Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xúc tiến bán hàng ở công ty cổ phần que hàn điện Việt- Đức - Pdf 83

Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh
mẽ, trong đó các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng
tồn tại, cạnh tranh với nhau và bình đẳng trước pháp luật.
Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, Nhà nước can
thiệp rất sâu vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhà nước quyết
định tất cả các vấn đề kinh doanh như mặt hàng kinh doanh, đối tượng phân
phối, giá cả, số lượng... và doanh nghiệp sẽ được bù đắp nếu làm ăn thua lỗ.
Vì vậy, vấn đề tiêu thụ hàng hoá chỉ mang tính pháp lệnh và hình thức, không
được quan tâm và thúc đẩy.
Hiện nay, môi trường kinh tế mới buộc các doanh nghiệp phải tổ chức
tốt các hoạt động kinh doanh của mình, nắm bắt được các quy luật của cơ chế
thị trường để từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn, đảm bảo thu được lợi
nhuận để có thể tồn tại và đứng vững. Thị trường là thách thức lớn lao đối với
mỗi doanh nghiệp trong việc tiêu thụ hàng hoá. Doanh thu bán hàng có ý
nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, nó là nguồn quan
trọng để đảm bảo trang trải các khoản chi phí hoạt động kinh doanh, đảm bảo
cho các doanh nghiệp có thể tái sản xuất giản đơn cũng như có thể tái sản xuất
mở rộng, là nguồn để các doanh nghiệp có thể thực hiện nghĩa vụ với Nhà
nước, ổn định tình hình tài chính doanh nghiệp...Vì vậy, để có thể đứng vững
trên thương trường, thì các doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác xúc tiến
bán hàng, có chiến lược tiêu thụ thích hợp cho phép doanh nghiệp chủ động
thích ứng với môi trường, quyết định kịp thời khi có cơ hội, huy động tất cả
các nguồn lực hiện có và lâu dài để có thể đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.
Xuất phát từ quan điểm trên, trong thời gian thực tập tại công ty cổ
phần que hàn điện Việt- Đức em đã nghiên cứu, tìm hiểu về công tác xúc tiến
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội

các hoạt động của doanh nghiệp nhằm giới thiệu với khách hàng về sản phẩm
của mình để khuyến khích họ mua hàng trở nên rất quan trọng.
Mặt khác, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì nhu cầu
tiêu dùng của thị trường cũng ngày càng phát triển. Nhu cầu này không chỉ
giới hạn ở việc tăng lên của số lượng và chất lượng hàng hoá cung ứng, mà
còn thể hiện ở việc thoả mãn tâm lý, thị hiếu tiêu dùng của sản phẩm trong
các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng.
Trong nhiều trường hợp, các hoạt động xúc tiến bán hàng nhằm thoả
mãn tâm lý mua hàng và tâm lý tiêu dùng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để
thúc đẩy bán hàng và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
I.1 Khái niệm về xúc tiến bán
Xúc tiến bán là một thành phần của hỗn hợp Marketing nhằm thông
tin, thuyết phục và nhắc nhở thị trường về sản phẩm hoặc người bán sản phẩm
đó, với hy vọng ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của người nhận tin.
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
Có năm hình thức xúc tiến bán là quảng cáo, khuyễn mãi, bán hàng trực
tiếp, quan hệ công chúng và marketing trực tiếp. Mỗi hình thức có một đặc
điểm riêng khiến cho nó có thể phát huy tác dụng tốt nhất trong những hoàn
cảnh cụ thể.
Hiện nay, xúc tiến bán hàng là hoạt động không thể thiếu được trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực kinh doanh thương
mại, xúc tiến bán hàng sẽ giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển các
mối quan hệ thương mại với các bạn hàng trong và ngoài nước.
Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường
và tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị
trường.
Xúc tiến bán hàng là cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp thông
qua xúc tiến bán, các doanh nghiệp có điều kiện nhìn nhận về ưu nhược điểm
của hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình.

phải tổ chức tốt hoạt động xúc tiến bán.
I.3.1 Quảng cáo
a) Khái niệm
Quảng cáo là những hoạt động truyền thông không mang tính cá nhân,
thông qua một phương tiện truyền tin phải trả tiền. Có rất nhiều phương tiện
quảng cáo như quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng (phát
thanh, truyền hình), in ấn (báo, tạp chí) biển hiệu ngoài trời (panô, áp-phích),
các trang vàng niên giám điện thoại, bao bì sản phẩm, tờ rơi, catalô, tài liệu
giới thiệu về doanh nghiệp.
Quảng cáo bao gồm các hoạt động giới thiệu và truyền đi các thông tin
về sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm kích thích khách hàng tiêu
thụ hàng hoá dịch vụ, nâng cao uy tín cho nhà kinh doanh và tăng cường khả
năng cạnh tranh trên thị trường.
Quảng cáo là một công cụ Marketing và phương tiện thúc đẩy bán hàng
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
rất quan trọng, quảng cáo có vai trò và ý nghĩa to lớn trong hoạt động kinh
doanh. Trong các hoạt động xúc tiến bán thì quảng cáo là hoạt động xúc tiến
quan trọng nhất. Nhờ có quảng cáo mà khối lượng hàng hoá tiêu thụ được của
nhà kinh doanh tăng lên rõ rệt. Quảng cáo còn là phương tiện quan trọng giúp
các doanh nghiệp đạt được mục tiêu của chiến lược Marketing như: lợi nhuận,
thế lực và an toàn trong kinh doanh.
b)Chức năng
- Thu hút sự chú ý của khách hàng với sản phẩm, doanh nghiệp.
- Thuyết phục khách hàng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ
- Hướng dẫn, giáo dục tiêu dùng
c) Yêu cầu và nguyên tắc quảng cáo
Để nâng cao hiệu quả của quảng cáo, chương trình quảng cáo cần thực
hiện tốt những yêu cầu và nguyên tắc sau đây:
- Quảng cáo phải tiêu biểu, đặc trưng, độc đáo và có lượng thông tin cao.

* Phương tiện phát thanh, truyền hình: Radio, tivi
- Tivi: Quảng cáo qua ti vi có khả năng kết hợp khá hoàn chỉnh giữa âm
thanh và màu sắc, hành động và ngôn ngữ, tác động tới cảm xúc, hấp dẫn sự
chú ý và có phạm vi bao quát rộng. Nhược điểm của hình thức này là chi phí
quá cao, ít có tính chọn lọc khán giả.
- Radio:là phương tiện truyền thông có tính đại chúng, có tính chọn lọc
địa bàn và công chúng, chi phí thấp song sức thu hút của phương tiện quảng
cáo này lại kém do chỉ có âm thanh, không có cấu trúc chuẩn, tiếp xúc thoáng qua.
* Quảng cáo ngoài trời và các phương tiện quảng cáo khác
- Biển quảng cáo, pano, áp phích: quảng cáo bằng hình thức này có lợi
thế là thời gian tồn tại lâu, khả năng chọn vị trí cao, chi phí thấp.
Ngoài các phương tiện trên các nhà kinh doanh còn sử dụng và sáng tạo
nhiều loại hình quảng cáo phong phú như: quảng cáo bằng đèn neon, người
máy quảng cáo, quảng cáo bao bì...
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
I.3.2 Bán hàng trực tiếp
a) Khái niệm và những ưu nhược điểm của bán hàng trực tiếp
Bán hàng trực tiếp là hình thức thuyết trình sản phẩm do nhân viên của
doanh nghiệp thực hiện trước khách hàng, có thể là mặt đối mặt hoặc thông
qua điện thoại. Địa điểm thuyết trình có thể tại nhà riêng, tại công sở hoặc
những nơi tập trung những người mua triển vọng. Bán hàng trực tiếp hoàn
toàn đối lập với các hình thức quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng
hay marketing trực tiếp. Nó cho phép người thuyết trình thấy được những
phản ứng từ phía khách hàng khi nhân viên này giới thiệu sản phẩm. Vì lẽ đó,
bán hàng trực tiếp được coi là một kênh thông tin hai chiều.
Cách thức truyền thông này làm cho bán hàng trực tiếp linh hoạt hơn
các công cụ xúc tiến bán khác. Nhờ nghiên cứu địa điểm của khách hàng
trước khi thuyết trình hoặc nhờ thấy được phản ứng của khách hàng trong khi
thuyết trình, nhân viên bán hàng có thể thay đổi nội dung và phương pháp

Tiền tiếp cận: trước khi tới thăm một khách hàng triển vọng, nhân viên
bán hàng cần học thuộc lòng và nắm vững tất cả các thông tin, thói quen, sở
thích về những cá nhân hay công ty mà họ sắp tiếp xúc.
Thuyết trình bán hàng là hoạt động chính diễn ra trong các lần liên lạc
với khách hàng. Nhân viên bán hàng có thể áp dụng mô hình AIDA để dẫn
người mua đi qua từng cấp độ sẵn sàng mua nhằm đạt được mục tiêu của mình.
- Chữ A (Attention) gây sự chú ý
- Chữ I (Interest) gợi mối quan tâm
- Chữ D ( Desire) tạo nên ước muốn
- Chữ A (Action) dẫn tới hành động
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
Dịch vụ hậu mãi: công việc bán hàng hiệu quả không dừng lại sau khi
đã có được đơn đặt hàng từ khách hàng triển vọng. Sau khi có được đơn đặt
hàng sẽ là một quá trình gồm rất nhiều hoạt động sau bán hàng nhằm xây
dựng tiếng tốt về doanh nghiệp, xoá bỏ sự bất ổn về tâm lý và chuẩn bị cho
những thương vụ tương lai.
I.3.3 Khuyến mãi
a) Khái niệm
Khuyến mãi là các hoạt động kích thích nhu cầu mua sắm bằng cách
đưa thêm các lợi ích cho khách hàng trong một giai đoạn. Khuyến mãi có thể
định hướng tới người tiêu dùng hay nhà trung gian. Các hình thức phổ biến là
các đợt giảm giá, tăng số lượng giá không đổi, bán hàng kèm quà tặng, hàng
mẫu phát tặng, sổ xố, cuộc thi có thưởng, triển lãm thương mại, trưng bày
trong cửa hàng, thẻ khuyến mãi.
b) Mục tiêu khuyến mãi
Có ba loại mục tiêu chung là:
- Kích thích nhu cầu của khách hàng công nghiệp hay người tiêu dùng
cá nhân.
- Cải thiện kết quả hoạt động marketing của nhà trung gian và lực

Quan hệ công chúng bao gồm nhiều hình thức truyền thông nhằm tạo
nên thái độ thân thiện đối với doanh nghiệp và những sản phẩm của doanh
nghiệp mà thường không nói rõ một thông điệp bán hàng cụ thể nào. Khán giả
mục tiêu có thể là khách hàng, cổ đông, cơ quan nhà nước hay các nhóm dân
cư có mối quan tâm riêng. Các hình thức có thể là bản tin, báo cáo hàng năm,
vận động hành làng hoặc tài trợ cho các sự kiện từ thiện hoặc thể thao văn
hóa.
Quan hệ công chúng của doanh nghiệp có nhiều mục đích, kể cả đạt
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
được việc tuyên truyền thuận lợi cho doanh nghiệp, tạo nên một hình ảnh tốt
cho doanh nghiệp và xử lý những tin đồn, những câu chuyện bất lợi với doanh
nghiệp.
Thực tiễn kinh doanh chỉ ra rằng, việc giải quyết tốt mối quan hệ công
chúng có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Thực chất của các mối quan hệ công chúng là mối quan hệ giữa
doanh nghiệp với đội ngũ bán hàng, khách hàng và những tổ chức, cá nhân có
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả của các
hoạt động này có thể được biểu hiện trực tiếp hoặc có thể phát huy trong một
thời gian dài.
Các hoạt động tiếp xúc giữa doanh nghiệp với bên ngoài rất phong phú,
đa dạng được thực hiện bằng các hình thức chủ yếu sau đây:
- Tổ chức hội nghị khách hàng theo định kỳ hoặc đột xuất
- Tổ chức hội nghị của các nhà trung gian phân phối (bán buôn, bán lẻ,
đại lý)
- Tổ chức hội nghị các nhà sản xuất kinh doanh
- Tổ chức những cuộc thăm hỏi khách hàng và đội ngũ những trung
gian phân phối
- Tổ chức tiếp xúc và duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ
chức cá nhân có vị trí, thế lực và uy tín với xã hội, đặc biệt là các nhà chính

loại hàng hóa, kèm theo là các thông số được minh hoạ bằng hình ảnh, màu
sắc, trên catalog có in địa chỉ và điện thoại của doanh nghiệp để khách hàng
có thể liên lạc, giao dịch với doanh nghiệp. Catalog được gửi tới khách hàng
qua đường bưu điện hoặc do nhân viên công ty trực tiếp mang tới.
I.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗn hợp xúc tiến bán
Sự kết hợp các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, bán hàng trực tiếp,
quan hệ công chúng và marketing trực tiếp được gọi là hỗn hợp xúc tiến bán.
Có bốn nhóm yếu tố cần xem xét khi quyết định hỗn hợp xúc tiến bán
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
là thị trường mục tiêu, bản chất của sản phẩm, giai đoạn trong chu kỳ sống
sản phẩm và lượng tiền sẵn có dành cho xúc tiến bán.
I.4.1 Thị trường mục tiêu
Ít nhất có bốn biến số ảnh hưởng đến phương pháp xúc tiến đối với một
thị trường cụ thể
- Mức độ sẵn sàng mua: một thị trường mục tiêu có thể nằm ở một
trong năm giai đoạn sẵn sàng như sau: biết, hiểu, bị thuyết phục, mua, mua
tiếp.
Quảng cáo và quan hệ công chúng có vai trò quan trọng nhất trong giai
đoạn nhận biết.
Giai đoạn hiểu và bị thuyết phục bị ảnh hưởng mạnh của quảng cáo và
chào hàng trực tiếp. Việc thuyết phục khách hàng bị ảnh hưởng nhiều nhất
bởi chào hàng trực tiếp, sau đó tới quảng cáo và khuyến mại.
Việc mua tiếp cũng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi chào hàng trực tiếp,
sau đó mới tới quảng cáo và khuyến mại.
Tóm lại quảng cáo và quan hệ công chúng là hiệu quả nhất ở giai đoạn
đầu của quá trình ra quyết định mua sắm, còn chào hàng trực tiếp và khuyến
mãi là hiệu quả nhất ở giai đoạn sau.
- Phạm vi địa lý của thị trường: bán hàng trực tiếp có thể phù hợp trong
một khu vực địa lý nhỏ trong khi quảng cáo có nhiều ưu thế hơn đối với

phương tiện xúc tiến bán nào được dùng nhiều hơn.
Trong giai đoạn giới thiệu, quảng cáo quan hệ công chúng có hiệu quả
cao, sau đó là khuyến mãi và chào hàng trực tiếp.
Trong giai đoạn tăng trưởng, tất cả các công cụ đều có hiệu quả thấp đi
vì nhu cầu tăng lên do sự truyền miệng.
Trong giai đoạn bão hoà, tầm quan trọng được sắp xếp từ cao xuống
thấp là: khuyễn mãi, quảng cáo và chào hàng trực tiếp. Tất cả các công cụ đều
quan trọng hơn.
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
Trong giai đoạn suy thoái, khuyến mãi tiếp tục có hiệu quả cao, còn
quảng cáo và quan hệ công chúng thì giảm hiệu quả, lực lượng bán hàng chỉ
nhận được sự chú ý rất ít.
I.4.4 Ngân sách xúc tiến bán sẵn có
Ngân sách dồi dào hay hạn chế cũng quyết định đến đặc điểm của hỗn
hợp xúc tiến bán. Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính dồi dào có thể sử
dụng quảng cáo nhiều hơn và trên các phương tiện quảng cáo đắt tiền hơn như
quảng cáo liên tục trên tivi so với một doanh nghiệp có ngân sách tiền mặt ít
ỏi. Những doanh nghiệp nhỏ và ít vốn thường có xu hướng lựa chọn các
phương tiện quảng cáo ít tiền, bán hàng trực tiếp, trình diễn tại nơi mua sắm
hoặc tham gia các chương trình khuyến mãi liên kết giữa nhà sản xuất và nhà
bán lẻ.
I.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động xúc tiến bán
Sau một chu kỳ hoạt động kinh doanh, thực hiện các hoạt động xúc
tiến bán dưới nhiều hình thức khác nhau, nhà quản lý sẽ phải đánh giá kết quả
đạt được và đề ra phương hướng cần phải triển khai trong thời gian tới thông
qua các chỉ tiêu:
- Doanh số bán hàng của từng loại sản phẩm đã thu được trên thị trường
doanh nghiệp đang theo đuổi (so sánh số lượng tiêu thụ trước và sau khi thực
hiện các hoạt động xúc tiến bán).

kết quả nghiên cứu trước đó của doanh nghiệp để phân định hình thức và tiếp
cận khách hàng và làm thoả mãn khách hàng.
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
PHẦN II: PHÂN TÍCH CÔNG TÁC XÚC TIẾN BÁN HÀNG TẠI
CÔNG TY CP QUE HÀN ĐIỆN VIỆT- ĐỨC
II.1 Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần que hàn điện Việt Đức
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CP que hàn điện Việt- Đức
- Tên công ty: Công ty cổ phần que hàn điện Việt - Đức
- Tên giao dịch quốc tế: Viet Duc Welding Electrode Joint Stock
Company
Viết tắt là: Viwelco
- Địa chỉ: Nhị Khê - Thường Tín – Hà Tây
- Điện thoại: 034.853364 Fax: 034.853653
- Email: Viwelco @ fpt.vn Webside: www.Viwelco.com.vn
Công ty cổ phần que hàn điện Việt - Đức là một đơn vị thành viên của
Tổng công ty hoá chất Việt Nam, hoạt động theo luật doanh nghiệp, là một
đơn vị hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân, là một trong những doanh
nghiệp chuyên sản xuất vật liệu hàn có quy mô lớn nhất Việt Nam, được xếp
thứ hai trong các nhà sản xuất vật liệu hàn ở Đông Nam Á, với phương châm
sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, lấy tôn chỉ và mục đích chất lượng là
hàng đầu, thương hiệu que hàn điện Việt - Đức đã gây được uy tín với khách
hàng trong và ngoài nước.
Công ty được thành lập vào năm 1967 với tên gọi ban đầu là Nhà máy
que hàn điện Việt - Đức. Những năm bước vào nền kinh tế thị trường, nhà
máy gặp không ít khó khăn. Năm 1990 chỉ sản xuất được 2.082 tấn, việc làm
ít thu nhập của người lao động thấp. Đến tháng 3 năm 1995, nhà máy được bộ
công nghiệp quyết định đổi thành Công ty que hàn điện Việt - Đức để phù
hợp với quy chế kinh doanh mới. Đây là thời cơ thuận lợi để công ty xây
dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, chiếm lĩnh thị trường. Trong điều kiện

1.2.1 Chức năng
Công ty cổ phần que hàn điện Việt - Đức đã sản xuất và cung ứng cho
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
thị trường nhiều loại vật liệu hàn có chất lượng tốt, ổn định bao gồm: que hàn
vỏ bọc, dây hàn và bột hàn.
* Các loại que hàn gồm bốn nhóm:
- Que hàn thép carbon thấp và hợp kim thấp có độ bền trung bình:
N38-VD ; N42 – VD; N45 – VD; N46 – VD; J420 – VD; J421 – VD;
VD – 6013
- Que hàn thép carbon thấp và hợp kim thấp có độ bền và độ dẻo cao:
N50 – 6B; N55 –6B; E7016 – VD; E7018 – VD
- Que hàn đắp phục hồi bề mặt:
DCr60; DCr250; DMn350; DMn500; HX5
- Các loại que hàn đặc biệt: que hàn Inox VD.308-16; que hàn đồng
Hm-Cu; que hàn gang G33; que cắt C5
* Dây hàn H08-VD và bột hàn nóng chảy F6-VD
Dây hàn với khí bảo vệ CO
2
W49-VD
1.2.2 Nhiệm vụ
- Tự tổ chức bộ máy và tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhằm
bảo toàn và phát triển vốn của công ty.
- Sử dụng tối ưu mọi nguồn lực của công ty để phát triển và mở rộng
sản xuất kinh doanh.
- Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, duy trì thực hiện
chính sách chất lượng, quản lý chất lượng ISO 9001:200 là mục tiêu, yếu tố
hàng đầu để phát triển thương hiệu que hàn điện Việt Đức.
- Bảo vệ công ty, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an
toàn xã hội, làm tròn nghĩa vụ quốc phòng.

xưởng sx nước silicat bị hỏng. Ngoài ra bộ phận sửa chữa thiết bị sản xuất
còn có nhiệm vụ chế tạo các thiết bị mau mòn để phục vụ sản xuất.
1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty CP que hàn điện Việt - Đức
Để thành công trong kinh doanh, hoạt động của mọi doanh nghiệp đều
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
cần được thực hiện trên nền của một hệ thống cấu trúc hợp lý và có hiệu quả.
Trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, hệ thống tổ chức cần phải
đảm bảo khả năng thích ứng tốt với các xu hướng vận động, tăng trưởng hay
suy thoái trong kinh doanh. Nắm vững điều đó, Công ty cổ phần que hàn điện
Việt - Đức trong những năm qua đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ công
nhân viên có năng lực về chuyên môn, giỏi nghiệp vụ. Đến nay bộ máy quản
lý của công ty đã có những thay đổi hợp lý, được xây dựng theo kiểu trực
tuyến, phù hợp với cơ chế thị trường đáp ứng được yêu cầu hoạt động kinh
doanh của công ty đồng thời đảm bảo tính tập trung thống nhất theo chế độ
một thủ trưởng.
Ban lãnh đạo của công ty bao gồm:
- Một giám đốc: là người có quyền điều hành cao nhất trong công ty và
có nghĩa vụ tổ chức thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của công ty. Giám đốc
có nhiệm vụ tổ chức bộ máy và tổ chức SX-KD có hiệu quả, chỉ đạo điều
hành các phòng ban PXSX thực hiện kế hoạch SXKD, các kế hoạch phát triển
dài hạn, mua sắm, bảo quản, lưu kho các nguyên vật liệu, phụ tùng, thiết bị ,
vật liệu phục vụ cho nhu cầu SX và công tác nâng cao chất lượng sản phẩm,
phát triển sản phẩm mới ..., lập chính sách chất lượng của công ty, duy trì hệ
thống quản lý chất lượng.
- Một phó giám đốc: là người được giám đốc uỷ quyền chỉ đạo và điều
hành công việc sản xuất, là đại diện lãnh đạo về chất lượng. Phó giám đốc có
nhiệm vụ tham mưu cho GĐ về xây dựng mục tiêu chất lượng trong từng thời
kỳ, chỉ đạo và điều hành các phòng ban phân xưởng có liên quan trong việc
thực hiện KHSX tháng/quý/năm, bảo đảm ổn định và nâng cao chất lượng sản

+ Chức năng: gia công thuốc bọc, cắt lõi que hàn
+ Nhiệm vụ: tổ chức thực hiện công việc hoàn thành kế hoạch
được giao, đảm bảo đúng tiến độ, sử dụng đúng định mức về vật tư, phụ tùng
nguyên liệu, đảm bảo chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn qui định.
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
Đồ án tốt nghiệp Khoa KT&QL trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
- Phân xưởng sấy gói que hàn( PXES):
+ Chức năng: ép, sấy, gói các loại que hàn và nhập kho công ty
+ Nhiệm vụ: giống PXCB
- Phân xưởng dây hàn (PXDH)
+ Chức năng: kéo, vuốt dây thép, mạ cuộn thành phẩm dây hàn,
kéo vuốt dây thép làm lõi que hàn, hoà tan silicat ở dạng cục thành dung dịch
silicat.
+ Nhiệm vụ: giống PXCB và PXES
- Phòng tài vụ( TV):
+ Chức năng: giúp GĐ về việc quản lý tài chính của công ty.
+ Nhiệm vụ: Đề xuất tổ chức bộ máy kế toán, thống kê phù hợp
loại hình sản xuất, quá trình sản xuất của công ty. Giúp GĐ kiểm tra, kiểm
soát kinh tế tài chính của công ty, lập các chứng từ kế toán, báo cáo tài chính
đúng biểu mẫu qui định, thanh toán lương thưởng..., cung cấp số liệu cho các
phòng có liên quan ...
- Ytế: thực hiện việc kiểm tra, khám chữa bệnh cho cán bộ công nhân
viên, cấp cứu tai nạn xảy ra
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy của công ty Công ty CP que hàn điện Việt -
Đức
Ngô Kim Phượng - QTDN K8
ỏn tt nghip Khoa KT&QL trng H Bỏch Khoa H Ni
: s t chc hnh chớnh
: s t chc v h thng qun lý cht lng
Ngun: s tay cht lng ca cụng ty

giảm so với năm 2002, tuy nhiên sang năm 2004 do áp dụng nhiều qui trình
công nghệ mới hơn nữa là sự chuyển đổi cơ cấu thành công ty cổ phần do vậy
công ty đã có sự phát triển vợt bậc. Mặc dù tổng sản lợng vẫn giảm so với năm
Ngụ Kim Phng - QTDN K8

Trích đoạn Tổng quan về kết quả hoạt động kinh doanh của cụng ty Cơ cấu, năng lực của lực lợng bán hàng trực tiếp * Cơ cấu lực lợng bán hàng Đỏnh giỏ về hoạt động bỏn hàng trực tiếp Quan hệ cụng chỳng Biển quảng cỏo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status