Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội không chỉ đóng vai trò
quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến
lợi ích của các đối tượng hữu quan và môi trường tự nhiên nơi doanh nghiệp tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện nghiêm túc đạo đức kinh doanh và
trách nhiệm xã hội sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao danh tiếng cũng như tăng hiệu
quả kinh doanh. Ngoài ra, điều quan trọng hơn, đó là khi doanh nghiệp hoạt động có
đạo đức và trách nhiệm sẽ không gây tổn hại tới môi trường tự nhiên cũng như
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam. Với chính sách mở cửa nền kinh
tế và tích cực tham gia vào tiến trình khu vực hóa, toàn cầu hóa đã khuyến khích thu
hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam. Bên cạnh những doanh nghiệp
nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế
cũng như xã hội vẫn còn tồn tại một số doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường tự nhiên Việt Nam và
tạo ra những vấn đề xã hội. Hiện nay, vấn đề môi trường và xã hội là vấn đề được
quan tâm nhiều nhất bởi nó tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người cũng
như sự tồn tại của doanh nghiệp. Thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp cần lưu tâm
đến việc những quyết định của mình có gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và xã
hội hay không. Ngoài ra, vấn đề đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội cũng cần
được phổ biến rộng rãi để không xảy ra tình trạng các doanh nghiệp nước ngoài
được lợi trong khi môi trường tự nhiên và các nguồn lực khác của Việt Nam bị tổn
hại. Xuất phát từ thực trạng thực hiện đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của
một số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam cũng như nhận thức
được vai trò quan trọng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội đối với các
doanh nghiệp nói riêng và môi trường – xã hội Việt Nam nói chung, nhóm thực
nhận thức và hành động cho các doanh nghiệp tại Việt Nam trong việc thực hiện
đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.
Nội dung của đề tài nghiên cứu gồm có 3 phần:
Chương I:
Cơ sở lý luận về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp.
Chương II:
Thực trạng thực hiện đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
Chương III: Các giải pháp khắc phục, nâng cao nhận thức và hành động cho
các doanh nghiệp tại Việt Nam.
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
2
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
CHƯƠNG I
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
3
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
của môi trường chúng sẽ làm thay đổi chất lượng môi trường, gây ảnh hưởng đến
cuộc sống của con người và sinh vật.
Môi trường tự nhiên sẽ tác động tích cực tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nếu doanh nghiệp biết khai thác và bảo vệ một cách hợp lý, tương tự, môi
trường cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, những thảm họa này sẽ tăng lên nếu các doanh nghiệp gia
tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên.
Thứ hai, quá trình phát triển kinh tế sẽ góp phần tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ
cho quá trình cải tạo môi trường, phòng chống suy thoái, sự cố môi trường xảy ra.
Phát triển kinh tế tạo tiềm lực để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, quá trình phát triển
kinh tế diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh cũng dẫn đến việc khai thác, sử dụng quá
mức các tài nguyên thiên nhiên và môi trường, gây nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô
nhiễm, suy thoái môi trường.
Môi trường tự nhiên cũng tác động đến tính ổn định và bền vững của sự phát
triển kinh tế. Môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên mới cho công cuộc phát triển
kinh tế trong tương lai, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Ngược lại,
môi trường cũng tác động tiêu cực, gây bất lợi cho quá trình phát triển kinh tế như:
ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra các hiện tượng thời tiết bất thường (sương mù
dày đặc, mưa đá, mưa axit…), các thảm họa và thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán…).
trường một cách nghiêm túc và đúng đắn.
1.1.2. Những tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh tới môi trường tự
nhiên và các vấn đề xã hội
Vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội nước ta hiện nay là tình
trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con
người gây ra. Vấn đề này đang ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự phát
triển bền vững, sự tồn tại và phát triển của con người. Trong một vài năm trở lại
đây, chúng ta luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra và do
công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập. Thực tế đã chứng minh, không khí ô
nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người. Ô nhiễm không khí
có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm vùng họng, đau ngực, tức thở.
Ô nhiễm nước gây ra bệnh tật cho con người do ăn uống bằng nước bẩn chưa được
xử lý như các bệnh về đường tiêu hóa, bệnh ngoài da. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc,
cao huyết áp, bệnh trầm cảm, bệnh mất ngủ và gây nhiều hậu quả khác.
Đặc biệt, chất thải công nghiệp do các nhà máy sản xuất đưa ra ngoài môi
trường càng làm ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến môi trường sinh thái và sức khỏe
con người. Theo báo cáo giám sát của Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường
của Quốc hội, tỷ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một
số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 – 20%. Nhiều khu công nghiệp có xây
dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm
chi phí. Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ
thống thủy lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập lụt và ô nhiễm nguồn nước
tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân. Thực trạng
đó làm cho môi trường sinh thái ở nhiều địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng
đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang
phải đối mặt với thảm họa về môi trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
chỉ ra cái gì là hành vi không phù hợp và một người nên hành xử để tránh làm hại
đến người khác như thế nào. (Trích trang 133- Giáo trình quản trị kinh doanh hiện
đại- Bộ môn quản trị kinh doanh- Đại học Thủy Lợi)
Vấn đề cơ bản trong việc giải quyết những vấn đề về đạo đức là giải quyết
tình thế lưỡng nan về đạo đức. Đó là tình huống khó xử khi mọi người tự nhận thấy
họ phải quyết định nên hành động theo cách có thể giúp đỡ người khác hoặc nhóm
người nào đấy, và đó là việc “đúng” nên làm, thậm chí làm như vậy có thể chống lại
lợi ích cá nhân của chính bản thân họ. Tình thế lưỡng nan cũng có thể phát sinh khi
một người phải quyết định lựa chọn giữa hai tiến trình hành động khác nhau, biết
rằng bất kể tiến trình nào anh ta hay chị ta chọn sẽ đưa đến kết quả có hại đến một
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
6
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
người hoặc một nhóm người thậm chí trong khi đó là lợi cho người khác. Tình thế
lưỡng nan về đạo đức ở đây là quyết định chọn tiến trình hành động nào là tiến trình
“ít thiệt hại hơn trong hai kiểu thiệt hại”. Tuy nhiên, trong việc giải quyết tình thế
lưỡng nan về đạo đức lại không có những nguyên tắc hay quy tắc tuyệt đối nào để
quyết định xem một hành động là đạo đức hay không đạo đức nên những người
hoặc nhóm người khác nhau có thể tranh cãi về những hành động nào là đạo đức
hay không, điều đó phụ thuộc vào lợi ích cá nhân của riêng họ, những thái độ, lòng
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
xã hội. Trong khi đó, đạo đức kinh doanh là những quy tắc ứng xử được cân nhắc
kỹ lưỡng về mặt tổ chức của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc ra quyết định trong
quan hệ kinh doanh sau đó được đánh giá từ cả bên trong và bên ngoài, chúng có
thể được coi là đúng đắn hoặc không đúng đắn tùy vào các bên hữu quan . Đây
chính là điểm khác biệt giữa đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.
Về cơ bản, trách nhiệm xã hội bao gồm những nghĩa vụ về kinh tế, pháp lý,
đạo đức và nhân văn.
Nghĩa vụ về kinh tế của doanh nghiệp là sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa
mãn được nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mức giá cả có thể cho phép duy trì được
công việc kinh doanh và làm hài lòng các chủ đầu tư. Thực hiện nghĩa vụ kinh tế để
đảm bảo sự tồn tại của doanh nghiệp.
Nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ những quy định về
pháp lý chính thức đối với những người hữu quan, trong cạnh tranh và đối với môi
trường tự nhiên do pháp luật hiện hành quy định. Thực hiện nghĩa vụ pháp lý để
doanh nghiệp có thể được chấp nhận về mặt xã hội.
Nghĩa vụ đạo đức của doanh nghiệp được định nghĩa là những hành vi hay
hoạt động được xã hội mong đợi nhưng không được quy định thành các nghĩa vụ
pháp lý. Nghĩa vụ đạo đức chính là nền tảng của các nghĩa vụ pháp lý. Thực hiện
nghĩa vụ đạo đức là để doanh nghiệp có thể được xã hội tôn trọng và công nhận.
Nghĩa vụ nhân văn của doanh nghiệp bao gồm những hành vi và hoạt động
mà xã hội muốn hướng tới và có tác dụng quyết định chân giá trị của tổ chức hay
doanh nghiệp. Nghĩa vụ nhân văn thể hiện những mong muốn hiến dâng của doanh
nghiệp cho xã hội. Thực hiện nghĩa vụ nhân văn là thể hiện ước muốn tự hoàn thiện
có đạo đức. Hoặc khi họ ra quyết định có đạo đức, những nhà quản trị như vậy cũng
đặt lợi ích cá nhân của họ lên trước hết và thường gây hại cho các bên hữu quan khác.
Cách tiếp cận thích nghi là việc xác nhận về sự cần thiết ủng hộ trách nhiệm
xã hội. Các công ty và những nhà quản trị thích nghi đồng ý rằng những thành viên
thuộc tổ chức phải hành xử một cách hợp pháp và có đạo đức, và họ cố gắng cân
bằng lợi ích của các bên hữu quan khác nhau.
Các công ty và các nhà quản trị có cách tiếp cận tiên phong chủ động nắm
bắt nhu cầu để hành xử theo những cách thức có trách nhiệm xã hội. Họ vượt qua
cách làm thông thường của họ để tìm hiểu nhu cầu của những nhóm bên hữu quan
khác nhau và sẵn sàng sử dụng nguồn lực thuộc tổ chức để thúc đẩy lợi ích không
chỉ của cổ đông mà còn của cả các bên hữu quan khác. Các công ty như vậy luôn đi
tiên phong trong các chiến dịch vì những sự nghiệp đại nghĩa chẳng hạn như vì môi
trường không ô nhiễm, tái tạo và bảo tồn nguồn tài nguyên, giảm thiểu hoặc xóa bỏ
việc sử dụng động vật trong thử nghiệm thuốc và mỹ phẩm.
1.2.4. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là
FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác
bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó
sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.(Trích Luật Đầu tư 2005)
Lợi ích của thu hút FDI:
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
9
Báo cáo nghiên cứu khoa học
hoặc bị thiệt hại do những hành động của doanh nghiệp, nên đạo đức của doanh
nghiệp và quyết định của các nhà quản trị là rất quan trọng đối với họ. Các bên hữu
quan gồm: cổ đông, các nhà quản trị, người lao động, nhà cung cấp và nhà phân
phối, khách hàng, cộng đồng xã hội và quốc gia.
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
10
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
1.3.1. Cổ đông
Cổ đông có sự đòi hỏi với doanh nghiệp bởi khi họ mua cổ phần hay cổ
phiếu của nó, họ trở thành những người sở hữu doanh nghiệp. Cổ phiếu này thừa
nhận người mua nó sở hữu doanh nghiệp với tỉ lệ nhất định và quyền nhận bất kì
khoản cổ tức nào trong tương lai. Các cổ đông quan tâm đến cách thức doanh
nghiệp hoạt động vì họ muốn tối đa hóa thu nhập dựa trên sự đầu tư của họ. Vì vậy,
họ theo dõi doanh nghiệp và các nhà quản trị của nó một cách chặt chẽ để đảm bảo
rằng việc quản lý đang hoạt động mẫn cán nhằm tăng khả năng sinh lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Các cổ đông cũng muốn đảm bảo rằng các nhà quản trị đang hành xử
có đạo đức và không gây rủi ro cho vốn của các nhà đầu tư bằng cách có những
hành động có thể gây hại đến danh tiếng của doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhà quản trị
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
1.3.3. Người lao động
Người lao động của doanh nghiệp là những người làm việc trong các bộ phận
và phòng ban chức năng, như phòng nghiên cứu, phòng bán hàng, phòng sản xuất.
Người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được tiền lương, thưởng xứng đáng với
cống hiến của họ. Phương thức mang tính nguyên tắc mà doanh nghiệp có thể hành
động theo cách có đạo đức hướng đến người lao động và đáp ứng các kỳ vọng của
họ là tạo ra một cấu trúc nghề nghiệp công bằng và bình đẳng cho người lao động.
Ngoài ra, người lao động còn là những người thực hiện các nghiệp vụ tác
nghiệp của một công việc kinh doanh, vì vậy, họ là người có quyết định cuối cùng
trong việc thi hành quyết định liên quan đến đạo đức. Nhận thức và năng lực của
người lao động, quan điểm đạo đức của họ đóng vai trò quan trọng. Bởi khi nhà
quản lý ra quyết định, đứng trên quan điểm của nhà quản lý thì quyết định đó là
đúng đắn, nhưng nếu người lao động cho rằng quyết định đó là phi đạo đức thì việc
thực hiện quyết định sẽ không được như mong muốn của nhà quản lý.
1.3.4. Các nhà cung cấp và nhà phân phối
Mỗi doanh nghiệp nằm trong một mạng lưới các mối quan hệ với những
doanh nghiệp khác để được cung cấp các đầu vào mà nó cần cho hoạt động. Các
doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào các nhà trung gian như những người bán buôn và
nhà bán lẻ để phân phối sản phẩm của nó đến khách hàng cuối cùng. Các nhà cung
cấp kỳ vọng được thanh toán một cách công bằng và đúng hạn cho các đầu vào của
họ; các nhà phân phối kỳ vọng nhận những sản phẩm có chất lượng với mức giá đã
thỏa thuận.
Trong quá trình doanh nghiệp ký kết hợp đồng và tương tác với các nhà cung
cấp và nhà phân phối thường phát sinh những vấn đề đạo đức, những vấn đề đó có
thể liên quan đến việc thanh toán, đặc điểm kỹ thuật và chất lượng sản phẩm.
1.3.5. Khách hàng
Khách hàng thường được xem là nhóm bên hữu quan quan trọng nhất vì
khách hàng quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong ngành kinh doanh đó.
có ý thức và trách nhiệm về sự bền vững và lành mạnh của môi trường tự nhiênkinh tế- văn hóa- xã hội tại cộng đồng. Để làm được điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp
phải thực hiện đầy đủ và tự nguyện các trách nhiệm xã hội gồm các nghĩa vụ kinh
tế, pháp lý, đạo lý và nhân đạo. Cộng đồng, xã hội, quốc gia là nơi doanh nghiệp
thực hiện hoạt động kinh doanh của minh, bởi vậy, bảo vệ lợi ích cộng đồng cũng là
bảo vệ lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.
1.4. Vai trò và ý nghĩa của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội
1.4.1. Ý nghĩa của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội
Những vấn đề về đạo đức là trung tâm dẫn đến cách thức mà các doanh
nghiệp và các nhà quản trị ra quyết định, chúng không chỉ tác động đến hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp mà còn tác động đến sự thịnh vượng của quốc gia.
Các nhà quản trị và mọi người nói chung nên hành động một cách có đạo
đức và giảm bớt việc theo đuổi lợi ích cá nhân của họ bằng cách xem xét ảnh hưởng
của những hành động mà họ thực hiện đến những người khác. Sự theo đuổi không
ngừng lợi ích cá nhân có thể dẫn đến thảm họa tập thể khi một hoặc nhiều người bắt
đầu kiếm lợi từ việc làm không có đạo đức bởi vì điều này khuyến khích những
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
13
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
người khác hành động theo cùng cách đó. Nhanh chóng, ngày càng nhiều người
tham gia như một phong trào, và mọi người càng cố gắng thao túng tình huống này
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
14
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
cách đáng tin cậy, điều này khuyến khích những người khác hành động theo cách
tương tự. Theo thời gian, khi lòng tin giữa các bên hữu quan phát triển mạnh hơn,
họ có thể làm việc cùng nhau hiệu quả và hợp lý, và điều đó làm tăng kết quả hoạt
động của doanh nghiệp. Khi mọi người nhìn thấy kết quả tích cực của hành động
trung thực, hành vi có đạo đức sẽ trở thành chuẩn mực xã hội có giá trị và xã hội
nói chung sẽ hoạt động hay kinh doanh có đạo đức hơn.
Ngoài ra, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội còn ảnh hưởng trực tiếp
đến danh tiếng của doanh nghiệp, việc doanh nghiệp hoạt động không có đạo đức
và trách nhiệm sẽ là tiềm năng khiến cho họ mất đi danh tiếng. Danh tiếng là sự quý
trọng hoặc tiếng tăm tốt mà mọi người hay tổ chức đạt được khi họ hành xử một
cách có đạo đức, là tài sản quan trọng và quý giá của mỗi con người, mỗi tổ chức.
Đối với doanh nghiệp, danh tiếng là lòng tin của những người khác đối với doanh
nghiệp mà điều này sẽ khiến họ muốn làm việc kinh doanh với doanh nghiệp hơn.
Phần thưởng cho danh tiếng tốt của doanh nghiệp là làm tăng hoạt động kinh doanh
và cải thiện khả năng nhận được nguồn lực từ các bên hữu quan. Do đó danh tiếng
có thể làm tăng khả năng sinh lợi nhuận và xây dựng sự thịnh vượng cho các bên
hữu quan. Như vậy, việc hành xử có đạo đức và trách nhiệm xã hội là hành động
đúng đắn mang tính kinh tế, mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích trong ngắn
1.4.2.1. Đạo đức kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh
Đạo đức kinh doanh bổ sung và kết hợp với pháp luật điều chỉnh các hành vi
kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật và quỹ đạo của các chuẩn mực đạo đức xã
hội. Không một pháp luật nào dù hoàn thiện đến đâu chăng nữa cũng có thể là
chuẩn mực cho mọi hành vi của đạo đức kinh doanh. Pháp luật không thể thay thế
vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc khuyến khích mọi người làm việc thiện,
tác động vào lương tâm của các doanh nhân. Bởi vì phạm vi ảnh hưởng của đạo đức
rộng hơn pháp luật, nó bao quát mọi lĩnh vực của thế giới tinh thần, trong khi pháp
luật chỉ điều chỉnh những hành vi liên quan đến chế độ Nhà nước, chế độ xã hội.
1.4.2.2. Đạo đức kinh doanh góp phần nâng cao chất lượng của doanh nghiệp và
giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh doanh
Phần thưởng cho doanh nghiệp có quan tâm đến đạo đức là được nhân viên,
khách hàng và công luận thừa nhận. Phần thưởng cho việc thực hiện đạo đức và
trách nhiệm xã hội trong các quyết định kinh doanh bao gồm: hiệu quả trong các
hoạt động hàng ngày và sự tận tâm của các nhân viên tăng cao, chất lượng sản phẩm
được cải thiện, sự trung thành của khách hàng và lợi ích về kinh tế lớn hơn.
Tăng sự tin tưởng, trung thành của nhân viên: Khi quan tâm tới các chuẩn
mực đạo đức kinh doanh, tức là doanh nghiệp cũng rất tôn trọng và quan tâm tới nhân
viên. Doanh nghiệp càng quan tâm tới nhân viên, nhân viên càng tận tâm với doanh
nghiệp. Hơn nữa, bất cứ ai cũng muốn làm việc cho những doanh nghiệp có hoạt
động kinh doanh minh bạch, trong sáng. Họ tin tưởng hơn vào sự phát triển bền vững
của doanh nghiệp. Khi làm việc trong một doanh nghiệp hướng tới cộng đồng, hướng
tới lợi ích của xã hội, bản thân mỗi nhân viên cũng thấy công việc của mình có giá trị
hơn. Họ làm việc tận tâm hơn và sẽ trung thành với doanh nghiệp hơn.
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
trò rất lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Từ thực tế, các nhà kinh tế đã
chứng minh rằng lợi nhuận doanh nghiệp gắn liền với đạo đức, và mức độ tăng lợi
nhuận gắn với mức độ tăng đạo đức. Vì vậy, khi không hiểu được vai trò của đạo
đức kinh doanh, không có ý thức xây dựng đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp,
các doanh nghiệp sẽ rất khó đi tới con đường thành công cao nhất. Khi doanh
nghiệp hành xử có đạo đức và trách nhiệm đối với xã hội thì doanh nghiệp sẽ dễ
dàng được ghi nhận, khách hàng có thêm niềm tin và danh tiếng của doanh nghiệp
nhờ vậy cũng được nâng cao, điều này rất cần thiết khi doanh nghiệp muốn tồn tại
trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
17
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
1.5. Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện Đạo đức kinh doanh và Trách
nhiệm xã hội
Vai trò của Nhà nước là rất quan trọng trong việc điều chỉnh các hành vi làm
ảnh hưởng đến môi trường và xã hội. Tuy đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã
hội không được thể chế hóa thành luật nhưng khi doanh nghiệp có hành vi vi phạm
dẫn đến những hậu quả ảnh hưởng đến môi trường và xã hội thì vẫn sẽ bị xử phạt
theo luật định và Nhà nước sẽ là cơ quan pháp lý thực hiện việc xử phạt doanh
nghiệp. Trong thời gian qua, Nhà nước đã và đang áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
với khách hàng: tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng. Đối với đối thủ
cạnh tranh: tôn trọng lợi ích của đối thủ, tôn trọng sản phẩm và ý tưởng của đối thủ.
Gắn lợi ích của Doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi
trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội, không vì lợi nhuận mà làm ảnh hưởng
đến các đối tượng hữu quan và ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên.
1.5.1.2. Xây dựng chương trình đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp cần xây dựng được một chương trình đạo đức hiệu quả
đảm bảo tất cả các nhân viên đều hiểu và tuân thủ theo các nguyên tắc đạo đức kinh
doanh đưa ra. Doanh nghiệp hướng dẫn mọi thành viên thực hiện, đồng thời thường
xuyên kiểm tra, đánh giá chương trình đạo đức và không ngừng hoàn thiện chương
trình đạo đức. Xây dựng và phát triển đạo đức trong doanh nghiệp là cả quá trình,
đòi hỏi sự tận tâm của mọi thành viên trong doanh nghiệp.
STT
Các bước
Giải thích
1
Xây dựng
chương trình
đạo đức
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
3
Thực hiện, kiểm Trước hết, bản thân ban giám đốc, lãnh đạo phải là người
tra, đánh giá
thực hiện những quy định về đạo đức đầu tiên. Nếu những
chương trình
người đứng đầu doanh nghiệp hành động vô đạo đức thì rất
đạo đức
khó tạo ra và phát triển một môi trường đạo đức trong doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp hướng dẫn nhân viên thực hiện theo những
quy định đã được đề ra. Bản quy định về đạo đức cần trở
thành đạo đức nghề nghiệp của mọi nhân viên, trở thành một
bộ phận của văn hóa công ty.
Doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá xem việc thực hiện các
nguyên tắc, quy định của các thành viên đạt tới đâu. Trong
quá trình đánh giá, cần có mức thưởng công bằng đối với
những người làm tốt và nhắc nhở kịp thời những người làm
chưa tốt.
4
Không ngừng
hoàn thiện
chương trình
đạo đức.
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
trong xã hội nào cần lưu ý đến những chuẩn mực đạo đức của xã hội đấy để xây
dựng chương trình đạo đức cho doanh nghiệp hiệu quả và phù hợp.
Đạo đức nghề nghiệp là những tiêu chuẩn để quản lý việc các thành viên
của một nghề chuyên môn, một nghề thương mại hoặc một nghề thủ công cần cư xử
như thế nào khi họ thực hiện những hoạt động liên quan đến công việc. Giống như
trong một xã hội tự do, hầu hết các nhóm nghề nghiệp có thể áp đặt những hình phạt
do vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức. Các quy tắc và chuẩn mực nghề nghiệp thường
quản lý việc doanh nghiệp nên ra quyết định như thế nào để gia tăng lợi ích của các
bên hữu quan. Bởi vậy, khi doanh nghiệp hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng
cần tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực nghề nghiệp của ngành nghề đó.
Đạo đức cá nhân là những tiêu chuẩn và giá trị mang tính cá nhân xác định
việc mọi người xem những trách nhiệm của họ đối với những người và các nhóm
khác như thế nào, và từ đó họ nên hành xử như thế nào trong những tình huống khi
lợi ích cá nhân của riêng họ bị đe dọa. Nguồn gốc của đạo đức cá nhân bao gồm
những ảnh hưởng của gia đình, người cùng tuổi, và điều kiện lớn lên nói chung của
người đó. Chính vì lẽ đó, nhiều quyết định hoặc hành vi mà một người thấy không
có đạo đức nhưng lại có thể chấp nhận được với người khác tùy vào quan điểm cá
nhân của mỗi người. Bởi vậy, đạo đức cá nhân không thể áp dụng cho một xã hội
rộng lớn mà cần phải kết hợp với những chuẩn mực đạo đức khác để cân bằng giữa
lợi ích cá nhân và lợi ích của những nhóm người khác. Các nhà quản trị và người
lao động trong tổ chức có thể cho rằng những hành động mà họ tiến hành để xúc
tiến hoặc bảo vệ tổ chức là quan trọng hơn so với bất cứ thiệt hại nào những hành
động đó có thể gây ra cho các bên hữu quan theo đạo đức cá nhân của họ, nhưng
như vậy họ đã hành xử không có đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp, và khi
điều đó bị phát hiện ra thì họ cũng bị trừng phạt. Nên khi xây dựng chương trình
đạo đức, các nhà quản trị không chỉ được dựa vào đạo đức, quan điểm cá nhân mà
Nhà nước, đây là việc doanh nghiệp góp phần tăng thêm phúc lợi cho
xã hội.
Với người tiêu dùng là cung cấp hàng hóa và dịch vụ, các vấn đề
liên quan đến chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản
phẩm, phân phối và bán hàng. Đáp ứng nhu cầu của khách hàng với
mức giá hợp lý.
Với người lao động là tạo công ăn việc làm với mức lương tương
xứng, cơ hội việc làm ngang nhau, cơ hội phát triển nghề và chuyên
Về kinh tế môn, được hưởng môi trường làm việc an toàn vệ sinh, đảm bảo
quyền riêng tư cá nhân.
Đối với chủ tài sản: Bảo tồn và phát triển các giá trị và tài sản
được ủy thác, đảm bảo quyền và phạm vi sử dụng các tài sản được ủy
thác, phân phối và sử dụng phúc lợi thu được từ tài sản và việc sử
dụng tài sản, báo cáo thông tin về hoạt động giám sát.
Với các đối tượng liên quan khác trách nhiệm của doanh nghiệp là
mang lại lợi ích tối đa và công bằng cho họ, có thể được thực hiện
bằng cách cung cấp trực tiếp những lợi ích như hàng hóa, việc làm,
giá cả, chất lượng, lợi tức đầu tư…cho các đối tượng hữu quan tương
ứng. Doanh nghiệp cũng cần phải lựa chọn biện pháp cạnh tranh có
lợi cho các đối tượng liên quan (tránh độc quyền, ép giá…).
Về pháp
lý
Điều tiết cạnh tranh: Các doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm túc
luật pháp hỗ trợ cạnh tranh, tránh tình trạng độc quyền, phối hợp với
Nhà nước ngăn chặn các biện pháp định giá không cân bằng.
Bảo vệ người tiêu dùng: Tổ chức kinh doanh phải cung cấp thông
tin chính xác về các sản phẩm và dịch vụ, tuân thủ các tiêu chuẩn an
toàn sản phẩm.
hiện đúng theo luật định.
Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn những hành vi sai trái: hầu
hết các trường hợp vi phạm về đạo đức đều là do các công ty vượt
khỏi giới hạn của các chuẩn mực do công ty hay ngành quy định. Bởi
vậy các doanh nghiệp cần xây dựng các chương trình giao ước đạo
đức trong đó thiết lập được hệ thống phòng ngừa, ngăn chặn, phát
hiện và xử lý kịp thời các hành vi sai trái và bảo vệ người phát giác.
Về đạo
đức
Về nhân
văn
SVTH:
Liên quan đến những hành vi hay hành động được các thành viên
trong tổ chức, cộng đồng xã hội mong đợi hay không mong đợi nhưng
không được thể chế hóa thành luật. Nghĩa vụ đạo đức trong trách
nhiệm xã hội được thể hiện thông qua các tiêu chuẩn, chuẩn mực và
nó phản ánh quan niệm của các đối tượng hữu quan về đúng, sai, công
bằng, quyền lợi cần được bảo vệ của họ, được trình bày trong bản sứ
mệnh và chiến lược của tổ chức. Thông qua những tuyên bố trong các
tài liệu này về quan điểm của tổ chức, những nguyên tắc và giá trị đạo
đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành
viên và những người hữu quan.
Liên quan đến việc doanh nghiệp đóng góp cho cộng đồng và cho
xã hội, những đóng góp này được thể hiện trên bốn phương diện:
nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ bớt gánh nặng cho chính phủ,
nâng cao năng lực lãnh đạo cho nhân viên và phát triển nhân cách cho
người lao động. Ví dụ như doanh nghiệp làm các công tác từ thiện,
đức cá nhân tốt, ngoài ra cần có kinh nghiệm, sự chính trực và nhận thức đúng đắn
về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.
1.6. Những bài học thành công và thất bại điển hình của các doanh nghiệp
trong và ngoài nước về vấn đề Đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội
1.6.1. Bài học từ Max Burgers
Mọi người thường cho rằng những lời kêu gọi hướng tới một hành tinh xanh
chỉ đến từ những chính trị gia hay những tổ chức bảo vệ môi trường. Nhưng trên
thực tế, rất nhiều doanh nghiệp, từ nhỏ đến lớn, bắt đầu áp dụng công nghệ bảo vệ
môi trường vào hoạt động của mình để hướng tới một mô hình bền vững với lợi
nhuận cao hơn cũng như thực hiện việc kinh doanh có đạo đức và trách nhiệm hơn.
Max Burgers - chuỗi cửa hàng ăn nhanh nổi tiếng của Thụy Sỹ, đã bắt đầu
thực hiện các chính sách bảo vệ môi trường cùng với chiến dịch kinh doanh của
mình từ năm 2006. Cửa hàng chỉ mua duy nhất năng lượng từ sức gió và bù đắp
toàn bộ lượng CO2 mình thải ra bằng cách trồng một lượng cây tương đương tại
SVTH:
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
24
Báo cáo nghiên cứu khoa học
GVHD: TS. Nguyễn Thế Hòa
CN. Hoàng Thị Thu Thỏa
Uganda. Cửa hàng cũng đưa ra những chính sách để cắt giảm bớt 20% lượng điện
tiêu thụ.
Đến năm 2008, Max đưa thêm nhãn CO2 vào trong thực đơn của mình, với
Ngô Thúy Hằng
Bạch Ngọc Nga
25