ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ PHƯƠNG LAN
HÀNH VI GIẢM THIỂU RỦI RO VÀ VẬN DỤNG
NGUỒN VỐN XÃ HỘI CỦA NÔNG DÂN NGƯỜI VIỆT Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG QUÁ TRÌNH
CHUYỂN DỊCH TỪ TRỒNG LÚA SANG NUÔI TÔM LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG QUÁ TRÌNH
CHUYỂN DỊCH TỪ TRỒNG LÚA SANG NUÔI TÔM
Chuyên ngành: DÂN TỘC HỌC
Mã số: 62.22.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.GS.TS. Lương Văn Hy
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Tiệp
Phản biện độc lập:
- PGS.TS. Phan An
- PGS.TS. Hoàng Lương
Phản biện 1: PGS.TS. Phan Xuân Biên
Phản biện 2: TS. Phan Văn Dốp
Phản biện 3: PGS.TS. Lê Thanh Sang
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2011
MỤC LỤC
Trang
Dẫn luận ........................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài– Mục đích nghiên cứu........................................................... 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................................... 4
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn............................................................... 6
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm .......................................................... 78
2.1.1 Chính sách ................................................................................................... 78
2.1.2 Đất đai- môi trường.....................................................................................83
2.1.3 Kiến thức – kỹ thuật .................................................................................. 87
2.1.4 Lao động và sự hợp tác trong sản xuất........................................................ 92
2.1.5 Vốn sản xuất................................................................................................ 97
2.1.6 Sản xuất, thị trường tiêu thụ, chi phí và thu nhập .................................... 102
2.2 Tính bất ổn của nghề nuôi tôm: m
ột số phân tích ........................................... 116
2.3 Hành vi phân tán và giảm thiểu rủi ro của nông dân nuôi tôm...................... 124
2.3.1 Phân tán và giảm thiểu rủi ro khi chuyển dịch từ lúa sang tôm ............... 125
2.3.2 Phân tán và giảm thiểu rủi ro trong quá trình sản xuất: áp dụng khoa học
kỹ thuật một cách chọn lọc................................................................................ 135
Chương 3
QUAN HỆ XÃ HỘI VÀ VỐN XÃ HỘI Ở CỘNG ĐỒNG NÔNG DÂN
NUÔI TÔM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.1 Quan hệ xã hội và vốn xã hội ở cộng đồng nông dân nuôi tôm ...................... 150
3.1.1 Các t
ổ chức xã hội quan phương............................................................... 151
3.1.2 Các tổ chức và mạng lưới xã hội phi quan phương ..................................166
3.1.2.1 Gia đình - dòng họ và quan hệ hôn nhân..................................... 166
3.1.2.2 Các tổ chức tôn giáo - tín ngưỡng ............................................... 183
3.1.2.3 Hội “dân/ dâng quan”.................................................................. 191
3.1.2.4 Các nhóm hụi............................................................................... 194
3.2 Vai trò của vốn xã hội trong hoạt động kinh tế ở cộng đồng nông dân nuôi
tôm vùng ĐBSCL................................................................................................. 198
3.2.1 Sự tương trợ về vốn ................................................................................ 199
3.2.2 Sự tương trợ về kỹ thuật và thông tin thị trường ................................... 206
3.2.3 Sự tương trợ về lao động......................................................................... 208
dịch sang nuôi tôm ở hai cộng đồng ........................................................................... 114
14. Bảng 3.1: Số lượng thành viên các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp tại hai địa bàn nghiên cứu ................... 153
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
1. Hình 1.1: Địa điểm nghiên cứu................................................................................. 56
2. Hình 1.2: Sản lượng tôm nuôi của Việt Nam và vùng ĐBSCL................................ 67
3. Hình 1.3: Diện tích và số hộ nuôi tôm ở xã Tân Chánh qua các năm ...................... 74
4. Hình 2.1: Sơ đồ phân cấp quản lý công tác khuyến nông các cấp ........................... 82
5. Hình 2.2: Mạng lưới thị trường tiêu thụ tôm ở địa bàn khảo sát ............................ 109
6. Hình 3.1: Sơ đồ hệ thống thân tộc, quê quán của người hôn phối và đặc điểm hôn
nhân của dòng họ Nguyễn ấp
Đình, Tân Chánh ......................................................... 179
7. Hình 3.2: Sơ đồ hệ thống thân tộc, quê quán của người hôn phối và đặc điểm hôn
nhân của dòng họ Nguyễn ấp Thị Tường, Cà Mau..................................................... 181
1
DẪN LUẬN 1. Lý do chọn đề tài – Mục đích nghiên cứu
Hiện nay, tuy Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa và kết quả là
tỷ trọng của ngành nông nghiệp đã giảm dần trong cơ cấu tổng sản phẩm. Năm
2008, cơ cấu tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 22,2%, trong
khi đó ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 39,8% và dịch vụ chiếm 38% [7,
tr.16], [63, tr.38]. Tuy tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp đ
ã giảm trong cơ cấu tổng sản
cư dân tại đây, những thay đổi cũng đã biểu hiện rất sâu sắc.
Trong những thập kỷ qua, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp đã
trở thành một hiện tượ
ng nổi bật của vùng. Thế nhưng, đi cùng với sự chuyển đổi
phương thức mưu sinh mạnh mẽ hướng về thị trường này thì tình trạng sản xuất
nông nghiệp trong thời gian qua ở ĐBSCL lại nổi bật với những hiện tượng điệp
khúc “trồng – chặt,” “trúng mùa – rớt giá,” người nông dân thường xuyên thay đổi
phương thức mưu sinh của mình theo nhịp điệu bi
ến động của nhu cầu thị trường.
Thật vậy, nông dân ĐBSCL thường được đánh giá là nhanh nhạy trong việc đáp
ứng với thị trường và đây cũng được cho là nguyên do của sự chuyển dịch tự phát,
và điệp khúc chuyển đổi mưu sinh chưa có hồi kết [62, tr.8].
1
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã và đang diễn ra
mạnh mẽ với nhiều mô hình chuyển dịch từ đối tượng trồng trọt này sang đối tượng
trồng trọt khác, từ trồng trọt sang chăn nuôi, hay từ đối tượng chăn nuôi này sang
đối tượng chăn nuôi khác. Trong các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở ĐBSCL,
có thể nói mô hình chuyển dịch từ trồng lúa năng su
ất thấp sang nuôi tôm thương
mại trong những năm qua là một trong những mô hình diễn ra mạnh mẽ và quy mô
nhất, làm thay đổi nhiều khía cạnh của vùng ĐBSCL trên các lĩnh vực kinh tế, xã
hội và sinh thái.
Trong lĩnh vực nuôi tôm có ba mô hình chuyển dịch chủ yếu: lúa-tôm, rừng-
tôm và muối-tôm.
Giống tôm được nuôi chủ yếu hiện nay ở vùng ĐBSCL là tôm sú
(black tiger shrimp, Penaeus Monodon) và tôm thẻ chân trắng (white-leg shrimp,
Penaeus Vannamei). Tuy chưa có số liệu thống kê chính thức về diện tích chuyển
dịch của từng loại mô hình cho cả vùng ĐBSCL hiện nay nhưng có bằng chứng cho
mạnh mẽ vào sản xuất thị trường. Đối với trồng lúa, sản phẩm làm ra có thể một
phần phục vụ cho nhu cầu lương thực của gia đình, một phần tham gia thị trường để
trang trải các chi phí khác của hộ gia đình. Thế nhưng đối với hình th
ức nuôi tôm,
sản phẩm làm ra chủ yếu để tham gia thị trường. Do tính siêu lợi nhuận của tôm so
với lúa nên hình thức chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ lúa sang tôm đã được xem như
một lời giải cho bài toán giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế ở những vùng đất này.
Tuy nhiên, đồng nghĩa với việc chuyển từ trồng lúa với chi phí đầu tư và hiệu quả
kinh tế thấp sang nuôi tôm với vốn
đầu tư và hiệu quả kinh tế cao và phụ thuộc
mạnh mẽ vào thị trường, nông dân cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro trong phương
thức sinh kế mới này. Việc chấp nhận những rủi ro này có thể vừa là một con đường
dẫn đến sự tăng trưởng về kinh tế cho người nông dân nhưng cũng vừa có thể là 4
một thảm họa cho đời sống của họ. Ngoài ra, các cộng đồng cư dân sản xuất nông
nghiệp này từ lâu cũng đã hình thành một hình thức tổ chức xã hội nhất định với các
mối quan hệ xã hội đặc trưng. Đặc điểm tổ chức xã hội của cư dân vùng ĐBSCL
thường được các nhà nghiên cứu nhận diện là “mở” hay “ít chất kết dính.”
Xuấ
t phát từ mối quan tâm về bản chất hiện tượng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế diễn ra ở vùng đất năng động này và đặc điểm các mối quan hệ xã hội của cộng
đồng cư dân tại đây cùng với vai trò của chúng trong cuộc sống người dân, chúng
tôi chọn vấn đề “Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của nông
dân người Việt
ở đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình chuyển dịch từ trồng
lúa sang nuôi tôm” làm đề tài nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là tìm hiểu bản chất hành vi kinh tế của
nông dân cùng với các quan hệ xã hội của cộng đồng nông dân trong bối cảnh tham
này.
Để phân tích về hành vi kinh tế, chúng tôi chia xẻ quan điểm với Keyes
(1983) khi tác giả đồng ý với Popkin và một số tác giả khác khi cho là “khi thảo
luận về hành vi kinh tế phải bắt đầu với sự chú trọng đến các chủ
thể cá nhân
(individual actors), chứ không phải đến cộng đồng mà trong đó hành vi kinh tế diễn
ra. Tuy nhiên, cá nhân chỉ có thể hành động trong mối liên hệ với những người
khác” [107, tr.852]. Trong nghiên cứu của Keyes đó là hành vi kinh tế diễn ra trong
mối quan hệ với các hộ gia đình mà các chủ thể hành động có các mối quan hệ chủ
yếu. Do vậy, nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào hành vi kinh tế và các quan hệ
xã hội của các nông dân nuôi tôm. Theo đó, đơn vị phân tích của chúng tôi là các
chủ
thể nông dân trong hộ gia đình theo nghĩa là những cá nhân cùng sinh sống
dưới một mái nhà và cùng chung kinh tế. Phạm vi khảo sát là cộng đồng ấp. Khác
với khái niệm làng ở đồng bằng Bắc bộ như một đơn vị văn hóa xã hội, hiện nay
người dân ở ĐBSCL thường xác định tính phụ thuộc nơi cư trú của mình dựa vào
đơn vị hành chính, trong đó ấp là đơn vị cư trú nhỏ nhất. Khi thao tác trong phạ
m vi
hành chính này, chúng tôi nhận thức là không gian khảo sát chỉ mang tính chất
tương đối. Các mối quan hệ xã hội luôn là những liên kết rộng mở vượt ra ngoài các
không gian địa lý.
Phạm vi nghiên cứu: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích nuôi
tôm lớn nhất của cả nước. Diện tích nuôi tôm vùng ĐBCSL chiếm khoảng 89%
diện tích nuôi tôm cả nước với 539.000 ha vào năm 2008 [63, tr.322, tr.323], [167].
Ngoài ra, nơi đây có nhiều cộng đồng nông dân Việt được hình thành trong lịch sử 6
như những đơn vị văn hóa xã hội đặc trưng. Do vậy, về không gian chúng tôi chọn
địa bàn này để nghiên cứu và giải quyết các mục tiêu mà đề tài đã đặt ra.
ếu tố tích cực góp 7
phần nâng cao hiệu quả hoạt động nông nghiệp nói chung và đời sống của người
nông dân nói riêng. Trong bối cảnh vấn đề tam nông ở Việt Nam đang được tập
trung nghiên cứu và phát triển, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp thêm một cơ
sở lý luận và thực tiễn cho vấn đề quan trọng này.
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Trước hiện tượng đi
ệp khúc “trồng chặt” trong hoạt động nông nghiệp vùng
ĐBSCL nói chung và việc chuyển từ trồng lúa giá trị thấp sang nuôi tôm thương
mại giá trị cao nói riêng diễn ra trong bối cảnh ở những vùng đất có điều kiện kinh
tế còn nhiều khó khăn, câu hỏi nghiên cứu thứ nhất chúng tôi đặt ra là: Bản chất
hành vi chấp nhận rủi ro của người nông dân qua việc nông dân thường xuyên thay
đổi phương thức mưu sinh của mình theo nhịp
điệu biến động của nhu cầu thị
trường là gì? Cụ thể trong trường hợp nghiên cứu, đó là bản chất của vấn đề người
nông dân sẵn sàng chấp nhận chuyển đổi từ trồng lúa, một nghề truyền thống đã có
nhiều kinh nghiệm và vốn đầu tư thấp sang nuôi tôm, một nghề hoàn toàn mới, đòi
hỏi cần có sự am hiểu về khoa họ
c kỹ thuật hiện đại và cần nhiều vốn đầu tư.
Với đặc điểm đời sống cộng đồng nông dân ở nông thôn trong quá trình hội
nhập kinh tế thế giới thông qua sản xuất thương mại tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện
nay thì câu hỏi nghiên cứu thứ hai đó là: các mối quan hệ xã hội có vai trò như thế
nào trong hoạt động kinh tế của cộng đồ
ng nông dân? Loại vốn xã hội nào là quan
trọng? Và liệu trong bối cảnh có nhiều cơ hội và rủi ro này, xu thế cá nhân hóa
(individualization) hay xu thế củng cố nhóm (trở lên nổi trội)?
Liên quan đến câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, từ cách tiếp cận tính duy lý theo
Do vậy, chúng tôi chọn hai cộng đồng nông dân để nghiên cứu. Một cộng đồng nuôi
tôm theo hình thức quảng canh truyền thống và một cộng đồng theo hình thức
quảng canh cải tiến. Hai cộng đồng này có đặc điểm chung là cư trú ở khu vực
trước đây là vùng sản xuất lúa nước một vụ kém hiệu quả đã thực hiện chuyển dịch
mạnh mẽ từ lúa sang tôm theo chính sách khuyến khích chung của nhà nướ
c nhưng
mỗi địa bàn khác nhau về quá trình thực hiện. Một cộng đồng có sự chuyển dịch
đồng loạt và một cộng đồng có sự chuyển dịch tiệm tiến. Bên cạnh đó, để tìm hiểu
đặc điểm quan hệ xã hội và vai trò của chúng trong đời sống của cư dân trong bối
cảnh hiện nay chúng tôi chọn hai cộng đồng có sự khác biệt về các đặc điểm văn
hóa - xã hội và hình thái cư trú để nghiên cứu trong bối cảnh so sánh. Theo đó, một
cộng đồng có sự cư trú tập trung và một cộng đồng có đặc điểm cư trú rải rác. 9
Dựa trên các tiêu chí đã xác định, chúng tôi chọn một địa bàn nghiên cứu có
dân cư cư trú tập trung ở tỉnh Long An, là một trong hai tỉnh ở ĐBSCL có diện tích
nuôi tôm ít nhất và nơi đây hình thức nuôi tôm chủ yếu là quảng canh cải tiến; và
một địa điểm nghiên cứu có dân cư cư trú rải rác và điều kiện giao thông đi lại khó
khăn ở tỉnh Cà Mau, nơi có diện tích nuôi tôm nhiều nhất vùng Đ
BSCL và tại đây,
tôm được nuôi chủ yếu theo hình thức quảng canh truyền thống và.
4
Vì tập trung
nghiên cứu mô hình chuyển dịch từ lúa sang tôm nên chúng tôi chọn hai ấp của hai
xã có diện tích chuyển dịch mạnh mẽ từ lúa sang tôm ở hai tỉnh này đó là ấp Thị
Tường, xã Hòa Mỹ của huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau và ấp Đình của xã Tân
Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An để khảo sát. Đây là hai ấp có mức kinh tế
trung bình của từng xã và có các hộ nông dân đã chuyển dịch hoàn toàn từ trồng lúa
chúng tôi chọn 202 hộ trong tổ
ng thể 409 hộ và ở ấp Đình (tỉnh Long An) chúng tôi
chọn 152 hộ trong tổng thể 245 hộ. Để chọn mẫu cho các cuộc phỏng vấn sâu,
chúng tôi chọn phỏng vấn các hộ nông dân nuôi tôm có sự phân tầng về kinh tế trên
quan điểm cho là trong việc tiếp thu các yếu tố sản xuất mới, yếu tố vốn có vai trò
quan trọng chi phối đến hành vi kinh tế. Sự phân tầng kinh tế hộ giàu, hộ khá và hộ
nghèo này dự
a vào sự đánh giá của cộng đồng. Ở cả hai cộng đồng, chúng tôi đã
thực hiện 72 cuộc phỏng vấn sâu và các cuộc trao đổi trò chuyện phi chính thức với
người dân ở nhiều vị thế khác nhau trong xã hội về các chủ đề khác nhau liên quan
đến việc chuyển dịch, các chính sách liên quan đến nuôi tôm, mạng lưới thị trường,
các vấn đề về lịch sử, sinh hoạt văn hóa, quan hệ xã hội và hoạt độ
ng kinh tế của
từng cộng đồng. Phương pháp quan sát tham dự vào các hoạt động liên quan đến
nuôi tôm, các đám tiệc và nghi lễ của gia đình và cộng đồng, và các cuộc hội họp tại
địa phương được sử dụng để kiểm chứng, tìm hiểu sâu và khơi gợi các vấn đề cho
các cuộc phỏng vấn.
Bên cạnh yếu tố phân tầng kinh tế, chúng tôi cũng chú ý đến yếu tố giới và
tuổ
i tác khi chọn đối tượng phỏng vấn sâu. Do trong nuôi tôm, nam giới là lực
lượng lao động chủ yếu nên trả lời viên của các cuộc phỏng vấn về nghề nuôi tôm
đa phần là nam giới. Sự phân công lao động theo giới này theo người dân là do yếu
tố “kiến thức phức tạp” của nghề nuôi tôm và do sự phù hợp về sức khỏe của nam
giới với nghề nuôi tôm. Tuy nhiên, do những biến đổi xã hội, phụ nữ
cũng có sự
tham gia nhất định vào nghề này nên trong nghiên cứu về hành vi nuôi tôm, giọng
nói của nữ giới cũng đã được đưa vào. Ở các vấn đề liên quan đến sinh hoạt cộng
đồng, chúng tôi có chú ý đến vấn đề giới và tuổi tác khi chọn đối tượng phỏng vấn.
Chương 2: Hành vi giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh tế của nông dân
nuôi tôm vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong chương này chúng tôi sẽ phân tích
làm rõ bản chất hành vi kinh t
ế của nông dân theo cách tiếp cận tư duy phân tán và 12
giảm thiểu rủi ro. Trên cơ sở phân tích hành vi chuyển dịch phương thức sinh kế từ
trồng lúa sang nuôi tôm và quá trình hoạt động nuôi tôm, chúng tôi sẽ trả lời cho
câu hỏi nghiên cứu thứ nhất.
Chương 3: Quan hệ xã hội và vốn xã hội ở cộng đồng nông dân nuôi tôm
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong chương này chúng tôi sẽ phác họa các mối
quan hệ xã hội ở cộng đồng nông dân nuôi tôm trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ
sở
trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai, chúng tôi sẽ tìm hiểu về sự vận dụng nguồn
vốn xã hội trong cuộc sống cộng đồng nông dân, đặc biệt trong hoạt động kinh tế
của họ. Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận diện những quan hệ xã hội có vai trò tích cực
trong hoạt động kinh tế hiện nay của nông dân trên cơ sở lát cắt phân tầng về kinh
tế.
Phần kết luận c
ủa luận án sẽ tổng kết những phân tích, kết quả nghiên cứu và
một số nhận định về chính sách nông nghiệp qua trường hợp nghiên cứu cụ thể của
luận án.
13
Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ HAI CỘNG ĐỒNG
cần thiết để cung cấp cho “một nhóm thống trị sử dụng thặng dư để sống và phân 14
phối lại cho các nhóm trong xã hội mà không canh tác nhưng phải được nuôi để đổi
lấy những loại hàng hóa và dịch vụ” [144, tr.4]. Như vậy, theo cách hiểu này, nông
dân được phân biệt dựa trên mối quan hệ cấu trúc xã hội, đó là yếu tố giai cấp,
thặng dư, hay thành thị. Sự xuất hiện của nhà nước đánh dấu sự chuyển đổi của cư
dân trồng trọt sang nông dân. Nông dân trong mối quan hệ này là kẻ
bề dưới. Hay
nói cách khác nông dân tồn tại trong một nhà nước quốc gia (Potter, Dias và Foster,
1967, Goldschidt, 1997) dẫn theo [11, tr.48]. Ngoài ra, nông dân theo nghĩa
peasants khác với nông dân theo nghĩa farmers ở chỗ trong khi các nông dân theo
nghĩa farmers là các chủ trang trại, một đơn vị kinh doanh, kiếm lợi nhuận bằng
cách bán sản phẩm ra thị trường, còn nông dân theo nghĩa peasants không điều
hành một công ty theo nghĩa kinh tế mà điều hành một hộ gia đình, vốn không phải
là mối quan tâm của kinh tế
học[144, tr.2). Peasants nói đến một vị trí xã hội trong
khi farmers đề cập đến một nghề nghiệp. Trong xã hội “peasant”, sản xuất dựa trên
“nhu cầu để tồn tại và những đòi hỏi gắn với địa vị kinh tế - xã hội trong cộng đồng.
Trong khi ở “farmer,” sản xuất lại dựa theo tính duy lý về kinh tế nhằm đáp ứng
điều kiện của thị
trường” [11, tr.49]. Trong tiếng Việt, cả hai thuật ngữ đều được
dịch ra là nông dân. Trong bối cảnh của Việt Nam, có nghiên cứu cho là nông thôn
Việt Nam có cả nông dân sản xuất hàng hóa (Akhram-Lodhi, 2005) và một số đông
nông dân sản xuất tự cung tự cấp (Nguyễn Văn Sửu, 2002) [11, tr.53].
Trong bối cảnh nghiên cứu về hành vi kinh tế của nông dân nuôi tôm và các
mối quan hệ xã hội của cộng đồng nông dân, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở nghề
nghiệp để định nghĩa nông dân. Theo đó, nông dân được đề cập trong luận án là
những người kiếm sống chủ yếu bằng hình thức canh tác nông nghiệp, có sự tham
về khái niệm rủi ro (risk). Vì vậy, việc đi tìm một định nghĩa duy nhất cho khái
niệm này là một điều không thể [140, tr.13347]. Theo Fox (1999), nghĩa của rủi ro
thay đổi theo thời gian và khi khi phân tích rủi ro, khái niệm này th
ường được đặt
trong sự phân biệt với hazard (nguy hiểm). Trước thời kỳ hiện đại (modernity), rủi
ro là một khái niệm trung lập, liên quan đến xác suất của được (gain) và mất (loss).
Trong thời kỳ hiện đại, rủi ro có nghĩa tiêu cực, đồng nghĩa với danger hay hazard
(nguy hiểm) [99, tr.18]. Tuy nhiên, rủi ro khác với nguy hiểm. Trong khi nguy hiểm
là “một hệ thống các tình huống có thể gây ra những những hậu quả có hại thì rủi ro
là khả năng của sự việc đó.” Ngoài ra, về mặt nhận thức, risk (rủi ro) được phân biệt
khác với hazard (nguy hiểm). Chẳng hạn như theo cách tiếp cận realist (thực tế)/ 16
materialist (vật chất), culturist (văn hóa) và post-modernist (hậu hiện đại) thì rủi ro
chỉ tồn tại dưới dạng kiến thức khoa học về chúng, được tạo dựng mang tính xã hội
để đáp ứng với những mối nguy hiểm đó; còn nguy hiểm được xem như là yếu tố
thực (real), trung lập (neutral), vật chất (material) và tự nhiên (natural) [83, tr.23],
[92, tr.8]. Theo đó, rủi ro phụ thuộc vào khoa học, kinh nghiệm sống mà những kiến
thức này khác nhau tùy theo môi trường xã hội và văn hóa và có ý nghĩa tiêu cực đó
là khả năng xảy ra điều không mong muốn.
Kinh tế học nông nghiệp, khi nghiên cứu về hành vi chấp nhận rủi ro của
nông dân dựa chủ yếu trên quan điểm của kinh tế học tân cổ điển (neoclassic
economics) về bản chất của con người đó là sự tối đa hóa lợi nhuận (profit
maximizing). Tuy nhiên, đây lại là sự tố
i đa hóa lợi nhuận có điều kiện (conditional
profit maximization). Người nông dân tối đa hóa lợi ích phụ thuộc vào nhiều yếu tố
mà trong đó rủi ro (risk) và bất ổn (uncertainty) là một trong số đó [94, tr.76]. Theo
cách tiếp cận này, rủi ro là xác suất có thể xảy ra của các tình huống vốn sẽ ảnh
hưởng đến kết quả của một quá trình ra quyết định. Trong khi đó, bất ổn không đề
đang có thu hoạch ổn định từ hoạt
động nông nghiệp này; vốn đầu tư cho nuôi tôm
cao hơn nhiều hơn so với trồng lúa; khi đã chuyển sang nuôi tôm (hệ sinh thái nước
mặn) sẽ ảnh hưởng đến đất trồng; nông dân trực tiếp hay gián tiếp chứng kiến sự
thành công vang dội hay sự thất bại của nghề nuôi tôm ở những địa phương/ hàng
xóm lân cận. Do vậy, tính xác suất thể hiện nếu chuyển sang nuôi tôm thành công,
người nông dân sẽ đạt được m
ột cơ hội lớn, một sự “đổi đời” vì thu nhập từ tôm cao
hơn lúa gấp từ bảy đến mười lần trên cùng một đơn vị diện tích canh tác và nếu thất
bại thì thu nhập sẽ bị ảnh hưởng và nông dân sẽ mất một số vốn đầu tư đáng kể.
Bên cạnh ý nghĩa có tính xác suất đó, nghề nuôi tôm còn được các nông dân nhận
thức là một nghề rủ
i ro theo nghĩa nguy hiểm. Trong thực hành nuôi tôm, qua
những trải nghiệm thực tế các nông dân đã nhận thấy nghề nuôi tôm có tính rủi ro
cao theo nghĩa tiêu cực, đó là sự dễ dàng thất bại, thể hiện qua tính “bạo tàn”, “siêu
rủi ro” của nghề nuôi tôm. Trong bối cảnh những điều kiện bất ổn trong sản xuất,
trong hành vi kinh tế của nông dân thể hiện sự phân tán rủi ro này để giảm thiểu yếu
tố tiêu cực và đảm bảo an ninh cuộc sống của họ.
Tóm lại, chúng tôi tiếp cận khái niệm rủi ro theo nghĩa là một xác suất có
tính chủ quan giữa cái được và mất và nghĩa thứ hai đó là sự nguy hiểm có ý nghĩa
tiêu cực và bất ổn là những điều kiện dẫn đến yếu tố rủi ro. Quá trình tạo dựng xã
hội ý nghĩa rủi ro theo nghĩa tiêu cực
của nghề nuôi tôm được hình thành qua quá
trình trải nghiệm thực tiễn nuôi tôm của các nông dân. 18
- Quan hệ xã hội: các khái niệm liên quan
Xã hội bao gồm các thiết chế xã hội (social institutions), đó là những tổ chức
xã hội quan trọng được hình thành để đáp ứng nhu cầu của con người. Thiết chế xã
[61, tr. 40]. Ngoài cách hiểu cộng đồng này, trong bối cảnh hiện nay chúng tôi cũng
nhận thức là khái niệm cộng đồng không nhất thiết giới hạn trong một phạm vi lãnh