Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN: SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Đề tài
TÌM HIỂU VỀ TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Cán bộ hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Ths: Trần Minh Thuận
Trần Thị Thanh Hằng
MSSV: 6095937
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Cần Thơ, tháng 04/1013
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 1
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
MỤC LỤC
PHẦN MỘT: PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................4
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................................5
2. Mục đích của đề tài. ............................................................................................6
3. Phạm vi đề tài......................................................................................................7
4. Đối tượng nghiên cứu. ........................................................................................7
5. Phương pháp nghiên cứu. ...................................................................................8
6. Đóng góp của đề tài. ...........................................................................................8
7. Kết cấu bài luận văn............................................................................................8
PHẦN HAI: PHẦN NỘI DUNG. ............................................................................0
Chương một: Khái quát về Tết ở Đồng bằng sông Cửu Long........................10
1.1. Sơ lược về Đồng bằng sông Cửu Long. .....................................................10
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. ........................................................10
1.1.2. Lịch sử hình thành. ..............................................................................11
1.2. Một số khái niệm về Tết.............................................................................15
Chương hai: Tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long......................18
2.1. Các công việc chuẩn bị cho Tết. ................................................................18
2.1.1. Trang trí nhà cửa, chùa chiền, nhà thờ, cơ quan xi nghiệp..................18
2.1.2. Dọn dẹp, trưng bày trên các bàn thờ....................................................18
2.1.2.1. Bàn thờ tổ tiên ...............................................................................18
2.1.2.2. Các bàn thờ khác trong gia đình. ..................................................20
2.1.3. Mâm ngũ quả. ......................................................................................21
2.1.4. Cây nêu. ...............................................................................................22
2.1.5. Câu đối. ................................................................................................24
2.1.6. Hoa tết..................................................................................................28
2.1.6.1. Hoa mai. ........................................................................................28
2.1.6.2. Hoa cúc..........................................................................................29
2.1.6.3. Cây quất.........................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................70
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 4
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
PHẦN MỘT: PHẦN MỞ ĐẦU
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 5
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
1. Lý do chọn đề tài.
Trong một năm, người Việt Nam có rất nhiều lễ hội. Mỗi dân tộc, vùng miền
lại có những phong tục tập quán riêng được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trong số
những lễ hội ấy phải kể đến Tết. Tết là thời điểm hội tụ của sinh hoạt văn hóa dân
tộc. Trong những ngày này, văn hóa dân tộc được bổ sung, phát triển phong phú
lên. Tết là dịp mọi người đi xa trở về tụ họp với gia đình, trở về với quê hương, cội
nguồn. Dù có đi dâu xa nhưng đến ngày Tết, dù không ai bảo ai, mọi người cũng cố
gắng trở về quê hương, sum họp với gia đình, thăm mồ mả tổ tiên, thăm lại họ
hàng, bà con xóm giềng, cùng ăn bữa cơm với gia đình.
Tết thường được diễn ra khi đất trởi đã chuyển mình sang xuân. Từ xa xưa,
khi khoa học chưa phát triển nhưng con người cũng đã tính được một năm có 365
ngày và năm nhuận có 366 ngày. Ba trăm sáu mươi lăm ngày ấy được chia thành
nói riêng là ở Đồng bằng sông Cửu Long có những đặc điểm riêng mang đậm dấu
ấn Nam Bộ.
Cư dân Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ có người Việt sinh sống mà
trên mảnh đất này, còn có sự chung tay xây dựng của các anh em dân tộc khác như
Hoa, Khmer, Chăm. Bốn dân tộc đã hòa mình cùng nhau góp phần làm đa dạng,
phong phú văn hóa Nam Bộ. Thế nhưng việc này không có nghĩa là các dân tộc xóa
bỏ đi các giá trị văn hóa riêng của dân tộc mình để hòa nhập thành một văn hóa
chung. Mỗi dân tộc có những phong tục riêng, nét sinh hoạt riêng nhưng họ đã biết
cách làm cho những phong tục riêng ấy có thể trường tồn trong cuộc sống, phù hợp
hoàn cảnh để có thể chung sống với các dân tộc khác.
Trong một năm, bốn dân tộc sinh sống trên mảnh đất Đồng bằng sông Cửu
Long đề có những ngày lễ, ngày hội khác nhau. Tuy nhiên trong luận văn này, tôi
chủ yếu nghiên cứu về ngày Tết của người Việt sinh sống tại Đồng bằng sông Cửu
Long. Với mong muốn tìm hiểu về ngày Tết truyền thống và những sinh hoạt trong
cộng đồng của người Việt trong những ngày Tết tại vùng đất Đồng bằng sông Cửu
Long.
2. Mục đích của đề tài.
Hằng năm, mỗi độ xuân về Tết đến, người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long
lại cùng với nhân dân cả nước hòa mình vào không khí vui tươi của ngày hội lớn –
ngày Tết Nguyên Đán. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng
trong ngày Tết này. Chỉ với bốn dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất thành đồng
của tổ quốc thì có hai dân tộc chào đón Tết Nguyên Đán theo âm lịch.
Thành phần người Việt ỏ Đồng bằng sông Cửu Long gồm các thành phần
khác nhau: Người Việt sống ở đây từ khi mở đất khai hoang cho đến ngày nay,
người Việt di cư từ miền Bắc, Trung vào từ năm 1954 và 1978 đến nay. Ngoài ra,
cách thức tổ chức một cái Tết cũng như sinh hoạt Tết dựa theo tiêu chí tôn giáo có
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 7
pháp lịch sử, phương pháp logic, tổng hợp, so sánh.
6. Đóng góp của đề tài.
Với những tìm hiểu của tôi trong bài luận văn này, tôi mong muốn rằng sẽ
đóng góp cho việc tìm hiểu thêm về những sinh hoạt, phong tục trong ngày Tết
Nguyên Đán – Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam nói chung và của đồng bào
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 8
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
người Việt sinh sống tại Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Giúp cho người đọc
hiểu sâu sắc hơn về Tết của dân tộc. Bên cạnh đó có sự so sánh giữa cái Tết cổ
truyền của người miền Nam và miền Bắc, miền Trung.
7. Kết cấu bài luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài luận văn còn
gồm các chương sau:
- Chương một: Khái quát về Tết ở Đồng bằng sông Cửu Long.
- Chương hai: Tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 9
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
PHẦN HAI: PHẦN NỘI DUNG.
Tổng diện tích đất tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long khoảng gần bốn
triệu ha, rộng hơn gấp ba lần đồng bằng sông Hồng, bằng 12% diện tích cả nước.
Hằng năm, sông Mêkông vào Việt Nam theo hai nhánh sông Tiền và sông Hậu đem
theo một lượng phù sa từ 200 đến 220 triệu tấn/năm trải dàn khắp mặt đồng bằng
làm cho đồng bằng càng thêm màu mỡ, phì nhiêu và trẻ lại.
Ba mặt giáp biển với nhiều đảo và quần đảo, miền Tây Nam Bộ đã trở thành
một vùng nuôi trồng và đánh bắt thủy – hải sản lớn của cả nước. Đồng bằng sông
Cửu Long còn là khu vực tiếp giáp với vùng biển của các nước Đông Nam Á khác
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 11
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
như Singapores, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia,… Đồng bằng sông
Cửu Long còn nằm trong khu vực có những đường giao thông hàng hải quốc tế
quan trọng, có vị trí là cửa ngõ quốc tế quan trọng (nối Đông Nam Á với Ấn Độ
Dương).
1.1.2. Lịch sử hình thành.
Từ xa xưa, tại vùng đất ngày nay gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, theo
nghiên cứu của các nhà sử học thì nơi đây đã từng tồn tại một vương quốc khá phát
triển - vương quốc Phù Nam - với hoạt động kinh tế chủ yếu là buôn bán. Theo các
cứ liệu lịch sử và các hiện vật thời Phù Nam tìm thấy được đã cho thấy phạm vi
lãnh thổ của vương quốc Phù Nam khá rộng lớn, bao gồm từ vùng đèo Cả của Việt
Nam và bao trùm hết đất nước Campuchia ngày nay, một phần nước Lào, miền
Nam Thái Lan, bán đảo Mã Lai và cả vùng hải đảo rộng lớn phía Nam. Mặc dù địa
bàn rộng lớn nhưng nơi phát triển nhất của vương quốc này là cảng thị Óc Eo. Đây
là một cảng thị hình thành trước khi có sự ra đời của vương quốc Phù Nam. Những
phát hiện mới về các di vật thời kỳ văn hóa Óc Eo ở các tỉnh Long An, Đồng Tháp,
Cửa Tiểu, Cửa Đại toàn là rừng rậm.
Từ thế kỷ XVII, những lưu dân người Việt đã sớm từ vùng đất Thuận Quảng của chúa Nguyễn đến vùng đất Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) để
khai khẩn đất hoang, lập làng, lập xã của những người Việt đầu tiên trên vùng đất
Nam Bộ. Điều này có thể phần nào cho chúng ta nhận thấy rằng vùng đất Mô Xoài
- Đồng Nai chính là nơi mở đầu cho công cuộc khai phá vùng đất mới, định cư lập
nghiệp của người Việt và là bàn đạp để mở rộng ra các vùng phụ cận và xuống sâu
hơn là Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay.
Đến năm 1623, chúa Nguyễn sai sứ sang Chân Lạp xin lập đồn thu thuế ở
Prei Nokor và Krobey (tức là Sài Gòn và Bến Nghé) và đã được triều đình Chân
Lạp chấp thuận. Cũng trong khoảng thời gian này, tình hình chính trị ở Chân Lạp
không ổn định. Điều này không những không ảnh hưởng đến công cuộc khai phá
vùng đất Nam Bộ mà ngược lại, nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền
chúa Nguyễn dần dần thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên vùng đất
mà cư dân người Việt đã mở mang khai phá. Và cũng nhân cơ hội này lấn dần đất
của Chân Lạp.
Năm 1672, chiến tranh Trịnh – Nguyễn chấm dứt càng tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho việc Nam tiến của tập đoàn phong kiến Nguyễn trong việc bình định,
kiểm soát, chiếm cứ và mở mang thêm đất đai cho tới vùng đất thuộc sông Tiền,
sông Hậu sau này.
Cùng với các cư dân người Việt sống tại vùng đất Nam Bộ, thời gian này
triều đình Mãn Thanh thay thế vai trò của nhà Minh ở Trung Quốc, một số quan lại
đại thần, quân lính trung thành với nhà Minh không chấp nhận sự thống trị của nhà
Thanh đã vượt biển đến Đàng Trong tìm đất sinh sống và gây dựng thế lực, chờ
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 13
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
uất với các hoạt động thương mại là chủ yếu.
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 14
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Lúc đầu, vùng đất Hà Tiên dưới sự cai quản của Chân Lạp nhưng đến năm
1708, nhận thấy rằng Chân Lạp không đủ sức bảo vệ vùng đất này tránh khỏi
những sách nhiễu của người Xiêm. Mạc Cửu quyết định dâng đất sáp nhập vào lãnh
thổ của xứ Đàng Trong, quy phục chúa Nguyễn. Với hy vọng rằng với sức mạnh
của chính quyền họ Nguyễn lúc bấy giờ có thể bảo vệ được vùng đất này,
Vùng đất Hà Tiên được sáp nhập vào lãnh thổ của Đàng Trong đã đánh dấu
một bước phát triển quan trọng trong quá trình mở rộng chủ quyền của chúa
Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ. Như vậy, đến thế kỷ XVIII, chủ quyền của Việt
Nam đã mở rộng đến tận Hà Tiên và mũi Cà Mau, và cả các hải đảo ngoài Biển
Đông cũng như vịnh Thái Lan.
Sau khi Mạc Cửu mất, Mạc Thiên Tứ tiếp tục sự nghiệp của Mạc Cửu và
được chúa Nguyễn phong làm đô đốc trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ không chỉ ra sức
xây dựng, phát triển Hà Tiên trở thành trung tâm kinh tế phồn thịnh mà còn nêu cao
ý thức bảo vệ chủ quyền với tư cách là người được giao nhiệm vụ bảo vệ vùng đất
cực Nam của đất nước. Đại Nam Thực Lục cho biết vào năm 1739 “Nặc Bồn nước
Chân Lạp lấn Hà Tiên... Thiên Tứ đem hết quân bản hộ ra đánh, đuổi tới Sài Mạt,
ngày đêm đánh đến hăng, lương thực không tiếp kịp. Vợ là Nguyễn Thị đốc suất vợ
lính vận lương đến nuôi quân, quân không bị thiếu ăn, hăng hái cố đánh phá được
quân Bồn. Tin thắng trận báo lên, chúa cả khen ngợi, đặc biệt cho Thiên Tứ chức
đô đốc tướng quân, ban cho áo bào đỏ và mũ đai, phong Nguyễn Thị làm phu nhân.
Do đó Chân Lạp không dám dòm ngó Hà Tiên nữa.”[ 4, 10]
Từ ngày được sáp nhập vào lãnh thổ của xứ Đàng Trong, vùng đất Hà Tiên
thông qua việc quan sát sự vận chuyển của mặt trăng và các ngôi sao trên bầu trời.
Phép làm lịch của ta cũng giống với Trung Quốc nhưng không phải sao chép y bản
của lịch Trung Quốc.
Không ai biết Tết có từ bao giờ, mà chỉ biết rằng mỗi năm đều cùng với mọi
người đón một cái Tết trong không khí hạnh phúc, ấm nồng của ngày xuân. Với
bánh chưng, bánh tét, với những thứ hàng quà mà chỉ khi đến Tết mới có. Cái
không khí ấm áp được cùng với cả gia đình sum họp ăn bữa cơm chung vui mà
trong năm đôi lúc muốn cũng không có được. Cái khao khát chờ mong đến Tết để
được đi chơi, chúc Tết họ hàng ở xa. Nhưng không ai hỏi rằng Tết có tự bao giờ?
Tết có nguồn gốc ở đâu?
Theo sử sách của Trung Quốc thì Tết có từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế và được
thay đổi theo từng thời kỳ của lịch sử Trung Quốc. “Đời Tam Vương, nhà Hạ
chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu
trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng Chạp làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ
nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan
niệm về ngày giờ tạo thiên lập địa như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất,
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 16
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau”. “Đời nhà Đông Chu,
Khổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần
(Thế kỷ 3 trước công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng
mười. Cho đến khi nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 trước công nguyên) lại đặt ngày Tết
vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không
còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa”.
Sử sách còn cho biết rằng, Đông Phương Sóc – một văn nhân Trung Hoa –
Không chỉ có những người còn sống mới về quây quần, đoàn tụ với gia đình,
mà ngày Tết cũng được xem là ngày đoàn tụ của những người đã khuất. Ngày Tết
cũng là ngày mọi người dâng hương lễ phật, cầu mong thần thánh ban cho họ nhiều
ân phước như sức khỏe, tiền tài, may mắn, hạnh phúc.
Ngày Tết là ngày đầu tiên của năm mới. Năm mới thì mọi thứ từ vật chất đến
tinh thần cũng đều phải mới thì cái may, cái hên mới đến với gia đình mình. Nhà
cửa được trang trí, dọn dẹp, sơn sửa lại. Người lớn cũng như trẻ em thường mặc bộ
quần áo mới nhất, đẹp nhất. Mọi nợ nần đều được thanh toán trước khi bước vào
năm mới. Những buồn phiền, xích mích với nhau trong năm cũ đều được bỏ qua và
vui vẻ với nhau. Vì người ta tin rằng, năm mới vui vẻ thì cả năm sẽ gặp được nhiều
điều tốt đẹp.
Ngày Tết là ngày của hy vọng. Mọi người đều hy vọng khi bước sang năm
mới thì đều gặp nhiều may mắn hơn năm cũ. Mọi xui xẻo trong năm vừa qua sẽ qua
hết và năm mới sẽ đem lại nhiều điều tốt lành đối với mọi người hơn.
Ngày Tết cũng là ngày mọi người kính nhớ đến ông bà tổ tiên của mình. Vì
trong suốt một năm vừa qua, nhờ ân đức của tổ tiên mà họ được an lành. Và cũng là
ngày mà mọi người cám ơn nhau. Con cái cám ơn cha mẹ đã nuôi dưỡng mình,
nhân viên cảm ơn cấp trên đã cho mình công ăn việc làm, cho mình phát huy khả
năng của mình, lãnh đạo cám ơn những người đã cộng tác, giúp mình trong suốt
năm qua.
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 18
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Chương hai: Tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 19
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
nhớ và cũng là thế giới thu nhỏ của những người đã khuất. Cũng giống như bàn thờ
của những gia đình theo Phật giáo ở miền Bắc, miền Trung, bàn thờ thường được
đặt ở vị trí quan trọng trong nhà, nơi mà khi bước vào nhà, thứ mà ai cũng dễ dàng
thấy trước tiên đó là bàn thờ tổ tiên. Thường thì với kiến trúc nhà ba gian ở Nam
Bộ, bàn thờ được đặt ở gian giữa. Trước bàn thờ là một bộ ghế dài dùng để tiếp
khách, hai bên bàn thờ là hai cánh cửa để đi vào hai phòng hoặc một phòng phía
sau. Ngày nay, vì nhà được xây dựng theo nhiều kiểu kiến trúc khác nhau đôi khi
cũng không còn là nhà ba gian mà là một gian có lầu hoặc gác, hoặc hai gian. Vì
vậy bàn thờ có thể đặt ở nhiều vị trí khác nhau. Nhưng nhìn chung thì bàn thờ của
người Việt dù ở thành thị hay nông thôn cũng được đặt ở vị trí mà bước vào nhà
đều có thể dễ dàng nhìn thấy đầu tiên. Thường là ở phòng khách vì người Việt Nam
không có phòng dành riêng cho việc thờ tự.
Người ta quan niệm rằng, hai cây đèn trên bàn thờ tượng trưng cho mặt trời,
mặt trăng. Nhang (hương) là tượng trưng cho tinh tú. Ngoài ra còn cho rằng, trục
đứng của nhang được xem là mạch nối giữa trời và đất. Hai bên lư hương, ở phía
sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy với những bông hoa nhỏ bao
quanh một bông lớn. Hai cành hoa này tượng trưng cho ngày âm, dương. Xen giữa
hai cây đèn và hương là hai đĩa để đặt quả lễ, bánh trái. Phía trước lư hương để một
bát nước trong coi như nước thiêng. Ở miền Bắc, trên bàn thờ thường có một cành
đào được cắm xinh xắn trong một chiếc bình cao cổ. Nhưng ở miền Nam, vì điều
kiện địa lí nên không có hoa đào mà thay vào đó là hoa mai.
Với quan niệm năm mới đến thì mọi vật đều phải mới, cho nên bàn thờ cũng
được chú ý nhiều. Thường thì người ta mua sắm, thay mới những vật dụng cần thiết
tiên. Còn các bàn thờ khác tùy chức năng của các vị thần mà chủ nhà thờ mà có các
vị trí để khác nhau. Khi đến Tết, các bàn thờ này cũng được dọn dẹp và bày trí lại.
Trên bàn thờ cũng có tượng, ảnh, lư hương, chân đèn và các vật dụng phục vụ cho
lễ nghi khác,… Tất cả đểu được lau chùi sạch sẽ. Và cũng có một cành đào hay
cành mai hoặc một vài bông cúc ở bên cạnh bàn thờ.
2.1.3. Mâm ngũ quả.
Trên bàn thờ tổ tiên trong những ngày Tết, ngoài nhang, đèn, hoa thì bao giờ
cũng có một đĩa trái cây để trên đó gọi là “mâm ngũ quả”. Ở miền Bắc có tục gói
bánh chưng nên mâm ngũ quả thường được đặt ở giữa bàn thờ, hai bên là hai cặp
bánh chưng. Ở miền Nam, mọi người chuộng bánh Tét hơn nên trên bàn thờ sẽ có
một đĩa đựng một cặp hoặc ba, bốn đòn bánh. Vì vậy mâm ngũ quả ở miền Nam
thường được đặt kế bên đĩa bánh Tét.
Mâm ngũ quả được đặt trên một cái đĩa to hoặc trên đĩa nhựa ở phía dưới có
chân. Mâm ngũ quả có năm loại tương ứng với quan niệm ngũ hành: Kim, Mộc,
Thủy, Hỏa, Thổ. Mâm ngũ quả cũng là tượng trưng cho năm lời chúc: Phúc, Lộc,
Thọ, Khang, Ninh. (Phúc: Ước mong gia đình sum họp, đông vui, hạnh phúc. Lộc:
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 21
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Cầu cho nhà được hưởng sự no đủ trong cuộc sống quanh năm. Thọ: Ước mong
trọn đời khỏe mạnh, sống trăm tuổi. Khang: An khang, an nhàn, tự tại, luôn minh
mẫn, hoạt bát trong suốt năm. Ninh: Mong ước gia đình ấm êm, tai qua nạn khỏi
của cả gia đình và nhà cửa). Mâm ngũ quả còn thể hiện cho hương vị cuộc sống:
ngọt, bùi, chua, cay, đắng (ngũ vị). Mâm ngũ quả cũng được xem là “thành quả”
của quá trình lao động trong suốt một năm. Vì vậy mâm ngũ quả cúng trong đêm
giao thừa mang một ý nghĩa sâu sắc, nó thấm sâu trong tâm thức người Việt ý niệm
Ngoài mâm ngũ quả, trên bàn thờ cũng có thể trưng bày các loại trái cây
như: bưởi, cam, quýt, dưa hấu, na,… Đặc biệt ngày Tết, trên bàn thờ tổ tiên thường
có một cặp dưa hấu to, tròn, da xanh mượt, trên thân dưa có dán chữ “phúc”, chữ
“lộc”, chữ “thọ” để tăng thêm không khí thiêng liêng, trang trọng và ấm cúng cho
gia đình.
2.1.4. Cây nêu.
Cú kêu ba tiếng cú kêu
Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.
Cây nêu là cây tre dài 5 – 6 mét được dựng trước sân nhà từ ngày tiễn Ông
Táo về trời. Cây tre được tước hết cành, nhưng có để lại ở ngọn những cụm lá hoặc
buộc vào đó một túm lông gà trống, có nơi treo phướn (cờ) tượng trưng cho ngũ
hành (hành kim: trắng, hành thổ: màu vàng, hỏa: màu đỏ, thủy: màu đen, mộc: màu
xanh). Gần đỉnh treo một cái vòng tre, những chiếc chuông con và khánh bằng đất
sét nung – tượng trưng cho bát quái. Khi gió thổi, nó phát ra âm thanh nhẹ và êm
như tiếng chuông gió. Dưới cái vòng này có buộc một chiếc mũ thần, những thoi
vàng bằng giấy, những miếng trầu, lá dứa hoặc cành xương rồng gai. Ở đỉnh còn
treo một cái đèn nhỏ thắp ban đêm. Tùy theo từng địa phương mà trên cây nêu có
treo những thứ khác nhau. Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức có ghi
lại: “Ngày trừ tịch, ở trước cửa lớn mọi nhà đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ
bằng tre, trong giỏ đựng trầu, cau, vôi, ở bên giỏ có treo giấy bạc, gọi là dựng nêu”.
[12, 182]. Trên cây nêu còn gắn thêm một dải pháo dài, đêm trừ tịch, người ta đốt
pháo để mừng năm mới, để xua đuổi ma quỷ, những điều không may. Ngày xưa
không có đèn điện như bây giờ, có lẽ đốt pháo cũng nhằm lấy ánh sáng của tràng
pháo để chỉ đường cho ông bà về ăn Tết với con với cháu.
Ánh sáng của bóng đèn hay của tràng pháo, cành gai, âm thanh của những
chiếc khánh đất làm cho ma quỷ sợ hãi mà không dám làm hại gì đến con người.
Ngoài ra bên trên ngọn cây nêu còn có treo một tấm phên nhỏ gồm bốn nan dọc
đan với năm nan ngang. Tấm phên này cũng nhằm mục đích xua đuổi ma quỷ.
Cây nêu được dựng từ ngày 23 tháng Chạp cho đến trước đêm giao thừa thì
Canh giữ thường lai.” [1, 149]
Đến ngày mồng bảy Tết, sau khi làm lễ cúng trời đất, thì hạ cây nêu xuống.
Sự kiện này được gọi là Khai hạ. Đây được xem là thời điểm chấm dứt Tết, và mọi
người lại trở về với cuộc sống thường ngày. Ngày nay, không còn thấy xuất hiện
cây nêu trong những ngày Tết nữa và do cuộc sống nhiều bận rộn, lo toan nên hầu
như hết ngày mồng ba Tết thì cũng như hết Tết. Do đó tập tục dựng nêu và lễ cúng
trời đất trong ngày Khai hạ dường như mất hẳn. Thế hệ trẻ không có ấn tượng gì
với hình bóng của cây nêu, mà chỉ biết về nêu qua tranh, ảnh, sách vở ghi chép lại.
Thiết nghĩ rằng, ngày nay chúng ta nên tiến hành việc dựng nêu trong những ngày
Tết. Vì cây nêu là hình ảnh đẹp, biểu trưng cho Tết.
SVTH: Trần Thị Thanh Hằng
Trang 24
Tìm hiểu về tết của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
2.1.5. Câu đối.
Người Việt ở miền Bắc xưa khi Tết đến thì có tục đến xin ở cụ Nghè, cụ Cử
hay những người hay chữ vài chữ trên giấy hồng điều gọi là câu đối để treo trong
nhà cho những ngày xuân thêm trang hoàng.
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh
Có thịt, có dưa hành, có nêu, có pháo nhưng không có câu đối đỏ thì không
làm cho không khí ngày xuân thêm ấm cúng được. Câu đối được viết bằng chữ Hán
trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào nên được gọi là câu đối đỏ. Câu đối cũng
được gọi là liễn. Liễn thường là những dải giấy màu đỏ hay hồng đào, hai đầu dải
giấy có làm trục bằng tre hay gỗ để khi treo lên thì dải câu đối được ngay ngắn. Có
khi liễn không cần có trục mà chỉ là những dải giấy để tiện dán vào những nơi cần
treo như hai bên bàn thờ, các cột nhà, cổng hay ngõ.