
+Đối với xã hôi:
Thất nghiệp đang là một nỗi lo lớn, tình trạng thất nghiệp gây nhiều hệ lụy và trở
thành gánh nặng cho xã hội. Tác động của thất nghiệp vô cùng nguy hiểm cho an sinh xã
hội và sự phát triển bền vững của một nền kinh tế.
Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn
lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.
Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu
dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình
trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà
cơ hội đầu tư cũng ít hơn.
Thất nghiệp sẽ làm cho người lao đọng mất thu nhập,tổng cầu giảm trong khi tổng
cung vẫn tăng theo mức bình thườngàđây cung là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến
tình trạng lam phát.
Tình trang thất nghiệp,thiếu việc làm trong nước cũng khiến nhiều lao đông phải
chung.Ngoài ra còn có cách hiểu khác đó là sự suy giảm sức mua của đồng tiền.tôi có thể
lấy ví dụ minh hoạ cho cách hiểu thứ 2 này:năm 2010 10k mua được 4 quả trứng
gà,nhưng đến năm 2011 do lạm phát cao 10k chỉ mua được 3 quả.như vậy sức mua hay
giá trị của 10k bị giảm đi một quả trứng gà
II)Cách tính và các loại lạm phát:
Mỗi khi chúng ta muốn tìm hiểu xem lạm phát của năm nay là bao nhiêu,tăng hay
giảm so với các năm trước,chúng ta chỉ cần tính tỉ lệ % của sự chênh lệch mức giá giữa 2
năm liên tiếp chia cho giá của năm liền kề trước đó.Những kết quả tính ra 1con số người
ta gọi đó là lạm phát vừa phải,từ 2 đến 3 con số gọi là lạm phát phi mã.một khi kết quả
tính được>3 con số thì đó là siêu lạm phát.Nhìn lại những năm về trước chúng ta dễ thấy
lạm phát là chỉ số biến đổi bất ổn định.trong dài hạn,chúng ta không thể biết được lạm
phát tăng giảm như thế nào hoặc bao giờ xảy ra siêu lạm phát.Vấn đề cần quan tâm ở đây
là :cốt lõi của lạm phát nằm ở đâu? Liệu có phải bản thân lạm phát được cấu thành bởi
những nhân tố luôn vận động bất ổn định cho nên mới không thể dự báo lạm phát trong
dài hạn? Lạm phát gây ra hững hậu quả gì cho xã hội và tại sao chúng ta chỉ có thể kiềm
chế nó mà không phải loại bỏ nó?
III) Nguyên nhân gây ra lạm phát
Các nhà kinh tế học cho rằng có lí do cơ bản là cốt lõi của lạm phát đó là: lạm
lạm phát do cầu kéo, chi phí đẩy, lạm phát ỳ và tiền tệ.
1)Trước tiên chúng ta xem xét về vấn đề cầu kéo.
Nguyên nhân này có thể hiểu đơn giản, khái quát nhất đó là do một tác động nào
đó làm cho tổng cầu lớn hơn tổng cung, khi đó hệ quả sẽ là xuất hiện khan hiếm về hang
hóa và dịch vụ cuối cùng sẽ dẫn tới mức giá chung tăng lên, tôi xin giải thích rõ hơn: Khi
mà lượng cầu về tiêu dùng trong nước (có thể là tiêu dùng của người dân hoặc là tiêu
dùng của chính phủ) tăng lên trong một khoảng thời gian nào đó hoặc khi cầu ở nước
ngoài tăng, lượng hàng hóa xuất khẩu của chúng ta tăng theo dẫn đến tình trạng khan
hiếm lượng hàng hóa trong nước. Lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động của nhu cầu
đầu tư khi mà các nhà đầu tư cảm thấy có lợi về một thị trường nào đó, họ sẽ tranh giành
thể loại bỏ nó. Nếu chúng ta suy luận ngược lại sẽ thấy rõ hơn: Làm sao không có cầu
được?Công nhân có quyền đòi tăng lương, không thể không có thời gian thu hoặc cắt
giảm hoàn toàn nguyên liệu nhập khẩu… Bốn yếu tố tác động đến lạm phát nêu trên luôn
luôn biến đổi không ngừng và bất ổn định cho nên sẽ làm cho lạm phát luôn biến động và
chúng ta khó có thể dự đoán được lạm phát của một nền kinh tế trong dài hạn. Hiện nay,
mọi chính phủ đều đang cố gắng hết sức để giữ lạm phát ở mức vừa phải, nếu để lạm phát
tăng cao sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng
IV) Những tổn thất xã hội của lạm phát
Đối với lạm phát ở mức thấp hay mức nằm trong tàm kiểm soát, dự đoán được
chúng ta có thể hạn chế phần nào: Các biến danh nghĩa, các hợp đồng vốn vay đều được
điểu chỉnh cho phù hợp với lạm phát. Tuy nhiên nó cũng gây ra một số ảnh hưởng nhất
định:
Thứ nhất, chúng ta có thể coi lạm phát là một loại thuế đánh vào những người đang
nắm giữ tiền. Nó làm mất đi một phần giá trị ban đầu của lượng tiền đó, đương nhiên
người đó sẽ mất đi quyền lợi. Lạm phát còn làm tăng lãi xuất danh nghĩa từ đó làm giảm
cầu tiền.
Lạm phát còn tạo ra một loại chi phí khac,đó là chi phí thực đơn:giá cả của hàng
hóa tăng sẽ gây tón kém trong việc phát hành thực đơn mới.Gía tương đối của các giao
dịch đã được niêm yêt từ trước cũng bị thay đổi khi xảy ra lạm phát.khi đó lãi suất danh
nghĩa sẽ bị giam vì phải trừ đi lạm phát.lạm phát gây ra sự nhầm lẫn và bất tiên:khi giá cả
thay đổi có thể tính sai khoản thu nhập doanh nghiệp,công việc tính toán sẽ phức tạp hơn
vì hầu hết lai xuát trong các giao dịch đã được niêm yết từ trước.
Đôí với lạm phát không dự tính trước,sẽ gây tổn thất cho những người nhân thu
nhập danh nghia cố định hoặc chậm được điều chỉnh theo lạm phát,và nó cũng làm phân
phối lại thu nhập và của cải giữa các thành viên trong xã hội không theo nỗ lực,cống hiến
và nhu cầu của họ.
* Cán cân thanh toán
I) Khái niệm
việc đo lường chính xác kết quả nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của đất nước đó, dự trữ
ngoại tệ cũng như cho biết quốc gia đó là chủ nợ hay con nợ so với phần còn lại của thế
giới.
Cán cân thanh toán còn dược sử dụng như một chỉ số về kinh tế và ổn định chính trị. Mặt
khác nó còn phản ánh độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế
giới và địa vị của quốc gia đó trên trường quốc tế.
IV) Một số công thức tính trong cán cân thanh toán
-Cán cân thanh toán là tổng của cán cân tài khoản vãng lai và cán cân tài khoản vốn và
một số sai số.
-Cán cân thương mại = xuất khẩu cộng nhập khẩu(ở đây xuất khẩu luôn mang dấu + và
nhập khẩu luôn mang dấu -)
-Thu nhập từ đầu tư bằng Lượng nhận trừ Lượng trả
-Cán cân tài khoản vãng lai= cán cân tương mại+thu nhập từ đầu tư+chuyển khoản ròng.
Như đã nói ở trên các ghi chép các giao dịch sẽ có sự chênh lệch là sai số.
* Mối liên hệ giữa GDP, lạm phát, thất nghiệp và cán cân thanh toán
Lạm phát xảy ra sẽ khiến hàng hóa nội địa đắt đỏ hơn, người dân trong và ngoài nước sẽ
chuyển sang dùng hàng nước ngoài, đẩy cung ngoại tệ xuống và cầu ngoại tệ tăng cao,
dẫn đến đồng tiền việt nam mất giá. Đồng tiền mất giá đến lượt nó lại làm tăng giá hàng
hóa nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu và sử dụng hàng nội địa, cán cân thanh toán sẽ
được giữ trở lại mức cân bằng.
Tỷ giá có ảnh hưởng quan trọng đến nhiều biến số kinh tế vĩ mô trong một nền kinh tế
mở như lạm phát cán cân thương mại và tăng trưởng kinh tế.Các tổ chức kinh tế hàng đầu
thế giới luôn khuyến nghị phá giá đông nội tệ khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán
quốc tế với lập luận cho rằng phá giá sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu tăng trên thị trường
trong nước và giá hàng hóa xuất khẩu giảm trên thị trương quốc tế.Các nguồn lực sẽ được
thu hút vào các ngành sản xuất nội địa mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiệu quả hơn so
với hàng nhập khẩu,và nguồn lực cũng sẽ được thu hút nào các ngành xuất khẩu.nếu như
nền kinh tế chưa tận dụng tối đa nguồn lực thì đây chính là cơ hội tốt để các doanh
nghiệp mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu cao hơn.KQ sản lượng tăng thất nghiệp
giảm