Một số giải pháp để xây dựng và phát triển Khu công nghiệp và Khu chế xuất ở Việt Nam đến năm 2010 - Pdf 38

Trờng đại học ngoại thơng
Khoa kinh tế ngoại thơng
Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Một số giải pháp để xây dựng và phát triển các
khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt nam
đến năm 2010
Giáo viên hớng dẫn : ts. Phạm duy liên
Sinh viên thực hiện : Nguyễn thị thuý hạnh
Lớp : n4 - k37C, đhnt
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
Hà nội - 2002
Mục lục
Lời mở đầu.......................................................................................................................1
chơng I
Một số vấn đề cơ bản về khu công nghiệp, khu chế xuất................2
I. Các khái niệm............................................................................................2
1. Khu công nghiệp.........................................................................................3
2. Khu chế xuất...............................................................................................4
3. Điểm giống và khác nhau giữa KCN và KCX ..........................................5
II. Vai trò của KCN,KCX trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nớc ta...........................................................................................................6
1. KCN,KCX là công cụ quan trọng để thu hút vốn ĐTNN, tiếp thu chuyển
giao công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới.........6
2. KCN, KCX góp phần tạo công ăn việc làm................................................7
3. KCN, KCX góp phần đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu ngoại tệ cho đất nớc.8
4. Phát triển KCN, KCX tạo ra sự tác động trở lại đối với sự phát triển kinh
tế trong nớc.....................................................................................................8
III.Quá trình hình thành và mô hình quản lý KCN, KCX.........................9
1. Quá trình hình thành các KCN, KCX.........................................................9
2. Mô hình quản lý các KCN, KCX ở nớc ta hiện nay...................................9

2010..............................................................................................................54
II. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
......................................................................................................................60
1. Đổi mới và hoàn thiện thể chế Nhà nớc....................................................60
2. Nâng cao chất lợng quy hoạch phát triển và xây dựng KCN, KCX........62
3. Tăng cờng công tác tiếp thị đầu t vào KCN, KCX...................................66
4. Đẩy nhanh tiến độ đền bù và giải phóng mặt bằng..................................67
5. Đầu t và phát triển hạ tầng có chất lợng cao.............................................69
6. Phát triển công nghệ và bảo vệ môi trờng...............................................71
7. Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực cho KCN, KCX..................73
8. Một số vấn đề khác cần quan tâm............................................................75
kết luận.........................................................................................................................79
danh mục tài liệu tham khảo............................................................................1
Phụ lục..............................................................................................................................2
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
Lời mở đầu
Qua hơn mời năm thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam đã đạt đợc
nhiều thành tựu đáng kể trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,. . .và nhờ
đó mà Đảng và Nhà nớc ta đã làm tăng thêm lòng tin của nhân dân đồng thời
tạo đợc uy tín rộng lớn với quốc tế. Hơn nữa, trong khu vực, xu thế hoà bình, ổn
định, hợp tác đang tiếp tục phát triển. Trên thế giới, xu thế quốc tế hoá, toàn cầu
hoá về kinh tế ngày càng mạnh và trở thành tất yếu. Đây là cơ hội lớn cho nớc
ta tranh thủ để thu hút mạnh hơn các nguồn lực bên ngoài so với những năm
qua. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, nền kinh tế của chúng ta hiện
nay đang đứng trớc rất nhiều thách thức to lớn nh sự yếu kém bên trong của nền
kinh tế mà chúng ta cha khắc phục đợc, những tác động tiêu cực của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực tuy không nh trớc đây nhng vẫn cha
bị triệt tiêu hoàn toàn. Nguy cơ tụt hậu hơn về kinh tế so với nhiều nớc trong
khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp và
lại phải đi lên trong môi trờng cạnh tranh quyết liệt.

ngắn, việc thu thập và xử lý thông tin gấp, gặp nhiều khó khăn nên nội dung bài
viết của em còn nhiều vấn đề bất cập và còn nhiều thiếu xót. Em rất mong đợc
sự đóng góp ý kiến và sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè về nội dung cũng nh
cách trình bày. Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tiến sỹ Phạm
Duy Liên - giáo viên khoa Kinh tế ngoại thơng, Trờng Đại học Ngoại Thơng đã
hớng dẫn tận tình, cho em nhiều lời khuyên quý báu, bổ sung cũng nh chỉnh lý
nội dung và hình thức nhằm giúp em hoàn thành khoá luận này.
chơng I
Một số vấn đề cơ bản về khu công nghiệp,
khu chế xuất
I. Các khái niệm
Xu thế hội nhập, toàn cầu hoá cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ
trong thập kỷ tới sẽ làm gia tăng một cách nhanh chóng sức ép cạnh tranh đối
với từng nền kinh tế, kể cả những nớc công nghiệp phát triển , những nớc công
2
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
nghiệp mới và những nớc công nghiệp đang phát triển.Tình hình đó đã đặt nền
kinh tế Việt Nam trớc những thử thách mới cũng nh những cơ hội mới. Để vợt
qua những thử thách này đồng thời tận dụng đợc những cơ hội mới, nền kinh tế
Việt Nam cần thu hút đợc mọi nguồn đầu t có thể từ cả trong nớc lẫn nớc ngoài
nhằm thông qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của toàn nền kinh tế.
Việt Nam cũng đã quan tâm đến việc nghiên cứu, ứng dụng khu công
nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) ngay từ những năm đầu thập kỷ 90. Với ý
nghĩa là công cụ thu hút vốn đầu t nớc ngoài (Fdi) và khuyến khích hoạt động
sản xuất xuất khẩu của các KCN, KCX ở nớc ta đã có những bớc phát triển t-
ơng đối tốt. Để tạo điều kiện cho mục đích nghiên cứu sâu hơn về KCN, KCX,
chúng ta hãy xem xét một số định nghĩa , khái niệm của các tổ chức trên thế
giới.
1. Khu công nghiệp
Tổ chức phát triển của Liên hợp quốc đã định nghĩa nh sau: KCN

niệm về KCX chỉ giới hạn cho một khu vực cụ thể riêng biệt đợc quy định rõ
ranh giới và mọi sự di chuyển của các luồng hàng hoá hay dịch vụ ra hoặc vào
khu vực đó đều đợc kiểm soát chặt chẽ.
Nh tên gọi của nó cho thấy, một KCX chủ yếu liên quan đến các hoạt
động sản xuất công nghiệp mặc dầu các hoạt động kinh doanh cũng đợc thực
hiện tại một số KCX. Do vậy thuật ngữ KCX tỏ ra thích hợp hơn cả so với
những thuật ngữ nh khu vực mậu dịch tự do hay khu vực xuất khẩu tự do. Tuy
nhiên dù dới tên gọi nào, hoạt động chủ yếu tại các KCX vẫn là hoạt động chế
tạo chứ không phải là hoạt động mua bán, cho nên để tránh nhầm lẫn, một thuật
ngữ nh nhau sẽ đợc áp dụng nh nhau cho các KCX tại tất cả các nớc.
Mặc dù KCX ở từng nớc có những quy định cụ thể khác nhau song
những đặc trng sau đây đợc coi là những đặc điểm của một KCX điển hình:
KCX là một khu đất thuộc lãnh thổ của một nớc đợc quy hoạch riêng ra,
thờng đợc ngăn bằng tờng rào kiên cố để tách biệt hoật động với phần nội địa.
4
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
Mục đích hoạt động của các KCX là thu hút các nhà sản xuất công
nghiệp nớc ngoài và trong nớc định hớng sản xuất xuất khẩu băng những biện
pháp đặc biệt u đãi về thuế quan, về các điều kiện mậu dịch và các loại thuế
khác.
Hàng hoá, t liệu sản xuất nhập vào KCX để sản xuất hàng xuất khẩu đợc
miễn thuế hải quan, nếu nhập khẩu từ KCX vào nội địa phải nộp thuế nhập
khẩu.
Những hãng hoạt động trong KCX đợc sử dụng cơ sở hạ tầng tốt nh đờng
giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp điện nớc . . . và giảm thiểu các thủ tục
hành chính.
Hàng hoá sản xuất ra ở các KCX chủ yếu để xuất khẩu.
Do đóng một vai trò to lớn trong việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài cho nên
mô hình KCX đợc rất nhiều quốc gia áp dụng, phát triển hoặc cải tiến cho phù
hợp với điều kiện của quốc gia mình.

nội.
Các nhà đầu t nớc ngoài lại thích hình thức KCN hơn vì nó giúp họ tân
dụng đợc một thị trờng rộng lớn của nớc tiếp nhận đầu t với những u đãi đặc
biệt.
II. Vai trò của KCN,KCX trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở nớc ta
1. KCN,KCX là công cụ quan trọng để thu hút vốn ĐTNN, tiếp thu
chuyển giao công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
của thế giới.
KCN, KCX ra đời nh một công cụ hữu hiệu đẩy nhanh khả năng thu hút
vốn đầu t nớc ngoài, đặc biệt là FDI để đạt đợc tốc độ tăng trởng cao trên cơ sở
tạo lập năng lực sản xuất mới và phát huy có kết quả nền kinh tế đất nớc của các
6
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
nớc đang phát triển trong xu thế quốc tế ngày nay. Chẳng hạn ở Đài Loan, trong
những năm đầu phát triển KCN đã thu hút khoảng 60% vốn FDI; ở Malaixia
trong 10 năm từ 1985 đến năm 1996 đã có 8.978 dự án đầu t về công nghiệp đã
đợc cấp giấy phép vào 12 KCX và 178 KCN với tổng số vốn đầu t 85,57 tỷ
USD, trong đó vốn FDI chiếm 53,3%, vốn trong nớc chiếm 46,5%.[6]
Bên cạnh việc thu hút vốn ĐTNN, một số đóng góp rất lớn nữa của KCN,
KCX đối với các nớc đang phát triển là góp phần vào việc tiếp thu công nghệ
hiện đại. Để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trờng thế giới và thị tr-
ờng nội địa, các nhà ĐTNN thờng đa vào các KCN, KCX các công nghệ tơng
đối hiện đại thậm chí là tiên tiến, hàng đầu thế giới. Mặc dù ở các KCN, ngời ta
thờng chủ yếu thực hiện các hoạt động sản xuất tiêu dùng song quá trình huyển
giao công nghệ vẫn diễn ra dới nhiều hình thức: đào tạo công nhân nớc chủ nhà
để sử dụng máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất...Các công ty trong các KCX
có thể chuyển giao một số công nghệ và giúp đỡ về mặt kỹ thuật cho các nhà
cung cấp địa phơng hoặc các công ty sản xuất các chi tiết sản phẩm sản xuất
trong KCX. Trong thời gian làm viêc trực tiếp với phía nớc ngoài, các chuyên

tính bình quân một công nhân trong KCX tạo ra giá trị khoảng 5000-10000
USD/năm.[3]
Ngoài ra phát triển KCN,KCX còn tạo điều kiện tăng thu ngoại tệ cho
đất nớc thông qua việc cho thuê đất đai, kho bãi, bến cảng và các công trình cơ
sở hạ tầng khác. Việc tổ chức và dịch vụ trong KCN, KCX, thu một số loại thuế
cần thiết nh thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đối với ngời có thu nhập cao, phí
và các khoản lệ phí khác cũng tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhầ nớc.
4. Phát triển KCN, KCX tạo ra sự tác động trở lại đối với sự phát
triển kinh tế trong nớc
Phát triển KCN,KCX tạo ra sự tác động trở lại đối với sự phát triển kinh
tế thông qua việc sử dụng nguyên vật liệu trong nớc, thực hiện lắp ráp và chế
biến cho các KCX qua đó tạo điều kiện để khai thác hợp lý, có hiệu quả các
nguồn tài nguyên trong nớc cũng nh lợi hế so sánh của các nớc có KCN,KCX
8
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
.Thông qua việc lắp ráp và chế biến thành phẩm cho KCN, KCX số lao động
tăng lên đáng kể qua đó góp phần giải quyết việc làm cho xã hội.
Ngoài ra, KCN, KCX còn có ảnh hởng trực tiếp, cũng nh gián tiếp tới
việc quảng cáo cho quan điểm mở cửa trong thơng mại và đầu t của nớc chủ nhà
vốn có truyền thống hớng nội. Việc phát triển KCN, KCX tạo điều kiện để nớc
chủ nhà tiếp cận nhanh chóng với thị trờng quốc tế, thu hẹp những thay đổi về
cơ cấu mẫu mã hàng hoá qua những thông tin mà nền kinh tế nhận đợc từ phơng
diện các doanh nghiệp trong KCN, KCX, lợi dụng đợc các mối quan hệ quốc tế
sẵn có và mạng lới khách hàng của phía đối tác để tăng khả năng hoà nhập của
thị trờng trong nớc vào thị trờng thế giới.
III.Quá trình hình thành và mô hình quản lý KCN, KCX
1. Quá trình hình thành các KCN, KCX
Kể từ khi Nghị định 322/HĐBT đợc ban hành về quy chế KCX ngày 18
tháng 10 năm 1991 đến nay, Chính phủ đã ban hành 3 Nghị định bao gồm:
322/HĐBT ban hành quy chế KCX, Nghị định 192/CP ban hành quy chế KCN

hiện nay đang áp dụng là mô hình KCN, KCX, đặc biệt là ở các nớc đang phát
triển nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Chính vì vậy, trong mấy thập kỷ qua, riêng ở Châu á - Thái Bình Dơng
đã cho ra đời hàng trăm KCN, KCX. ở Indonexia có 41121 ha đất đợc dùng vào
việc xây dựng các KCN, Philipin đã mở 54 KCN trong đó có 41 khu đang hoạt
10
Thủ tướng
chính phủ
Ban quản lý các
KCN Việt Nam
Ban quản lý các
KCN cấp tỉnh
Khu công nghiệp,
khu chế xuất
Các cơ quan Bộ,
Ban , ngành TW
UBND cấp
thành phố, cấp
tỉnh
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
động, 7 khu đang xây dựng, 6 khu đang quy hoạch phát triển. Đặc biệt Malaixia
có tới 165 KCN, trong đó 85 khu đang hoạt động, 80 khu khác đang trong quá
trình phát triển. Đài Loan là một trong những nớc đi đầu xây dựng các KCN,
KCX, qua gần 40 năm đến nay đã xây dựng đợc 3 KCX, 80 KCN và 2 KCNC.
ở Thái Lan hiện nay cũng có 40 KCN tổng hợp phân bố khắp cả nớc. [6]
Tuy nhiên, theo thực tế của nhiều nớc trên thế giới về tổ chức KCN,
KCX cho thấy số lợng các KCN, KCX thành công thì ít mà thất bại thì nhiều.
Theo số liệu đã tổng kết, hiện tại trên thế giới có khoảng 200 KCN đang hoạt
động nhng chỉ có khoảng 30-35 khu đợc đánh giá là thành công (chiếm khoảng
20%), không dới 150 khu gặp khó khăn do sự quản lý trì trệ và luật lệ phiền hà.

công ty địa phơng tiếp xúc với các nhà đầu t nớc ngoài, hấp thụ các kỹ năng
mới nhất của nớc ngoài và mở rộng mối quan hệ với thị trờng. Sự đóng góp của
các nhân tố trong nớc và việc mở rộng xuất khẩu cũng rất gây ấn tợng và vợt xa
sự mong đợi của các nhà hoạch định chính sách, những ngời đã đánh giá quá
thấp những kỹ năng sản xuất và quản lý của công nhân và các nhà quản lý Hàn
Quốc. Những kỹ năng này đợc tiếp thu trong thời kỳ thuộc địa của Nhật và
thông qua những mối liên hệ quân sự với Mỹ trong giai đoạn 1945-1960. Nhờ
có những kỹ năng sản xuất-xuất khẩu và khả năng quản lý trong nớc này (cái
mà hầu hết các nớc đang phát triển đều thiếu) mà ngày nay, Hàn Quốc đã có thể
dựa chủ yếu vào các công ty thơng mại nớc ngoài để đảm bảo các dự trữ tài
chính. Chính nhờ vào các khả năng này đã giúp cho Hàn Quốc không chỉ trở
thành ngời cạnh tranh thống trị trên thị trờng thế giới về xuất khẩu và các chế
phẩm công nghiệp nhẹ trong những năm 1960-1970 mà cho đến nay nớc này
vẫn tiếp tục giữ vị trí hàng đầu thế giới trong sản xuất nhiều mặt hàng công
nghiệp nhẹ nh hàng may mặc, mỹ phẩm cao cấp,... Để đảm bảo sự phát triển
bền vững và lâu dài từ nay về sau , Hàn Quốc đang hết sức nỗ lực để phát triển
các KCX mạnh hơn nữa bằng cách thay đổi cơ cấu sản xuất theo hớng tăng tỷ lệ
công nghiệp nặng trong giá trị sản lợng công nghiệp của KCX đồng thời tập
chung vào các mặt hàng có hàm lợng công nghệ cao.[1]
2. Kinh nghiệm của Đài Loan
12
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
Có thể nói Đài Loan là một trong những quốc gia vừa đi tiên phong vừa
gặt hái đợc rất nhiều thành công trong việc xây dựng và phát triển KCN, KCX.
Từ cuối những năm 50, các nhà hoạch định chính sách kinh tế Đài Loan đã
đánh giá cao vị thế của Đài Loan trong hệ thống kinh tế khu vực. Theo họ, Đài
Loan thuộc loại hình kinh tế hải đảo, đất hẹp ngời đông, tài nguyên khoáng sản
nghèo nàn, mức độ phụ thuộc của nền kinh tế trong nớc vào hoạt động ngoại th-
ơng rất lớn. Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì việc hình thành một cơ cấu kinh
tế hớng ngoại mang ý nghĩa sống còn đối với Đài Loan.

nay Bộ kinh tế (Cục công nghiệp) thống nhất quản lý nhà nớc đối với các KCN
theo nguyên tắc chính quyền trung ơng trực tiếp quản lý các khu quan trọng
nhất nằm trong quy hoạch đợc chính phủ trung ơng phê duyệt, các khu còn lại
do trung ơng hoặc t nhân quản lý. Loại hình KCN rất đa dạng bao gồm các
KCN chuyên ngành dầu khí, ôtô, xi măng, công nghệ cao,..
Điểm nổi bật trong vấn đề phân bố các KCN của Đài Loan là ở chỗ
huyện nào cũng có KCN, mỗi KCN là một hạt nhân thúc đẩy mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh trong vùng.
Trong những năm tới, Đài Loan tiếp tục tiến hành đổi mới thiết bị kỹ
thuật, thay đổi ngành nghề trong các xí nghiệp và hiện đại hoá hạ tầng kỹ thuật
các KCN hiện có, tiếp tục xây dựng một số KCN đế đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế của Đài Loan trong thế kỷ 21.
Qua thực tiễn xây dựng và phát triển KCN, KCX và KCNC ở Đài Loan
chúng ta đúc rút đợc rất nhiều kinh nghiệm quý có thể xem nh là những gợi ý
để chúng ta tham khảo: muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ cao và
hiệu quả nhất thiết phải đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển các KCN (bao
gồm cả KCX và KCNC). Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể của từng tỉnh trong cả
nớc mà có thể tiến hành xây dựng một hoặc vài KCN, thậm chí từng huyện
cũng nên có KCN. Tuy nhiên vấn đề cốt lõi là ở chỗ phải làm tốt công tác quy
hoạch phát triển công nghiệp nói chung và quy hoạch hình thành các KCN trên
phạm vi cả nớc đảm bảo tính thống nhất và mối liên hệ liên hoàn, tơng hỗ trong
phát triển giữa các KCN với các hoạt động sản xuất kinh doanh khác nh nông,
lâm, ng nghiệp. Trong quá trình đô thị hoá phải xác định rõ mục tiêu xây dựng
14
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
mỗi KCN là một trung tâm có tác dụng lan toả thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế
xã hội trong vùng theo chiều hớng kinh tế mở.[1]
3. Kinh nghiệm của Philipine
Philipine là nớc điển hình không thành công trong việc xây dựng và
phát triển KCX. Năm 1967, Philippin đa ra đạo luật về thành lập Cục quản lý

đây vốn chỉ có hơn 5.000 ngời vì vậy phải di dân từ các vùng lân cận đến, điều
đó đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng khá lớn làm cho chi phí kết cấu hạ tầng
tăng nhanh.
Thứ hai, chi phí xây dựng KCX Bataan rất lớn nhng từ khi thành lập khu
này chỉ thu hút đợc khoảng một nửa số công ty vào hoạt động so với dự kiến.
Điều này làm cho chi phí sử dụng ngày càng tăng so với mức bình thờng.
Thứ ba, ngay sau khi KCX Bataan đợc thành lập, chính phủ Philippine
đã có một số thay đổi về chính sách mở rộng kho hàng thuế quan. Kế hoạch này
không chỉ áp dụng cho KCX Bataan mà còn áp dụng cho các KCX khác, quyết
định đó làm cho việc tổ chức KCX Bataan trở nên thừa vì quyết định này thúc
đẩy việc sản xuất hàng xuất khẩu ở phạm vi rộng hơn KCX Bataan đồng thời nó
góp phần thúc đẩy sản xuất hàng công nghiệp bên ngoài KCX.
Nguyên nhân thứ t và cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng
nhất là hệ thống chính sách không hợp lý: Nhiều xí nghiệp trong KCX cho rằng
một số khuyến khích về tài chính của họ bị giảm dần, ví dụ họ phải đóng thuế
đất đai trong khi trớc đó chính phủ đảm bảo là sẽ đợc miễn. Các chi phí khuyến
khích mà chính phủ áp dụng cho doanh nghiệp KCX không cân xứng với chi
phí cho kết cấu hạ tầng. Các chi phí dịch vụ và chi phí vận tải quá cao, phiền hà
về thủ tục, sự rút ngắn thời hạn hợp đồng cho thuê nhà xởng, nạn trộm cắp,...Tất
cả những vấn đề đó gây mất lòng tin của các nhà đầu t dẫn đến ngày càng nhiều
doanh nghiệp không thực hiện hợp đồng và rút khỏi KCX cũng nh không thu
hút đợc các công ty xuyên quốc gia đầu t vào KCX.[1]
4. Một số nhận xét chung
16
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
Qua phân tích kinh nghiệm của một số KCN, KCX điển hình ở một số
nớc trong khu vực nh trên, chúng ta có thể rút ra một số một số nhận xét chung
khi xây dựng và phát triển một KCN, KCX.
Về nguyên nhân thành công:
Thứ nhất, môi trờng chính trị, xã hội ổn định, chính sách nhất quán, cởi

thể ban hành những qui định cho phù hợp. Thông thờng, ở thời kỳ đầu mới
xây dựng KCN, KCX thì nên đặt ra ngay mục tiêu ngắn hạn, đến khi nào đã
phát triển ổn định thì sẽ đặt ra hay hớng tới những mục tiêu lâu dài - mục
tiêu chiến lợc.
2. Xác định rõ thời gian, địa điểm và quy mô xây dựng KCN, KCX.
Đây là những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển các KCN, KCX
bởi vì nó sẽ giúp tiết kiệm đợc chi phí triển khai và phù hợp với khả năng tài
chính cũng nh quản lý của đất nớc. Ngoài ra, cũng cần phải biết trớc hoặc
dự đoán trớc đợc xu hớng đầu t để có thể tận dụng đợc tâm lý và thời cơ đầu
t thuận lợi nhất .
3. Cần phải làm tốt công tác xúc tiến, vận động đầu t vào các KCN,
KCX. Công tác này cần phải đợc tiến hành một cách chủ động, liên tục và
hiệu quả, tránh thụ động (xây dựng KCN trớc rồi mới tiến hành nghiên cứu
thị trờng khách hàng đầu t và lên kế hoạch tiếp thị, quảng cáo,..)
4. Phải lựa chọn đợc các loại ngành công nghiệp, loại hình sản phẩm
phù hợp. Sản phẩm làm ra từ các KCN, KCX phải đợc định hớng trớc về
thị trờng tiêu thụ. Chúng phải có thị trờng tiêu thụ trong nớc đồng thời có
thể tìm đợc thị trờng tiêu thụ trên thế giới. Ngoài ra, sản phẩm làm ra từ
các KCN, KCX phải tận dụng đợc các lợi thế so sánh của nớc chủ nhà, ví
dụ lợi thế về tài nguyên hay nguồn nhân lực.
5. Cần phải xây dựng một hệ thống chính sách khuyến khích
tài chính đối với các nhà đầu t, có sự u đãi thoả đáng.
6.Cần phải xây dựng đợc hệ thống kết cấu hạ tầng đầy đủ nh đờng
giao thông, nhà xởng, kho tàng, hệ thống điện, nớc
7.Bộ máy quản lý KCN, KCX phải hoạt động tích cực, thực thi có
hiệu quả chế độ một cửa đối với các nhà đầu t.
8.Cuối cùng phải lựa chọn đúng đối tác. Trong quá trình vận động
xúc tiến đầu t, quảng cáo tiếp thị thờng có nhiều nhà đầu t đến tìm hiểu,
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh

đầu t nớc ngoài còn hiệu lực là 33960 dự án trong các hình thức đầu t trên.Tuy
nhiên, FDI ở nớc ta chủ yếu tập chung vào các ngành công nghiệp, khách sạn và
văn phòng căn hộ, cha hớng vào phát triển các KCN, KCX , KCNC.
Trong giai đoạn này, các ngành công nghiệp đã thu hút đợc FDI rất lớn,
đặc biệt là ngành dầu khí, thu hút đợc nhiều FDI nhất, gần 3000 triệu usd vốn
đăng kí trong đó vốn thực hiện lên tới 5000 triệu usd (đạt mức 167% vốn đăng
kí). Tiếp theo đó là ngành : Dệt may, viễn thông, ôtô, hoá chất, điện tử. . .
Dòng vốn trong thời gian này chủ yếu đến từ khu vực Châu á-Thái Bình
Dơng (23099 triệu usd chiếm 70,91% tổng FDI của cả nớc, trong đó FDI của
các nớc asean là: 7999 triệu usd chiếm 24,56%). Tiếp theo là Châu Âu
(6856 triệu usd chiếm 21,05%); Châu Mỹ (2574 triệu usd chiếm 7,9%) và
các nớc khác (1399 triệu usd chiếm 4,3%).
Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây, đầu t nớc ngoài ở Việt Nam rất phát
triển.Theo Bộ Kế Hoạch và Đầu T, trong hai tháng kể từ 31/06 đến 31/08/2002,
đầu t nớc ngoài có chiều hớng gia tăng, cả nớc đã có thêm 184 dự án đầu t trực
tiếp nớc ngoài với tổng số vốn đăng kí là 458 triệu usd(kể cả vốn tăng thêm
của dự án đang hoạt động) trong đó có 155 dự án là 100% vốn đầu t nớc ngoài
với khoảng 435 triệu usd.[5]
Trong tổng số vốn đầu t nứơc ngoài thực hiện trong 2 tháng này đạt gần
292 triệu USD, thì khu vực 100% vốn đầu t nớc ngoài cũng dẫn đầu với 67 triệu
usd trong khi đó khu vực BOT đạt 40 triệu usd, khu vực dự án liên doanh đạt
38 triệu USD (không kể 147 triệu usd thực hiện theo các hợp đồng dâù khí).
Sự lớn mạnh nhanh chóng của khu vực dự án 100% vốn ĐTNN thể hiện tính cởi
mở thông thoáng của môi trờng đầu t và môi trờng kinh doanh của Việt nam
hiện nay.
Các dự án FDI đã đa các ngành công nghiệp phát triển mạnh. Trong đó,
các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đợc chú trọng và có nhiều dự án
20
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn T hị Thuý Hạnh
đầu t nớc ngoài quan tâm. Sự phát triển nhanh của các ngành công nghiệp (đặc

đồng đều kinh tế trên các địa bàn.
Các dự án đầu t nớc ngoài đã dần chuyển hớng tập chung ở các KCX và
KCN với 25 dự án và vốn 88,4 triệu usd vốn pháp định, 50, 4 triệu usd trong
đó phía nớc ngoài góp 95,7%. Bình quân mỗi dự án có vốn đầu t là 3,53 triệu
usd tuy nhiên số vốn đầu t nớc ngoài cho mỗi dự án có xu hớng tăng dần so
với những năm trớc.
Sang năm 2002, Bộ Kế Hoạch và Đầu T cho biết thực hiện vốn đầu t
phát triển toàn xã hội 9 tháng đầu năm ớc đạt 135.400 tỷ đồng, bằng 77,4% kế
hoạch năm và tăng 12,5% so với cùng kì năm trớc, trong đó vốn của nhà n-
ớc(bao gồm vốn ngân sách của nhà nớc, vốn tín dụng và vốn của các ngân sách
của nhà nớc) đạt khoảng 73.500 tỷ đồng, tăng 8,4%, vốn ngoài quốc doanh tăng
37.800 tỷ đồng, tăng 32,6% và vốn trực tiếp nớc ngoài ớc khoảng 24.100 tỷ
đồng tăng 9,5%.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status