Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương diện vĩ mô áp dụng hệ tiêu chí đó để đánh giá hệ thống tài chính việt nam (dưới hai góc nhìn so sánh theo thời g - Pdf 31

Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

BÀI TẬP NHÓM 1
MÔN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương
diện vĩ mô? Áp dụng hệ tiêu chí đó để đánh giá hệ thống tài chính Việt Nam (dưới hai
góc nhìn: so sánh theo thời gian và so sánh theo chiều ngang)? Giải pháp cốt lõi cho
những vấn đề lớn?

GVHD
LỚP
HỌC VIÊN THỰC HIỆN

:PGS.TS. LÂM CHÍ DŨNG
: K24 TNH.ĐN_1
: 1. Nguyễn Thị Lài
2. Võ Thanh Hoàng
3. Nguyễn Thị Ngọc Lan
4. Nguyễn Thị Bích Liên
5. Phạm Thị Thùy Liên
6. Lê Xuân Thành
7. Trần Thị Hồng Yến
Đà Nẵng, Tháng 07 – 2012

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 1



Hiện nay, toàn cầu đang phải đối mặt với việc khắc phục hậu quả của cuộc
khủng khoảng kinh tế nặng nề nhất từ trước đến nay mà đỉnh điểm của sự bùng nổ
khủng hoảng là vào cuối năm 2007. Trong đó, khủng hoảng tài chính chỉ là một phần
của khủng hoảng kinh tế nhưng khủng khoảng tài chính lại gây thiệt hại lớn nhất vì
nguồn vốn được di chuyển qua các nước khác nhau và có yếu tố trực tiếp lây lan. Do
đó, một hệ thống tài chính toàn cầu vững mạnh sẽ góp phần ngăn chặn các cuộc khủng
hoảng tương tự xảy ra với nền kinh tế toàn cầu.
Đối với Việt Nam, Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 đã thay đổi đáng kể
diện mạo đất nước. Nền kinh tế Việt Nam đã và đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
nói chung và Hệ thống tài chính toàn cầu nói riêng. Các thể chế, định chế và cấu thành
thị trường tài chính cũng từng bước được hình thành, cải cách theo nguyên tắc thị
trường, hội nhập.
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế tại nhiều nước trên
thế giới và suy giảm tăng trưởng kinh tế trong nước chưa chấm dứt, cùng với mức lạm
phát cao, rủi ro tài chính – tiền tệ gia tăng, vấn đề tiếp tục cải cách, tái cấu trúc Hệ
thống tài chính ở Việt Nam càng trở nên bức thiết.

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 3


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

Chính vì những lẽ đó mà việc xây dựng hệ tiêu chí để đánh giá một cách toàn
diện hệ thống tài chính của một quốc gia là vô cùng quan trọng. Trong bài viết này
chúng tôi đã nghiên cứu từng bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính cùng với vai

1.2.1 Căn cứ vào các đặc trưng của chủ thể nắm giữ các quỹ tiền tệ trong xã hội
chúng ta có 04 bộ phận (hay 04 phân hệ) của hệ thống tài chính như sau:
Để có cái nhìn tổng quát nhất về cách phân loại này chúng ta có thể nhìn vào
bảng so sánh sau:
Phân loại

Chủ thể

Tài chính
công

Nhà Nước

Cơ cấu nguồn vồn Cơ cấu sử dụng nguồn vốn
Quỹ ngân sách nhà - Hỗ trợ đối với các hoạt
nước và các quỹ
động kinh tế - xã hội nhất
ngoài nhân sách
định.
- Thực hiện các chương
trình mục tiêu kinh tế - xã

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 5


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

chủ sở hữu
Các
tổ
chức
nhận
tiền
gửi

Tiền gửi của các tổ Chủ yếu dưới hình thức cho
chức và cá nhân
vay
dưới nhiều hình
thức đa dạng bao
gồm không kỳ hạn;
Kỳ hạn ngắn, trung
và dài hạn...

Các
tổ
chức
tiết
kiệm
theo
hợp
đồng

Khoản thu (phí)
theo định kỳ.

Các

dân cư

Khu vực dân


GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng
Thu nhập với tư
cách người lao
động (tiền lương,
tiền công) hoặc với
tư cách nhà đầu tư

Đóng thuế, hình thành quỹ
tiêu dùng, đầu tư tài chính
dưới 2 dạng: Góp vốn và
cho vay

Từ bảng phân tích ở trên với những mô hình hoá các dòng vận động tiền tệ có thể hình
dung hệ thống tài chính qua sơ đồ sau:

Tài chính
Nhà Nước
(1a)

(2a)

(1b)

(2b)



(1a&2a): Doanh nghiệp & dân cư nộp thuế và các khoản đóng góp tài chính
khác cho nhà nước.
(1b&2b): Nhà nước thực hiện các khoản cấp phát kinh phí và các tài trợ khác
nhau từ các quỹ tài chính nhà nước cho doanh nghiệp và các thành phần dân cư.
(3a&4a): Các trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp và
dân cư.
(3b&4b): Các trung gian tài chính cấp tín dụng cho doanh nghiệp và dân cư.
Trong sơ đồ trên các luồng tài chính được biểu hiện bằng các mũi tên kép là kết quả
của các giao dịch tài chính giữa các khâu tài chính.
1.2.2 Căn cứ vào tính chất của các quan hệ tài chính
1.2.2.1 Phân hệ tài chính theo tài chính phi thị trường
Đặc trưng chủ yếu:
- Dòng tiền được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác.
- Có thể dựa trên quan hệ bắt buột hoặc tự nguyện.
- Tính chất không đối giá, tức không phải là hành vi mua bán quyền sử dụng vốn mà
chỉ là dòng chuyển dịch đơn phương.

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 8


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

Các quan hệ trong dòng dịch chuyển vốn :
- Quan hệ điều tiết thông qua công cụ thuế và công cụ phân bổ ngân sách giữa các
nước với các tổ chức và cá nhân trong xã hội.

Những người

thừa vốn

thiếu vốn

1. Dân cư

1. Doanh nghiệp

2. Doanh nghiệp

2. Nhà nước

3. Nhà nước

3. Dân cư

4.Các nhân tố

4.Các nhân tố

nước ngoài

nước ngoài

Thị trường
tài chính

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 11


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

quyền sử dụng khối lượng tiền tệ đại diện giá trị của cải xã hội. Việc phân chia này
được thực hiện thông qua phân bổ và tái phân bổ thường xuyên các nguồn lực tài
chính.
- Hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính xã hội: Một hệ thống tài chính “khỏe
mạnh” thì phải làm tốt nhiệm vụ dịch chuyển vốn từ những người không có cơ hội đầu
tư sinh lợi tới những người có cơ hội đó và qua đó nâng cao hiệu quả chung của nền
kinh tế, chuyển vốn từ những người tiết kiệm tới những người muốn tiêu dùng trong
hiện tại, qua đó giúp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng cách giúp họ chọn
thời điểm cho việc mua sắm phù hợp với họ.
- Khả năng điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội: Ngoài chức năng là phân bổ
nguồn lực tài chính thì một hệ thống tài chính của một quốc gia còn phải thực hiện
được vai trò điều tiết có định hướng các hoạt động kinh tế xã hội thông qua quản lý
của nhà nước như :
+ Công cụ pháp luật: Phải hoàn thiện khung pháp luật. Yêu cầu của khung pháp luật
phải: Đầy đủ, đồng bộ, tiến bộ, khả thi; thực thi nghiêm chỉnh; thưởng phạt có ý
nghĩa;
+ Công cụ kế hoạch: Là công cụ giúp nhà nước định hướng các chương trình, xác định
các mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ. Kế hoạch phải đạt yêu cầu: Mềm dẻo; có tính
hướng dẫn; tính hiện thực, khả thi.
+ Công cụ hành chính: Gồm những quy định, những thủ tục hành chính bắt buộc
+ Các công cụ tài chính: Đây là loại công cụ đóng vai trò trọng yếu như ngân sách nhà
nước, thuế, lãi suất tín dụng, quỹ dự trữ tài chính quốc gia, quỹ bảo hiểm... Các công
cụ này nhằm giúp cho nhà nước can thiệp, tác động gián tiếp vào các chủ thể kinh tế,

Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

2.1.Hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương diện vĩ
mô: dựa trên 3 tiêu chí
2.1.1. Việc phân chia tổng giá trị của cải xã hội cho các chủ thể khác nhau
Chức năng phân phối là chức năng quan trọng nhất làm nên đặc trưng và tính
tất yếu khách quan của sự tồn tại của hệ thống tài chính. Đây là tiền đề để hệ thống tải
chính phát huy các vai trò tích cực: tập trung, tích tụ, điều hòa nguồn lực tài chính và
qua đó tối đa hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong xã hội.
Đối tượng phân phối của tài chính không chỉ bao gồm giá trị hàng hóa và dịch
vụ được tạo ra trong một thời kỳ mà còn cả những giá trị tích lũy được trong quá khứ.
Vì vậy ở góc độ vĩ mô, vai trò của tài chính là phân chia tổng giá trị của cải xã hội cho
các chủ thể sở hữu (hoặc sử dụng/ chiếm giữ) khác nhau.
Các hoạt động tài chính trong xã hội: tín dụng; bảo hiểm; thị trường chứng
khoán; ...thuế, chi tiêu ngân sách;..đều thực hiện vai trò phân chia giá trị tổng của cải
xã hội xét ở góc độ vĩ mô.
Việc phân chia giá trị tổng sản phẩm xã hội phụ thuộc rất lớn vào cơ chế quản
lý nền kinh tế của Nhà nước. Ở góc độ vĩ mô, Nhà nước có thể phân chia giá trị tổng
sản phẩm xã hội qua việc đánh thuế( nguồn tài chính được huy động từ thuế,phí, lệ
phí...) hoặc trợ cấp cho các chủ thể khác trong xã hội.
2.1.2 Việc phân bổ nguồn lực tài chính của xã hội
Trong hệ thống tài chính có sự tham gia của Nhà nước vừa với tư cách chủ thể
tài chính, vừa với tư cách tác nhân điều tiết sẽ đem lại cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả
kinh tế xã hội. Sự can thiệp chủ động của Nhà nước và các nhân tố quản lý khác là
nhân tố thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính; tạo các điều kiện tiền đề để hệ
thống phát huy vai trò “tập trung” và “thiết lập” của hệ thống tài chính (tập trung các
nguồn tài chính phân tán có quy mô nhỏ thành những nguồn tài chính đủ lớn để tài trợ


tập thể, sản phẩm được phân chia theo mức đóng góp. Máy móc nông nghiệp của
nông dân bị trưng mua để thành lập các tập đoàn phục vụ sản xuất nông nghiệp. Các
tập đoàn sản xuất có nghĩa vụ bán sản phẩm của mình cho Nhà nước theo giá kế

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 15


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

hoạch thấp hơn rất nhiều giá trị trường. Bù lại, Nhà nước cung cấp vật tư và hàng hóa
tiêu dùng cho các tập đoàn.
2.2.1.1.2 Phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội:
Tập trung chủ yếu ở khâu Tài chính Nhà nước. Dựa trên cơ sở kế hoạch, Nhà
nước phân bổ nguồn lực tài chính cho các chủ thể khác trong xã hội. Cơ chế quản lý
vốn nặng về tập trung quan liêu bao cấp.
2.2.1.1.3 Điều tiết kinh tế vĩ mô:
Với đại thắng mùa xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân
dân đã kết thúc thắng lợi. Tuy nhiên công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa là một
nhiệm vụ hết sức khó khăn.Kinh tế hai miền Nam, Bắc vẫn có nhiều sự khác biệt.
Kinh tế miền Bắc chủ yếu là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, theo cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, cơ chế quản lý kinh tế bộc lộ rõ những bất cập của nó. Đối với
miền Nam, do chính sách thực dân kiểu mới, yếu tố tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập vào
mạnh vào công nghiệp, thương nghiệp, tài chính ngân hàng..và bước đầu trong nông
nghiệp. Tuy vậy, kinh tế miền Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ, cơ cấu mất cân đối và lệ
thuộc vào viện trợ bên ngoài nên khi Mỹ rút quân, nền kinh tế miền Nam rơi vào
khủng hoảng.

toàn diện đất nước, nhất là đổi mới về mặt tư duy kinh tế đã tác động tích cự đến sự
phát triển của các ngành sản xuất và dịch vụ. Trong công nghiệp, quyết định 217
HĐBT tháng 11/1987 trao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp
Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi, xóa dần bao cấp, giảm bớt các
chỉ tiêu pháp lệnh, khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh mở rộng
sản xuất để thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp.
Thành tựu quan trọng trong giai đoạn này là bước đầu hình thành nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước.
2.2.1.2.2 Phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội:
Kể từ khi thống nhất đất nước, Việt Nam bắt đầu tiến trình tự do hóa tài chính kể
từ khi công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986. Ban đầu hệ thống tài chính
trong nước dường như được tự do hóa hoàn toàn, kể từ khi hội nghị lần thứ hai Ban

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 17


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI năm 1987 cho phép “ thực hiện mạnh mẽ chính
sách huy động vốn trong dân, trong các tổ chức kinh tế bằng nhiều hình thức, nhiều
kênh bảo đảm lợi ích của người gửi.”.
Ở thời điểm này, các tổ chức kinh tế được huy động vốn hoàn toàn tự do mà
không có bất kỳ một quy định nào về đảm bảo an toàn. Hậu quả tất yếu là cả hệ thống
sụp đổ do nó hoạt động theo kiểu tiền của người gửi sau được sử dụng để trả lãi cho
người gửi tiền trước( mô hình tháp ponzi).

Trong giai đoạn này, vấn đề vĩ mô hàng đầu của Việt Nam là xóa đói giảm
nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp cận với dòng chảy của khu vực
và quốc tế. Các biến động kinh tế tại Việt Nam thời kỳ 1997-1998 chịu ảnh hưởng lan
truyền từ khủng hoảng tài chính tiền tệ của khu vực Đông Á, với tư cách là một thành
viên của kinh tế khu vực. Tiêu biểu là trong hai năm 1997-1998, mức tăng lên hàng
năm của chỉ số giá tiêu dùng không vượt quá một con số. Chênh lệch giá tiêu dùng
giữa các tháng trong năm không nhiều, có tháng lên tháng xuống. Trong giai đoạn
1992-1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao- bình quân gần 9% mỗi năm. Động lực
tăng trưởng trước tiên gắn liền với mức đầu tư và tăng trưởng công nghiệp cao, được
hỗ trợ mạnh mẽ từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tới 2 tỉ USD mỗi năm,
đã đóng góp từ 5-10%GDP hàng năm.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 2 tỉ USD năm 1991 lên gấp hơn
4 lần sau 6 năm. Tuy vậy, cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ châu Á cũng làm tốc độ
tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại. Tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người 6%7% trong những năm 1990-1997 đã không thể tiếp tục duy trì và giảm xuống 4% vào
giai đoạn 1998-1999. Khó khăn tài chính của khu vực làm giảm lượng vốn FDI từ các
nhà đầu tư láng giềng và khiến nhiều dự án lâm vào trạng thái dở dang. Trị giá xuất
khẩu năm 1998 đạt 9,3 tỉ USD( năm 1997 là gần 9,2 tỉ USD), tăng không đáng kể so
với năm trước.
.2.2.1.3 Giai đoạn 2000-2008
2.2.1.3.1 phân bổ tổng giá trị của cải trong xã hội cho các chủ thể khác:
Giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Tổng giá trị của
cải xã hội cũng vẫn tập trung vào Nhà nước. Nhà nước thực hiện việc phân chia, phân
phối giá trị của cải xã hội thông qua chính sách thu, chi công. Giá trị của cải xã hội

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 19




SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 20


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

sang các thị trường bất động sản và tín dụng. Từng làn sóng đầu tư mới dồn về TTCK,
nhưng ở giai đoạn sau nguy cơ rủi ro cao hơn do tỷ trọng giao dịch cổ phần trên thị
trường phi tập trung (còn gọi là OTC) tăng lên. Đây là điểm rất khác với hoàn cảnh
kinh tế trong giai đoạn trước..
TTCK đã thực hiện nhiệm vụ dịch chuyển vốn từ những người không có cơ hội
đầu tư sinh lợi tới những người có khả năng tạo ra cơ hội đầu tư và chuyển vốn từ
những người tiết kiệm tới những người muốn tiêu dùng trong hiện tại qua đó nâng cao
hiệu quả chung của nền kinh tế, qua đó giúp cải thiện mức sống của người dân.
Đến đầu năm 2008, trước vận động bất lợi của TTCK và lạm phát tăng cao,
Ngân hàng nhà nước thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng đồng thời các công
cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Từ giữa tháng 1-2008, dự trữ bắt buộc đã tăng
thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Tới giữa
năm 2008, NHNN tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm. Đặc điểm đáng
chú ý của thời gian này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng, thậm chí cao hơn lãi suất
huy động dài hạn. Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng
và thắt chặt tiền tệ và không tạo nhiều tác động tới lãi suất. Vì vậy việc điều chỉnh
tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lại kết quả bình ổn thị
trường tiền tệ. So với giai đoạn trước đó thì chính sách tiền tệ trong năm 2008 sử dụng
nhiều công cụ với cường độ điều chỉnh mạnh hơn. Mức lãi suất thực dương cho thấy
các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác dụng ổn định kinh tế. Chi phí lãi vay cao kết hợp

Kể từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ổn định ở mức 7%-8%/năm,
nhưng từ năm đó lạm phát cũng liên tục tăng lên. Cuối năm 2007, lạm phát hai con số
(12,6%) đã trở lại. Đến đầu năm 2008: cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008
đã làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển đặc thù của nền kinh tế Việt Nam: nửa
đầu năm lạm phát cao và nửa cuối năm rơi vào tình trạng giảm phát. Sự đảo chiều từ
lạm phát sang giảm phát phản ánh tính bất ổn của nền kinh tế vĩ mô và theo đó các
công ty, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn
trong việc khôi phục sản xuất sau nhiều tháng chững lại. Điều đó khiến các lựa chọn
chính sách trở nên khó khăn hơn trong điều kiện ràng buộc giữa ổn định tốc độ tăng
trưởng kinh tế với nhiều thay đổi căn bản của hệ thống kinh tế vĩ mô.
Những thành quả phát triển và những khó khăn của nền kinh tế hiện nay đang
đặt nhiệm vụ điều hành vĩ mô Việt Nam trong một tình thế phức tạp hơn rất nhiều so

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 22


Môn tài chính tiền tệ

GVHD: PGS.TS.Lâm Chí Dũng

với kinh nghiệm giải quyết lạm phát trong quá khứ. Khó khăn chủ yếu của cách tiếp
cận này nằm ở việc tập hợp đầy đủ các số liệu thống kê tin cậy ở mức cần thiết.
2.2.1.4 Giai đoạn 2009 - đến nay
2.2.1.4.1 Phân bổ tổng giá trị của cải trong xã hội cho các chủ thể khác:
Giai đoạn này cũng giống như giai đoạn 2000-2008. Nhà nước vẫn thực hiện
việc phân chia, phân phối giá trị của cải xã hội thông qua chính sách thu, chi công, các
công cụ điều tiết.
2.2.1.4.2 Phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội:

biệt so với mức cao điểm là 11,9% GDP vào năm 2008. Tỉ giá hối đoái không chính
thức dao động trong biên độ +- 1% so với tỉ giá chính thức trong gần hết cả năm.
Nguồn đô la Mỹ dồi dào trên thị trường giúp cho Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
tăng cường dự trữ ngoại hối trong những tháng đầu năm 2012, hiện ước tính vào
khoảng 9 tuần nhập khẩu. Tốc độ tăng trưởng tín dụng đã giảm mạnh từ 32,4% vào
cuối năm 2010 xuống còn 14,3% vào cuối năm 2011. Thâm hụt ngân sách( theo tiêu
chí GFS) ước tính đã giảm xuống còn 2,7% GDP trong năm 2011 từ mức cao điểm
7,2% GDP năm 2009.
Việc ổn định môi trường kinh tế vĩ mô có giá của nó nhưng không ổn định kinh
tế có thể sẽ dẫn tới tổn thất cao hơn. Tăng trưởng GDP đã giảm từ 6,8% trong năm
2010 xuống còn 5,9% trong năm 2011, và tiếp tục giảm xuống mức 4% trong quý một
2012- khi tình trạng giá cả tăng cao đã làm giảm cầu trong nước, ảnh hưởng đến nhiều
ngành như xây dựng, sản xuất và công ích. Sản xuất công nghiệp chậm lại, lượng tồn
kho các mặt hàng chế biến chủ chốt tăng lên. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải
đóng cửa, giải thể hoạc tạm thời ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nỗ lực
bình ổn kinh tế có thể gây sụt giảm kinh tế theo chu kỳ nhưng xu hướng suy giảm
kinh tế trong vòng 5-6 năm trở lại đây chủ yếu là kết quả của quá trình cải cách cơ cấu
chậm trễ. Hiệu quả yếu kém của khu vực doanh nghiệp Nhà nước, ngân hàng và đầu
tư công đang là nguyên nhân tác động tiêu cực đến tiềm năng tăng trưởng dài hạn của
Việt Nam.
2.2.2. So sánh theo chiều ngang (áp dụng các tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính
Việt Nam trong từng khâu)

SVTH: nhóm 1- lớp K24-TCN1

Trang 24


Môn tài chính tiền tệ



Trang 25


Trích đoạn Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status