LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
PHÂN TÍCH VỀ CHẾ ĐỊNH QUỐC TỊCH TRONG LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, chế độ chính trị, cũng có tấm quan trọng đặc biệt với sự phát
triển của xã hội. Hiến pháp Việt Nam cũng như hiến pháp một số nước, ghi nhận sự tác động
chi phối cơ bản của nó tới nội dung các chế định khác trong hiến pháp. Vấn đề quốc tịch Việt
Nam với tư cách một chế định quan trọng trong việc xác định tư cách công dân cũng
không thoát khỏi sự ảnh hưởng của chế độ chính trị nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Những chính sách về quốc tịch phần nào đó thể hiện đường lối chính trị, pháp lý của pháp luật
nước ta trong giai đoạn đi lên xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình hình thành, vấn đề quốc tịch
Việt Nam luôn có sự kế thừa và phát triển. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 là một minh
chứng cụ thể.
I. Định nghĩa về Quốc tịch
1. Khái niệm Quốc tịch là gì?
Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý – chính trị có tính chất lâu dài, bền vững, ổn định cao về
mặt thời gian, không bị giới hạn về mặt không gian giữa một cá nhân cụ thể với một
chính quyền nhà nước nhất định.
Khái niệm công dân quy định trong Hiến pháp được gắn liền với khai niệm quốc tịch:
Người là công dân của Nhà nước nào thì có quốc tịch của nước đó. “Điều 17 :
1. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt
Nam.”
Quốc tịch là trạng thái pháp lý xác định mối quan hệ lệ thuộc giữa một cá nhân với một
Nhà nước nhất định. Người có quốc tịch (là công dân) sẽ chịu sự tài phán tuyệt đối của
Nhà nước, đồng thời được hưởng đầy đủ mọi năng lực pháp lý với sự bảo hộ của Nhà
nước cả trong đất nước cũng như ở nước ngoài.
Trong trạng thái pháp lý trên, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân có quốc tịch (công
dân) được thể hiện như sau:
+ Thứ nhất, Nhà nước bằng pháp luật, quy định quyền và nghĩa vụ công dân.
+ Thứ hai, công dân phải có nghĩa vụ tuân theo pháp luật mà Nhà nước của mình đặc ra
3. Quốc tịch với vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.(thể hiện
mối tương quan giữa Luật hiến pháp và Luật quốc tịch)
Điều đầu tiên trong chương “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”,
Hiến pháp 1992 (Điều 49) quy định vấn đề Quốc tịch: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ ng
hĩa Việt Nam là người có Quốc tịch Việt Nam”. Cũng như quy định tại Chương II: Quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Hiến pháp 2013), theo đó:
“Điều 17 :
1. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.
2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.
3. Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo
hộ.
Điều 18 :
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt
Nam.
2
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt
Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ
gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.”
Với cácquy định trên, những nguyên tắc cơ bản về địa vị pháp lý của công dân trong chế độ nhà
nước ta đã được ghi nhận. Nó thể hiện các quyền tự do, bình đẳng, không bị áp bức của công dân
.Trong lịch sử phát triển nhà nước ta, các quyềnConngười,quyền và nghĩa vụ của công dân ngày
càng được mở rộng và đảm bảo chắc chắn đi đôi với sự tăng cường và mở rộng cơ sở chính trị,
kinh tế, xã hộicủa chế độ nhà nước ta. Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân ngày được phát
triển bằng sự nỗ lực hoạt động của cả Nhà nước lẫn công dân vì sự nghiệp Cách mạng chung.
Mối quan hệ giữa Quốc tịch và quyền conngười,các quyền, nghĩa vụ của công dân cho thấy được
Về thôi Quốc tịch, Điều 2 Sắc lệnh số 51/SL ngày 14/12/1959 quyết định phụ nữ Việt Nam
lấy chồng có Quốc tịch nước ngoài muốn theo Quốc tịch của chồng thì trong thời hạn 6 tháng
kể từ ngày ban hành sắc lệnh này phải xin bỏ Quốc tịch Việt Nam và phải được Chính phủ Việt
Nam cho phép.
Về việc tước Quốc tịch được xác định trong Điều 7 Sắc lệnh số 59/SL.
Các sắc lệnh về Quốc tịch đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển
chế định Quốc tịch Việt Nam.
Tuy nhiên, trước năm 1975, do đặc điểm nước ta bị chia cắt làm hai miền và chế độ chính trị
khác nhau nên các văn bản pháp luật về Quốc tịch Việt Nam chỉ có hiệu lực hay nói cách khác
chỉ được áp dụng ở miền Bắc. Pháp luật Quốc tịch Việt Nam trước năm 1975 đã thể hiện rõ
chủ quyền của quốc gia đối với dân cư, quyết định của nhà nước về các vấn đề cơ bản liên quan
đến Quốc tịch như: nguyên tắc một Quốc tịch, bảo đảm quyền có Quốc tịch của cá nhân trên
lãnh thổ Việt Nam, bình đẳng giữa các công dân Việt Nam về quyền và nghĩa vụ công dân…
Từ đó tạo cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề đặt ra trên thực tế.
2.Giai đoạn sau năm 1975.
Ta thấy được rằng vấn đề Quốc tịch được nhà nước ta đề cập dưới góc độ là Luật Quốc tịch.
Thể hiện như sau:
a) Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988.
Ngày 28/6/1988, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam
quy định một cách khá toàn diện các vấn đề Quốc tịch Việt Nam. Để cụ thể hóa, ngày
05/13/1990, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành nghị định số 37/HĐBT. Luật Quốc tịch năm 1988 g
ồm lời nói đầu và 18 điều đề cập đến 4 nội dung cơ bản: nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc một
Quốc tịch, có Quốc tịch Việt Nam, mất Quốc tịch Việt Nam. Luật quốc tịch năm 1988 và Nghị
định số 37/HĐBT đã đáp ứng nhu cầu chính trị và pháp lý về Quốc tịch trong giai đoạn mới của
đất nước.
b) Luật Quốc tịch năm 1998.
Luật Quốc tịch năm 1998 ra đời để phù hợp với quy định của Hiến pháp 1992, tạo cơ chế
đồng bộ thực hiện một cách nhất quán, triệt để để nguyên tắc một Quốc tịch, quyết định tình
trạng không rõ về Quốc tịch Việt Nam do lịch sử để lại trong cộng đồng Việt Nam định cư ở
nước ngoài, khắc phục tính đơn giản chung chung của Luật Quốc tịch năm 1988. Luật Quốc
Chương 4: Thay đổi Quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi;
Chương 5: Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước về Quốc tịch;
Chương 6: Điều khoản thi hành.
So với cấu trúc của Luật Quốc tịch năm 1998, Luật Quôc tịch năm 2008 cũng có 6 chương
tuy nhiên tăng thêm 2 điều và chương 5 có tên gọi khác Luật năm 1998 (Thẩm quyền và thủ tục
giải quyết các vấn đề về Quốc tịch). Chương 5 Luật Quốc tịch năm 2008 thay đổi tên nhằm
mục đích nhấn mạnh đến trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong những vấn đề về Quốc
tịch. Phân tích toàn bộ các chương và điều của Luật Quốc tịch năm 2008, chúng ta thấy Luật
này có các nội dung cơ bản sau đây:
1. Nguyên tắc m ột Qu ốc t ịch.
Nếu như điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 có tên gọi là nguyên tắc “một Quốc
tịch” và điều này quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công
dân có một Quốc tịch là Quốc tịch Việt Nam” thì “nguyên tắc Quốc tịch” là tên gọi của điều 4
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công
5
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
nhận công dân Việt Nam có một Quốc tịch là Quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có
quy định khác”. Như vậy, có thể thấy Luật Quốc tịch năm 1998 được xây dựng trên nguyên tắc
“một Quốc tịch triệt để” còn Luật Quốc tịch năm 2008 được xây dựng trên nguyên tắc “một
Quốc tịch mềm dẻo”.
Nguyên tắc “một Quốc tịch mềm dẻo” thể hiện ở chỗ một mặt luật xác định ở nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mỗi cá nhân đều có quyền có Quốc tịch Việt Nam. Nhà nước
thừa nhận công dân Việt Nam có một Quốc tịch là Quốc tịch Việt Nam, nhưng nhà nước cũng
thừa nhận một số người có hai hoặc nhiều Quốc tịch.
Do công nhận thực trạng một số công dân có hai hoặc nhiều Quốc tịch nên Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 đã bổ sung thêm một số điều quy định về việc giải quyết vấn đề phát sinh
từ tính trạng công dân Việt Nam đồng thời có Quốc tịch nước ngoài. Theo quy định tại điều 12,
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
quốc gia liên quan giải quyết vấn đề công dân Việt Nam đồng thời có Quốc tịch nước ngoài đặc
biệt là đối với bộ phận công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài.
2. Nhập quốc tịch Việt Nam.
Về điều kiện để người nước ngoài, người không Quốc tịch được nhập Quốc tịch Việt Nam,
Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, vẫn giữ nguyên như năm 1998 ở một số điểm sau:
♣ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam (1)
♣ Tuân thủ hiến pháp và pháp luật Việt Nam, tôn trọng truyền thống, tập quán của dân
tộc Việt Nam (2)
♣ Biết tiếng việt để được hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam (3)
♣ Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập Quốc tịch Việt
Nam (4)
♣ Có khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam (5)
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định và làm rõ nếu người không Quốc tịch hoặc
người nước ngoài thì sẽ được miễn điều kiện (3), (4), (5) với điều kiện “là vợ chồng, cha đẻ,
mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam” hoặc “là người có công lao đóng góp đặc biệt cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” hoặc “việc gia nhập Quốc tịch của người đó
có lợi cho nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì được nhập Quốc tịch Việt Nam.
Bên cạnh đó, Khoản 5, Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 tiếp tục quy định
“Người xin nhập Quốc tịch Việt Nam không được nhập Quôc tịch Việt Nam nếu việc đó làm hại
đến lợi ích quốc gia Việt Nam”.
Thêm vào đó, Khoản 3, Điều 19, Luật Quốc tịch 2008 đã quy định “chỉ những đối tượng cụ
thể trong trường hợp đặc biệt nếu được Chủ tịch nước cho phép mới được giữ quốc tịch nước
ngoài khi gia nhập Quốc tịch Việt Nam”. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc một Quốc
tịch.
Nếu như Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 chưa có quy định giải quyết cho cư dân không
Quốc tịch không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định tại Việt Nam thì
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã giải quyết vấn đề này bằng quy định tại điều 22: “Người
ngoài, Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã ghi nhận thêm hai trường hợp có thể
được cho phép trở lại Quốc tịch Việt Nam, đó là “thực hiện đầu tư tại Việt Nam” hoặc “đã thôi
Quốc tịch Việt Nam để nhập Quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập Quốc tịch nước
ngoài”. Luật Quốc tịch năm 2008 cho phép trở lại Quốc tịch Việt Nam đối với những người
thôi Quốc tịch Việt Nam để nhập Quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập Quốc
tịch nước ngoài nhằm đảm bảo quyền có Quốc tịch của công dân đồng thời thể hiện tính nhân
đạo của pháp luật Việt Nam, nhằm tránh tình trạng không Quốc tịch. Chính vì vậy mà
khoản 1, Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ ng
hĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có Quốc tịch”.
Hơn nữa, khoản 2 Điều 23 Luật Quốc tịch năm 2008 còn ghi nhận, đối với các trường hợp
xin trở lại Quốc tịch Việt Nam, nếu xét thấy sự trở lại Quốc tịch của người đó có thể
“làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam” thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và
từ chối giải quyết.
Bên cạnh đó, luật còn “luật hóa” các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin trở lại
Quốc tịch thay vì được quy định trong nghị định của Chính Phủ. Điều này đã phần nào khắc
phục được tình trạng luật chờ nghị định, thong tư so với trước đây, đáp ứng yêu cầu quản lý
Nhà nước ở hiện tại cũng như định hướng phát triển chung của đất nước trong những năm sắp
tới. Theo quy định tại Điều 24 của Luật Quốc tịch năm 2008, người xin trở lại Quốc tịch Việt
Nam phải lập hồ sơ xin trở lại Quốc tịch, đồng thời theo quy định tại điều 25 thì thời gian giải
quyết xin trở lại Quốc tịch Việt Nam đã được rút ngắn chỉ còn một nửa (tổng thời gian giải
quyết chỉ còn 3 tháng).
Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 còn quy định thời gian cụ thể cho từng khâu, từng giai đoạn
8
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
khác nhau như: Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản
đề nghị Cơ quan Công an xác minh về nhân thân người xin trở lại Quốc tịch Việt Nam. Điều
này tạo ra sự phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan chức năng trong giải quyết vấn đề
liên quan, tránh sự chồng chéo lẫn nhau. Đây có thể coi là bước đột phá trong việc giải quyết
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
- Cha mẹ không có Quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam.
- Mẹ không có Quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam còn cha không rõ là ai.
- Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà hca mẹ không rõ là
ai.
ϖ Trong trường hợp cha mẹ thay đổi Quốc tịch do nhập Quốc tịch, trở lại hoặc th
ôi Quốc tịch Việt Nam, Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 quy định:
- Quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng cha mẹ cũng thay đổi theo Quốc tịch
của cha mẹ.
- Quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng cha hoặc mẹ cũng thay đổi theo Quốc
tịch của cha hoặc mẹ nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ
- Trường hợp cha, mẹ được nhập, trở lại Quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh
sống cùng người đó có Quốc tịch Việt Nam nếu cha, mẹ không thỏa thuận bằng văn bản về
việc giữ Quốc tịch nước ngoài cho con.
ϖ Đối với vấn đề của con nuôi, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 tiếp thu hoàn toàn nội dung
của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 mà không có bất cứ sự điều chỉnh nào.
Nhìn chung, vấn đề Quốc tịch có nói chung và Luật Quốc tịch nói riêng đã khẳng định vai
trò của nó trong việc khẳng định độc lập chủ quyền và dân cư của một quốc gia, quy định về
quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân đối với một đất nước nhất định. Luật Quốc tich năm 2008
đã cơ bản đáp ứng được sự mong mỏi của người dân về vấn đề Quôc tịch, hưởng Quốc tịch,
mất Quốc tịch, trình tự và thủ tục giải quyết… Đảm bảo được độc lập chủ quyền quốc gia, hạn
chế phần nào thiếu sót mà Luật Quốc tịch năm 1988 và 1998 mắc phải. Nó hứa hẹ đem lại hiệu
quả cao trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến Quốc tịch, góp phần ổn định an ninh trật
tự, an toàn xã hôi, thúc đẩy kinh tế phát triển, đưa nước ta đi lên xã hội chủ nghĩa.
LƯU Ý: CÁC BẠN NÊN CẬP NHẬT LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT
QUỐC TỊCH 2008 VÀO 2013 NHÉ!
Bài soạn này chỉ là tài liệu tham khảo nhằm định hướng cách trả lời câu hỏi cho các bạn.
Hãy sử dụng cách thành văn riêng của mình, Anh có lời khuyên là các bạn nên dựa vào bài viết
nước sở tại thì được hưởng đầy đủ những quyền và lợi ích tương xứng và đồng thời phải
gánh vác những nghĩa vụ do Nhà nước quy định. Những cá nhân không phải là công dân
thì chỉ được hưởng một số quyền lợi và gánh vác những nghĩa vụ không đầy đủ so với
những người là công dân theo quy định của pháp luật nước sở tại và các hiệp ước được
ký kết hoặc phê chuẩn.
Khái niệm này bắt nguồn từ quan hệ giữa Nhà nước và dân cư (của cá nhân) sống
trên lãnh thổ. Quan hệ này thể hiện trong các quyền và nghĩa vụ được quy định tạo
thành địa vị pháp lý của cá nhân. Do đó, việc xác định tính công dân (quốc tịch) của
một cá nhân là một yếu tố trong việc quy định địa vị pháp lý của cá nhân.
Khái niệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, là những quyền, nghĩa vụ được nhà nước quy
định trong Hiến pháp. Những quyền và nghĩa vụ này được hiến pháp quy định cho tất cả
mọi công dân, hoặc chỏ cả một tầng lớp, một giai cấp, không quy định cho từng người
trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Những quyền này thường được xuất phát từ quyền
con người: “được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm
phạm”. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở chủ yếu xác định địa vị pháp lý
của công dân, là cơ sở cho mọi quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi một công dân.
PHÂN TÍCH
-
Hiến pháp 1946:
+ Chưa có quy định cụ thể về quyền con người nhưng đã quy định bản chất quyền lực
nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Điều 1 HP 1946 quy định:
11
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
“Nước Việt nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của
toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo,giai cấp, tôn giáo”
bảo vệ tài sản công cộng, nghĩa vụ đóng thuế theo pháp luật”.
(tham khảo thêm trong sách chuyên khảo)
Hiến pháp 1980:
+ Có số điều khoản cho quyền công dân lớn hơn HP 1959: 29 điều.
+ Nội hàm các quyền công dân cũng được mở rộng hơn.
+ Hiến pháp 1959 của cơ chế tập trung quan lieu bao cấp không quy định công dân có
quyền tư hữu và quyền tài sản.
+ Một mặt ghi nhận lại những nghĩ vụ của công dân đã quy định trong Hiến pháp 1959,
mặc khác xác định thêm những nghĩa vụ mới của công dân như: “nghĩa vụ phải trung
thành với Tổ quốc; nghĩa vụ tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; giữ gìn bí mật Nhà
nước; nghĩa vụ tham gia lao động công ích theo quy định của pháp luật”
(tham khảo thêm trong sách chuyên khảo)
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001):
+ số lượng điều khoản dành cho quyền công dân lớn hơn các bản Hiến pháp trước: 34
điều
12
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
-
+ Nội hàm các quyền công dân được mở rộng và cụ thể hơn. Như Quyền tư hữu tài sản
của công dân VN được bảo đảm thì ở Hiến pháp 1992 quyền này được quy định một cách
mở rộng thành những yếu tố cấu thành và các loại hình cụ thể của quyền tư hữu (quy định
tại điều 58).
+ bổ sung thêm các quyền của công dân như quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất,
phục hồi danh dự, khi bị bắt, bị giam giữ và xét xử trái pháp luật; quyền được khiếu nại,
tố cáo những hành vitrasi pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang hoặc bất cứ cá nhân nào.
nhà nước, được nhà nước đảm bảo đối với công dân của nước mình. Chỉ có những
người có quốc tịch mới dược hưởng quyền công dân của quốc gia đó, ví dụ như
quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước. Để làm rõ sự khác biệt này,
13
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
tham khảo các công ước Quốc tế về quyền con người và Hiến pháp của các nước,
Hiến pháp sửa đổi đã sử dụng từ “mọi người” và từ “không ai” khi thể hiện quyền
con người và dùng từ “công dân” khi quy định về quyền công dân.
+ Trách nhiệm của Nhà nước và những đảm bảo của Nhà nước trong việc ghi nhận, tôn
trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quy định đầy đủ trong
các điều luật. Ngoài nguyên tắc như: “Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và
pháp luật”(Điều 14); ở hầu hết các điều đều quy định trách nhiệm và đảm bảo của Nhà
nước như Điều 17: “Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài”; Điều 28: “Nhà
nước tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai,
minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”… và ở nhiều
điều khác.
+ lần đầu tiên giới hạn của các quyền được quy định thành nguyên tắc trong Hiến pháp.
Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, có thể hạn chế một số quyền vì lý do bảo
vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức của xã hội, tôn trọng quyền
hoặc uy tín của người khác, quyền và tự do của người khác… Hiến pháp sửa đổi năm
2013, theo tinh thần của các công ước quốc tế đã quy định thành nguyên tắc ở Điều 14,
khắc phục sự tùy tiện trong việc hạn chế quyền: “Quyền con người, quyền công dân chỉ
có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng,
an ninh quốc gia, trật tự án toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Theo
đó, từ nay không ai được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền, ngoại trừ các trường hợp
cần thiết nói trên do Luật định.
LƯU Ý:
Bài soạn này chỉ là tài liệu tham khảo nhằm định hướng cách trả lời câu hỏi cho các bạn.
Hãy sử dụng cách thành văn riêng của mình, Anh có lời khuyên là các bạn nên dựa vào bài viết
tham khảo này rồi viết lại 1 bản theo cách viết của mình. Vì khi làm bài thi, đây là tài liệu tham
khảo chung, nếu các bạn chép giống nhau, thì điểm sẽ không mong muốn.
Chúc các bạn thi tốt!
15
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
CHẾ ĐỘ KINH TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP VIỆT NAM QUA 4 BẢN HIẾN
PHÁP
MỞ ĐẦU
Một điểm rất khác của Hiến pháp Việt Nam với Hiến pháp của các nước khác là có một số
chương riêng quy định về chế độ kinh tế, văn hóa và xã hội.Trong những chế độ quan trọng tạo
nên hoạt động của xã hội, chế độ kinh tế chiếm 1 vị trí quan trọng. Sỡ dĩ chế độ kinh tế cũng như
các chế độ, văn hóa-xã hội khác phải được quy định trong Hiến pháp, vì xét cho cùng sự phát
triển chính trị đều có mục tiêu cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Vì vậy, với tư cách là đạo luật cơ
bản của mỗi quốc gia, hiến pháp ít nhiều phải có quy định về chế độ phát triển kinh tế.
Vậy chế độ kinh tế là gì và do những yếu tố nào cấu tạo nên?
-
-
Chế độ kinh tế là một hệ thống các quan hệ kinh tế được pháp luật quy định thể hiện định
hướng phát triển kinh tế, tính chất và hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất và tổ chức
quản lý nền kinh tế.
Chế độ kinh tế được hình bằng: chế độ sở hữu, mục đích, chính sách phát triển kinh tế và
LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM – PHÂN TÍCH THEO CHỦ ĐỀ June 27, 2014
-
-
-
Mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là không
ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân
dân”
Hiến pháp 1980 (giai đoạn 1975-1985): Hiến pháp 1980 quy định một chế độ kinh tế
thuần túy xã hội chủ nghĩa với một nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần: Kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể, với hai hình thức sở hữu tương ứng; sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể. Thực hiện một chế độ quản lý kinh tế theo kế hoạch tập trung thống nhất kết hợp
quản lý theo ngành, theo địa phương và vùng lãnh thổ. (Điều 15, Điều 16)
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001): Đây là một bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới,
mở ra một giai đoạn mới của Việt Nam. Ché độ kinh tế được quy định là kinh tế nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều 15: “Nhà nước xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là
nền tảng."
Nhận thức này rút ra từ bài học của những sai lầm, nóng vội, duy ý chí trong quá khứ.
Hiến pháp đã quy định những nội dung mới về chế độ kinh tế như chính sách kinh tế
(Điều 16), hình thức sở hữu (Điều 15), chế độ lao động sản xuất, phân phôi và tiêu dùng
và chế độ quản lý kinh tế. Cái quan trọng nhất của chế độ kinh tế là quy định sở hữu tư
nhân được tồn tại và được hiến pháp bảo đảm (Điều 21).
quy định liên quan trong các Ðiều 15, 16 của Hiến pháp năm 1992.
+ Ðiều 51 Hiến pháp (sửa đổi) đã nâng cao và diễn đạt súc tích những nội dung liên quan
trong các Ðiều 16, 17, 18, 19 của Hiến pháp năm 1992, như: "1. Nền kinh tế Việt Nam là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. 2. Các chủ thể thuộc các thành
phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật...".
Ngắn gọn mà hết sức rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, bởi vì những diễn giải không cần thiết
như liệt kê các thành phần kinh tế, các bộ phận hợp thành kinh tế nhà nước đã được
loại bỏ. Ðặc biệt là so với Ðiều 19 Hiến pháp năm 1992, những đổi mới căn bản đã
được khẳng định minh bạch, nhất quán lâu dài, đó là: các chủ thể thuộc các thành
phần kinh tế hoàn toàn bình đẳng, dù là quốc doanh hay dân doanh, không đồng nhất
kinh tế nhà nước với quốc doanh hay doanh nghiệp nhà nước.
+ Không có diễn giải riêng về cấu thành kinh tế nhà nước (giữ vai trò chủ đạo) nhưng nội
hàm của nó cũng đã khá rõ trong các Ðiều 53, 54, 55 (về đất đai, tài nguyên, nguồn lợi ở
vùng biển, vùng trời, tài sản công, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà
nước... do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý). Ðó chính là sự khái quát
đúng mức và độ mở hợp lý của đạo luật cơ bản.
+ 8 điều về Chế độ kinh tế trong Hiến pháp (sửa đổi) không chỉ nêu rõ các quyền mà còn
hiến định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản, tài nguyên, các nguồn lực
vật chất trong nền kinh tế quốc dân. Cụ thể là: Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ
tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và
phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Các
khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán và do luật định. Nhà nước bảo đảm
ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.Các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà
nước.
Như vậy, những thay đổi mới về chế độ kinh tế trong Hiến pháp 2013 là nhân tố quan
trọng góp phần làm cho quan hệ sản xuất phát huy vai trò mở đường cho lực lượng