Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
LỜI MỞ ĐẦU
Phát huy truyền thống tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách, lá rách
ít đùm lá rách nhiều”. CTXH nói chung và CTĐX xuất nói riêng cho những
người chịu thiệt thòi, không may rơi vào hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống
luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. CTĐX được xác định là
một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm dảm bảo tính cân đối giữa
phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Là một lĩnh vực của đời sống xã hội,
CTĐX mang những đặc trưng cơ bản: tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội -
quốc phòng - an ninh; trực tiếp giúp đỡ hàng triệu người và gia đình mỗi khi
gặp khó khăn hoạn nạn.
Ở một đất nước mà hàng năm luôn phải hứng chịu hậu quả của nhiều đợt
thiên tai, bão lũ, hạn hán; hàng triệu người rơi vào hoàn cảnh thiếu đói, mất
người thân, mất tài sản, mất nhà ở, mất phương tiện sản xuất…thì CTĐX là
một hoạt động không thể thiếu được. Để giữ vững ổn định chính trị, kinh tế -
xã hội cần đăc biệt có chính sách hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai,
cứu đói, giúp nhân dân sớm ổn định đời sống và sản xuất.
Giai đoạn 2000 - 2005 là giai đoạn mà mỗi năm trung bình có từ 4 - 6
cơn bão lớn kèm theo mưa, lũ cộng với rất nhiều đợt hạn hán, sạt lở đất làm
chết hàng trăm người, cuốn trôi tài sản và nhà ở của hàng nghìn gia đình gây
cảnh thiếu đói ở nhiều vùng, địa phương. Trước tình hình đó, công tác CTĐX
nhìn chung đã được tổ chức thực hiện tương đối tốt, đạt được nhiều thành tựu
to lớn, song vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót cần phải tiếp tục được nghiên
cứu và khắc phục trong thời gian tới.
Giai đoạn tới, 2006 - 2010 là giai đoạn được dự báo là tình hình thời tiết
sẽ có nhiều biến động bất thường, công tác cứu trợ cần phải được tổ chức kịp
thời và hiệu quả hơn nữa. Do đó, Đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh công tác
cứu trợ đột xuất ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010” xin mạnh dạn đưa ra một
số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, góp phần đẩy mạnh hơn nữa
công tác CTĐX ở Việt Nam. Mặc dù đã được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
1
Trợ giúp xã hội.
* Cứu tế xã hội:
Trong tiếng Hán, chữ tế có nghĩa là giúp, cứu tế xã hội là cứu giúp cho
các thành viên trong xã hội khi họ gặp phải rủi ro hoặc bất hạnh nào đó mà
cuộc sống bị đe doạ nghiêm trọng, nếu không có sự cứu tế thì họ và gia đình
có thể bị nguy hại đến cuộc sống, có thể dẫn đến cái chết (chết đói, chết
bệnh…). Cứu tế xã hội, vì vậy mang tính tức thời, tính “cấp cứu” nhằm giúp
cho đối tượng tạm thời thoát khỏi tình cảnh hiểm nghèo. Cứu tế xã hội có thể
bằng tiền hoặc hiện vật, trong nhiều trường hợp, cứu tế bằng hiện vật có ý
nghĩa thiết thực hơn. Cứu tế xã hội chủ yếu giúp cho những đối tượng trong
một hoàn cảnh nào đó không thể tự lo được cuộc sống cho bản thân và gia
đình (trong một thời điểm hoặc một khoảng thời gian nào đó). Ví dụ, sự cứu
giúp của xã hội cho những người già cô đơn không còn khả năng lao động,
không có bất kỳ nguồn thu nhập nào để trang trải cuộc sống thường ngày.
Hoặc những người bị thiên tai mất hết hoa màu, tài sản và các phương tiện
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
sinh sống, cộng đồng và xã hội phải cứu tế cho họ ngay tại thời điểm đó, nếu
không cuộc sống của họ sẽ bị đe doạ nghiêm trọng, họ có thể bị chết đói, chết
khát hoặc chết vì dịch bệnh.
Như vậy, cứu tế xã hội có thể hiểu là sự giúp đỡ nhất thời bằng tiền hoặc
hiện vật cho những đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh đột xuất hoặc không thể tự
lo liệu được cuộc sống, nhằm giúp họ thoát ngay ra khỏi tình trạng nguy kịch,
đời sống bị đe doạ nghiêm trọng.
* Trợ giúp xã hội:
Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm bằng tiền, hiện vật hoặc các điều kiện
vật chất và tinh thần khác của cộng đồng và xã hội cho các đối tượng khi họ
gặp phải khó khăn hoặc sa sút nào đó. Mặc dù họ vẫn cố gắng để tự lo liệu
cuộc sống, nhưng nếu không có sự giúp đỡ thì cuộc sống của họ ngày càng trở
nên khó khăn và dễ rơi vào cảnh bần cùng. Trợ giúp xã hội nhằm tạo cho đối
2. Cứu trợ đột xuất và công tác cứu trợ đột xuất
2.1. Khái niêm
Cứu trợ đột xuất là sự giúp đỡ các điều kiện sinh sống của Nhà nước,
cộng đồng và xã hội cho những thành viên khi họ gặp phải những khó khăn và
rủi ro bất ngờ như thiên tai, địch hoạ, hoả hạn, tại nạn…làm cuộc sống tạm
thời bị đe doạ, nhằm giúp họ nhanh chóng khắc phục những khó khăn, rủi ro,
ổn định cuộc sống và hoà nhập trở lại cộng đồng. CTĐX bao gồm các chính
sách chế độ, biện pháp nhằm cứu giúp những thành viên trong cộng đồng mỗi
khi gặp rủi ro bất hạnh trong cuộc sống, có thêm điều kiện vượt qua khó khăn
sớm ổn định cuộc sống sản xuất.
Công tác cứu trợ đột xuất: bao gồm tổng hợp tất cả các hoạt động liên
quan đến CTĐX cho các đối tượng, từ khâu xây dựng chính sách, huy động
nguồn lực đến khâu tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trong công tác
CTĐX thì khâu huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện cứu trợ được coi là
khâu có ý nghĩa quan trọng nhất, kết quả của nó có ý nghĩa quyết định đến
thành công hay thất bại của công tác CTĐX.
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
2.2. Đối tượng của cứu trợ đột xuất.
Đối tượng của CTĐX rất rộng, là tất cả mọi thành viên trong xã hội,
không phân biệt vị thế và thành phần của họ. Nhưng những đối tượng này chỉ
được trợ giúp khi họ gặp phải những rủi ro bất hạnh trong cuộc sống do những
nguyên khác nhau, mà nếu không có sự CTĐX (tức thời) thì cuộc sống hiện
tại của họ sẽ bị đe doạ nghiêm trọng.
CTĐX thường áp dụng cho các đối tượng sau:
- Những người bị thiên tai, hoả hoạn…làm mất một phần hoặc toàn bộ
nhà ở, hoa màu, tài sản và các phương tiện sinh sống.
- Những người bị thiếu lương thực trong thời kỳ giáp hạt, do sống ở
những vùng điều kiện tự nhiên không thuận lợi hoặc những người bị mất mùa
đột xuất mà không có nguồn hỗ trợ nào khác, bị lâm vào cảnh thiếu đói.
phần lớn công việc của CTĐX. Từ khi chiến tranh kết thúc, đói giáp hạt là vẫn
một hiện tượng tuy không còn phổ biến nhưng vẫn thường xuyên xảy ra một
cách cục bộ ở nơi này hay nơi khác trên đất nước ta mà phần lớn là đói giáp
hạt do hậu quả của thiên tai. Chính vì vậy hỗ trợ khi có đói giáp hạt vẫn là một
nội dung công việc của CTĐX.
2.4. Nguyên tắc của cứu trợ đột xuất
CTĐX cần coi trọng các nguyên tắc:
1- Nắm chắc tình hình, luôn có kế hoạch dự phòng sát với từng vùng,
từng địa phương.
2- Việc cứu trợ phải nhanh chóng, kịp thời, đúng đối tượng, đúng chính
sách đến tận tay người cần cứu trợ.
3- Cứu trợ tập trung vào những vùng tổn thất nặng, cứu trợ cho những
người không có khả năng tự cứu mình, không bình quân dàn đều; cứu trợ để
nâng đỡ vượt qua khó khăn, không cứu trợ để ỷ lại.
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
4- Là trách nhiệm của cả 3 phía: Nhà nước, cộng đồng xã hội và người
cần cứu trợ, trong đó chú ý phát huy sức mạnh cộng đồng, cứu trợ kịp thời tại
chỗ ngay sau khi có thiên tai…
2.5. Nguồn kinh phí và quá trình tổ chức thực hiện.
Trước đây và thậm chí cho tới nay, nguồn kinh phí để thực hiện CTĐX
phần lớn là từ ngân sách nhà nước và một phần là do sự đóng góp của cộng
đồng và xã hội.
Cụ thể:
- Ngân sách nhà nước cân đối hàng năm; ngân sách tỉnh, huyện tự cân
đối;
- Do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ;
- Trợ giúp của nước ngoài, tổ chức quốc tế hỗ trợ trực tiếp cho địa
phương hoặc thông qua chính phủ, các đoàn thể xã hội.
Trường hợp các nguồn kinh phí trên không đủ để thực hiện cứu trợ xuất
nhiệm cũng như nghĩa vụ của mình. Bởi vậy có thể nói, CTĐX chính là một
hoạt động thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội ta.
2. Phù hợp với truyền thống của người Việt Nam.
Người Việt Nam từ bao đời nay đã có truyền thống tương thân tương ái,
“lá lành đùm lá rách, là rách ít đùm lá rách nhiều”, “một miếng khi đói bằng
một gói khi no”…cứu giúp nhau mỗi khi một hay một số thành viên của mình
gặp khó khăn.
Mỗi khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra thì tất cả cộng đồng đều chung tay,
góp sức giúp nhau khắc phục hậu quả, sớm ổn định sản đời sống và sản xuất.
Và càng ngày thì truyền thống này càng được phát huy thể hiện những nghĩa
cả cao đẹp và tình thần đoàn kết dân tộc của dân tộc ta. Điều này được thể
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
hiện khá rõ qua những thành công của hàng loạt các chương trình như: tấm
lòng vàng, quỹ từ thiện, ủng hộ đồng bào bão lụt…
Bởi vậy, CTĐX là hoạt động vừa thể hiện truyền thống của người Việt
Nam vừa là hoạt động nhằm phát huy những truyền thống này. Nhờ hoạt động
cứu trợ này lòng tin, tính đoàn kết trong nhân dân ngày càng được tăng cường
và củng cố.
3. Phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục hậu quả thiên tai
Đúng như khái niệm về cứu trợ đột xuất đã trình bày ở trên, CTĐX là sự
giúp đỡ các điều kiện sinh sống của Nhà nước, cộng đồng và xã hội cho những
thành viên khi họ gặp phải những khó khăn và rủi ro bất ngờ như thiên tai,
địch hoạ, hoả hạn, tại nạn…nhằm giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả
thiên tai, ổn định cuộc sống và hoà nhập trở lại cộng đồng. Khi thiên tai, địch
hoạ chưa xảy ra, CTĐX giúp cho các đối tượng (cộng đồng) tăng khả năng
phòng ngừa và đối phó với những hậu quả xấu do thiên tai, địch hoạ gây ra
như: xây dựng hệ thống đê điều, kè cống, trồng rừng chắn gió, di dời dân đến
nơi an toàn; khi thiên tai xảy ra, CTĐX giúp các đối tượng giảm nhẹ ảnh
hưởng của chúng, thoát khỏi nơi nguy hiểm và khi thiên tai đã xảy ra rồi,
một cuộc sống tốt hơn, phát triển kinh tế gia đình. Mỗi “gia đình là tế bào xã
hội”, kinh tế gia đình của các đối tượng này phát triển và giàu lên cũng tức là
kinh tế đất nước phát triển và giàu lên.
Mỗi cá nhân chỉ có thể phát triển được nếu họ có điều kiện sống, sản xuất
tốt, không bị cản trở gì. Thực vậy, “người” có công đầu trong việc tạo cho cá
nhân nhũng điều kiện này chính là CTĐX.
Bởi vậy có thể nói, công tác CTĐX là hoạt động góp phần tích cực vào
sự phát triển kinh tế - xã hội.
III. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC CỨU
TRỢ XÃ HỘI ĐỘT XUẤT.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
CTĐX là một trong những mảng công tác quan trọng của hoạt động
BTXH, cũng như trong hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam. BTXH cho
những người chịu thiệt thòi trong cuộc sống luôn luôn được Đảng và nhà nước
ta quan tâm. Coi đó là một nhiệm vụ quan trọng để ổn định và phát triển kinh
tế đất nước.
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, trước tình hình khó khăn
của đất nước và nhân dân lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng tới
công tác CTXH. Người coi nạn đói cũng như nạn dốt và nạn ngoại xâm là ba
thứ giặc tệ hại nhất cần phải thanh toán và Bộ Cứu tế xã hội đã được thành lập
phụ trách hoạt động CTXH (gồm cả CTĐX và CTTX).
Từ đó cho tới nay, công tác CTXH đột xuất luôn được tổ chức thực hiện
ngày càng rộng rãi. Hoạt động của nó luôn luôn được gắn chặt với hoạt động
của các Bộ, ban ngành chuyên môn, đầu tiên là với Bộ Cứu tế xã hội và tiếp
theo là Bộ Lao động và cuối cùng là Bộ LĐTBXH.
CTĐX có hai giai đoạn là cứu trợ ban đầu (trong và sau khi xảy ra thiên
tai phải tìm kiếm người, cưu mang những trường hợp không còn nhà ở, đói,
rét, đảm bảo an toàn cuộc sống…) và cứu trợ giải quyết hậu quả sau các biến
cố (hỗ trợ để giải quyết những hậu quả để lại sau thiên tai, địch hoạ, thông
lương thực - thực phẩm, quần áo… và nạn đói được đẩy lùi.
2. Giai đoạn từ 1965 – 1975
Đây là giai đoạn miền Bắc bị tàn phá nặng nề của chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ. Hàng vạn dân, nhà cửa, ruộng nương tài sản bị huỷ hoại; đau
thương tang tóc đè nặng, con mất cha, vợ mất chồng, côi cụt goá bụa…Thêm
vào đó là ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, nhất là trận lụt năm 1971 ở các tỉnh
vùng Đồng bằng Sông Hồng, gây nên cảnh mất mùa, đói kém. Nhiệm vụ của
công tác CTĐX lúc này là tập trung chủ yếu giúp đồng bào nhân dân chịu ảnh
hưởng của thiên tai đói kém; những vùng chịu ảnh hưởng của bom đạn Mỹ
(1)Hồ chí Minh toàn tập- nxb Sự thật, T. IV, tr . 65
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
gây nên nhằm ổn định đời sống nhân dân; tiếp tục tăng gia sản xuất và chiến
đấu chống chiến trang phá hoại bằng không quân của Mỹ, đồng thời vẫn chi
viện tối đa sức người, sức của cho tiền tuyến lớn ở miền Nam. Thực hiện
nhiệm vụ này Chính phủ đã ban hành Thông tư 08/NV ngày 29/4/1967 về việc
cứu tế cho nạn nhân của thiên tai bão lụt.
Nhìn chung, chính sách CTĐX trong thời kỳ này tập trung chủ yếu vào
trợ cấp (cứu tế) cho những nạn nhân của thiên tai, bão lụt, mất mùa và những
nạn nhân của chiến tranh. Mức trợ cấp xã hội ở cộng đồng trước những năm
1975 chủ yếu bằng thóc và quỹ được hình thành từ hợp tác xã nông nghiệp.
Chính sách trợ cấp bằng hiện vật và tại chỗ của thời kỳ này có ý nghĩa quan
trọng để bảo đảm cuộc sống cho các đối tượng xã hội ở hậu phương. Mặt khác
nó cũng tác động rất lớn tới sự yên tâm và quyết tâm chiến đấu của lực lượng
vũ trang, thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến trên chiến trường.
3. Giai đoạn từ 1976 – 1985
Đây là thời mà chiến tranh đã kết thúc nhưng hậu quả gần 30 năm mà nó
để lại cho nước ta là vô cùng nặng nề. Thêm vào đó thiên bão lụt, mất mùa,
kinh tế chậm phát triển dẫn đến hàng năm có tới gần 1 triệu người rơi vào
hoàn cảnh thiếu đói gay gắt đặt gánh nặng nên vai những người làm công tác
UBND tỉnh/thành phố quyết định tuỳ mức độ thiệt hại và khả năng huy động
nguồn lực chứ không quy định săn như trước nữa.
Trong giai đoạn này cũng có hai sự thay đổi đáng kể trong cơ chế và
chính sách. Đó là thực hiện cơ chế mở, tự quản, giao quyền chủ động cho Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định một số mức trợ cấp cụ thể cho phù hợp
với tình hình và điều kiện cụ thể của địa phương.
Đến nay, công tác CTĐX do một số cơ quan: Bộ LĐTBXH, Uỷ ban mặt
trận tổ quốc, Hội CTĐ, Uỷ ban phòng chống lụt bão Trung ương cùng phối
hợp thực hiện. Trong đó, Bộ LĐTBXH là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà
nước về CTĐX. Nhiệm vụ chủ yếu là tập trung vào giúp các đối tượng khắc
phục hậu quả thiên tai, cứu đói.
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
IV. NHỮNG NHÂN TỔ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC CỨU TRỢ XÃ
HỘI ĐỘT XUẤT.
1. Điều kiện tự nhiên
Đối với nước ta, điều kiện tự nhiên là yếu tố có ảnh hưởng có ảnh hưởng
rất lớn đến công tác CTĐX. Những điều kiện tự nhiên chủ yếu có ảnh hưởng
đến công tác CTĐX bao gồm: Điều kiện về thời tiết khí hậu và điều kiện về
địa hình.
1.1. Đặc điểm về thời tiết khí hậu
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa,
khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thì mưa quá
to, lũ lụt lớn; mùa khô thì khô quá mức, hạn hán kéo dài; hàng năm phải hứng
chịu đến 70% số cơn bão của khu vực (trung bình từ 4 đến 6 cơn/năm).
Đặc biệt trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến có xu hướng khó
lường một mặt do thay đổi khí hậu toàn cầu, mặt khác do rừng bị tàn phá nặng
nề, môi trường sinh thái chuyển biến theo hướng xấu nên thiên tai xảy ra ngày
càng nhiều hơn, với cường độ và mức độ tàn phá ngày càng lớn gây mất mát
lớn về người và tài sản cũng như các công trình công cộng. Đối tượng phải
Cũng như những điều kiện về tự nhiên, các điều kiện kinh tế - xã hội của
nước ta cũng có những ảnh hưởng rất lớn đến công tác CTĐX. Nếu như điều
kiện tự nhiên là những nhân tố có tác động khách quan thì điều kiện kinh tế -
xã hội lại là những nhân tố có ảnh hưởng một cách chủ quan tới công tác
CTĐX mà chúng ta hoàn toàn có thể điều tiết được chúng. Các điều kiện kinh
tế - xã hội ở đây chủ yếu là: Điều kiện về cơ sở hạ tầng; quá trình đô thị hoá,
phong tục tập quán; cơ chế, chính sách đầu tư; chính sách hỗ trợ sản xuất…
2.1. Cơ sở hạ tầng
Trong những năm qua mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng rất
nhiều tới vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng cho các xã
nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải
đảo; nhiều Chương trình, dự án đã được xây dựng và thực hiện (Chương trình
133, 135…) bước đầu về cơ bản đã thu được những thành quả đáng kể, nhưng
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
do nguồn vốn còn hạn chế, quá trình tổ chức thực hiện, quản lý còn chưa tốt
cho nên tới nay cơ sở hạ tầng phần lớn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của
phát triển kinh tế - xã hội. Do cơ sở hạ tầng chưa phát triển theo yêu cầu nên
kinh tế nhiều vùng vẫn còn nghèo, khả năng tự ứng phó với các điều kiện tự
nhiên không có. Do đó, khi thiên tai, địch hoạ xảy ra thì để lại những tổn thất
rất nặng nề và công tác tổ chức di dời và cứu trợ gặp rất nhiêu khó khăn, ảnh
hưởng đến kết quả của công tác cứu trợ.
2.2. Quá trình đô thị hoá
Do yêu cầu của quá trình phát triển, CNH, HĐH và đô thị hoá là quá trình
tất yếu diễn ra ở các quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển. Trong quá trình
CNH, HĐH ở nước ta hiện nay, vấn đề đô thị hoá đã trở thành một hiện tượng
kinh tế - xã hội bức xúc. Rõ ràng không ai có thể phủ nhận được lợi ích của
quá trình quá trình CNH, HĐH. Nhờ có quá trình CNH, HĐH mà bộ mặt của
nhiều vùng đã đổi thay từng giờ, đời sống của nhân dân được cải thiện đáng
kể. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, đi đôi với những lợi ích mà nó mang lại
cung tự cấp, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Với phong tục, thói quen sản xuất như vậy lại trong điều kiện khí hậu khắc
nghiệt, bất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém nên khi xảy ra thiên tai thì người
dân rất dễ có khả năng mất hết, mất trắng mùa màng và hoàn toàn có thể rơi
vào tình trạng thiếu đói chứ chưa kể bình thường đã có nhiều người ở nhiều
vùng, địa phương thường xuyên bị thiếu đói giáp hạt do nhiều nguyên nhân
khác nhau. Chính vì vậy, phong tục tập quán lạc hậu đang là yếu tố cản trở sự
phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đồng thời làm tăng gánh nặng cho công
tác cứu trợ.
2.4. Cơ chế, chính sách đầu tư
Trong những năm qua với sự nỗ lực đầu tư của Chính phủ cho các xã
nghèo, vùng nghèo, nhiều Chương trình phát triển kinh tế - xã hội đã được
thực hiện (Chương trình 327, 135, 133,…) tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực
nông thôn đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, cơ chế, chính sách đầu tư cho
các vùng này còn nhiều hạn chế; so với khu vực thành thị, khu vực nông thôn
vẫn chưa được đầu tư đúng mức để đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa các
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
vùng, chênh lệch mức sống còn lớn, khoảng cách giàu - nghèo có xu hướng
gia tăng. Thêm vào đó là quá trình đầu tư chưa gắn với một quy hoạch hợp lý.
Chính vì vậy, ở khu vực nông thôn, biên giới, hải đảo vẫn thường xuyên phải
đối mặt với những khó khăn, nghèo đói; nguy cơ đói giáp hạt, khả năng phòng
chống với các diễn biến của thiên tai thấp. Những điều này cũng dẫn đến hậu
quả là làm tăng gánh nặng cho công tác cứu trợ.
2.5. Chính sách hỗ trợ sản xuất
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh gây gắt, cộng thêm điều
kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt, trong khi ở các nước phát triển Chính
phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất nông nghiệp, thập
chí bảo hộ sản xuất nông nghiệp. Nhờ vậy mà người nông dân của họ ít phải
đối mặt với khó khăn và có khả năng chịu đựng cao mỗi khi xảy ra khó khăn,
xóm “tối lửa tắt đèn có nhau” thì ngày nay có lúc, có nơi mọi người đối xử vói
nhau bằng những thái độ thờ ơ, độ lạnh nhạt,…
Với những biểu hiện mặt trái hết sức tiêu biểu của kinh tế thị trường như
vậy nên mỗi khi trong cộng đồng có một hoặc một số cá nhân không may rơi
vào tình trạng khó khăn, bần cùng, cần giúp đỡ thì kết quả là họ không nhận
được sự giúp đỡ gì hoặc nhận được nhưng sự giúp đỡ chỉ là qua loa, hình
thức. Đây cũng chính là những cản trở đối với công tác CTĐX. Khi xảy ra
những hiện tượng như trên, hoạt động cứu trợ sẽ không nhận được sử ủng hộ
nhiệt tình từ phía cộng đồng, xã hội, CTĐX sẽ bị thiếu thốn cả về nhân lực và
vật lực (nguồn kinh phí), hiệu quả công tác CTĐX sẽ bị hạn chế.
Tóm lại:
Qua phân tích ở trên có thể thấy công tác CTĐX chịu tác động của rất
nhiều nhân tố, có nhân tố chủ quan, có nhân tố khách quan.
Tất cả các nhân tố tác động tới công tác CTĐX nêu trên (cả nhân tố điều
kiện tự nhiên và nhân tố kinh tế - xã hội) có nhân tố tác động tích cực, có nhân
tố tác động tiêu cực nhưng nếu chúng ta biết điều hoà chúng thì hiệu quả mà
nó đem lại sẽ rất lớn. Ngược lai, nếu không được điều hoà tốt thì nó sẽ gây
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
những cản trở rất lớn đối với công tác CTĐX (ở tất cả các khâu). Trong những
nhân tố đó thì điều kiện tự nhiên và vấn đề cơ sở hạ tầng có lẽ là những nhân
tố tác động mạnh nhất công tác CTĐX. Sự tác động tổng hợp của những nhân
tố này có xu hướng làm tăng số đối tượng và mức độ trầm trọng của đối
tượng.
Trong thời gian tới, dự báo điều kiện thời sẽ có nhiều biến động khó
lường và nhân tố điều kiện tự nhiên vân sẽ là nhân tố có tác động mạnh và gây
nhiều khó khăn cho công tác CTĐX. Bởi vậy cần có những biện pháp để theo
sát, nắm chắc diễn biến của tình hình thời tiết từ đó đưa ra những biện pháp
khắc phục thích hợp, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.
Còn với nhân tố Cơ sở hạ tầng, tuy còn nhiều bất cập nhưng do yêu cầu của
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
tiềm năng cá nhân và cả cộng đồng dân tộc. Tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền
đề thực hiện chính sách xã hội. Ngược lại giải quyết tốt các vấn đề xã hội là
điều kiện cơ bản, là yêu cầu không thể thiếu đối với mục tiêu phát triển kinh
tế. Đối với bộ phận dân cư yếu thế, thiệt thòi cần phải có những chính sách xã
hội thích hợp, hỗ trợ hoà nhập cộng đồng.
Từ khi thực hiện cải cách nền kinh tế năm 1986 đến nay Đảng ta luôn coi
trọng việc thực hiện và phát triển các hoạt động BTXH - ASXH.
Trong Văn kiện Đại hội Đảng VI có viết: từng bước xây dựng chính sách
BTXH xã hội chủ nghĩa đối với toàn dân, theo phương trâm Nhà nước và nhân
dân cùng làm dân cùng làm, mở rộng và phát triển các công trình sự nghiệp
BTXH tạo nhiều hệ thống và hình thức BTXH cho những người có công với
cách mạng và những người gặp khó khăn. Phải thường xuyên nghiên cứu bổ
sung chính sách, chế độ BTXH phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế, quản lý xã hội.
Tiếp theo, trong Văn kiện Đại hội Đảng IX Đảng ta xác định: thực hiện
chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng
đồng, bao gồm bảo hiểm lao động đối với người lao động thuộc các thành
phần kinh tế, CTXH những người gặp rủi ro, bất hạnh. Chính sách xã hội
được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền
các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn
thể nhân dân, các tổ chức xã hội. Từng bước hiện đại hoá công tác nghiên cứu,
dự báo khí tượng thuỷ văn và vật lý địa cầu; có kế hoạch và biện pháp tích cực
chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn…thực hiện tốt công tác
CTXH, công tác CTXH phải ngày càng kịp thời, thiết thực và hiệu quả hơn.
Với những quan điểm và chủ trương nêu trên có thể thấy, Đảng và Nhà
nước ta đã chỉ đạo tập trung phát triển chính sách CTXH (trong đó có CTĐX)
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức