Nghiên cứu khoa học nông nghiệp " PHÁT TRIỂN MÁY SẤY VỈ NGANG ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG 25 NĂM QUA và CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ GIẢI QUYẾT BẰNG SẤY MÁY " - Pdf 14

Nong-Lam University CARD 026 / VIE05 Project
Flat-bed dryer in the Mekong Delta :
Performance evaluation,
including rice crack by mechanical dryer

(Translation of Headings from Vietnamese for a training course under CARD 026 /VIE05 Project)
2007 DEVELOPMENT OF FLAT-BED DRYERS IN THE MEKONG DELTA IN THE PAST
25 YEARS AND PROBLEMS SOLVED BY MECHANICAL DRYERS.
PHÁT TRIỂN MÁY SẤY VỈ NGANG ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG 25 NĂM QUA và CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ GIẢI QUYẾT BẰNG SẤY MÁY
Số lượng máy sấy tónh vỉ ngang tăng nhanh, đặc biệt trong 10 năm qua. Từ mẫu máy đầu tiên lắp đặt tại
Huyện Kế Sách (Sóc Trăng) năm 1982, đến cuối 1997 có 1500 máy; cuối 2006, có khoảng 6000 máy ở
ĐBSCL. Các máy này đã:
9 Giải quyết sấy 30 % lúa Hè-Thu ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
9 Làm cho dân tin được: sấy đúng kỹ thuật, chất lượng lúa tốt hơn phơi.
9 Giảm hao hụt sau thu hoạch; lúa không bò ẩm mốc, lên mộng vì trời mưa.
9 Sấy với chi phí chấp nhận được, nghóa là thấp so với khaœ năng bò hao hụt.
Hao hụt do không phơi sấy kòp thời, được hiểu theo cách đơn giản nhất là làm giảm giá trò hạt lúa. Ví dụ:
1 kg hạt, thay vì bán 2500 đ/kg, do bò xuống cấp vì mưa, chỉ bán được 2250 đ/kg. Mất 250 đ, nghóa là bò
hao hụt 10 %. Mất dù chỉ 1 % của 6 triệu tấn lúa Hè-Thu ở ĐBSCL đã là một con số khổng lồ, tương ứng
với 100 tỷ đồng hay khoảng 7 triệu USD.

THE ISSUE OF THE RICE GRAIN CRACK
AND THE CONSEQUENT POST-HARVEST LOSSES.
VẤN ĐỀ NỨT GÃY HẠT LÚA SẤY
Tuy nhiên, phơi /sấy không đúng kỹ thuật cũng gây thiệt hại; với lúa, phổ biến nhất là hạt gạo bò nứt bể khi
xay xát. Phơi/ Sấy “sai”, ví dụ như phơi mớ ngoài đồng làm hạt bò hồi ẩm, hoặc dùng nhiệt độ cao đến 60
o

o
C liên tục, hoặc sấy 52
o
C trong giờ đầu tiên + 43
o
C sau đó (ký hiệu
52++43
o
C) , ảnh hưởng thế nào đến nứt bể hạt ?
- Sấy đến ẩm độ cuối14,5 % hay 17,0 % thì xay xát với thiết bò nào ít gãy vỡ hạt hơn ?
Năm 2006, đã theo dõi thực tế trên một máy sấy 8 tấn /mẻ tại HTX Tân Phát A, Huyện Tân Hiệp, Kiên Giang.
Ngoài ra, đã sưœ dụng một máy sấy nhỏ (1 tấn/mẻ có đảo gió, lớp lúa 50 cm; khi sấy không đảo chiều, lớp
lúa 30 cm, chứa khoảng 600 kg). Thử với lúa ẩm độ đầu trong khoảng 24- 28%. Các chỉ tiêu chất lượng
theo dõi là Tỷ lệ gạo nguyên và Độ gãy ngầm.

INITIAL RESULTS: THE SRA-8 REVERSIBLE DRYER (MODEL 2006)
CÁC KẾT QUAŒ SƠ BỘ : MÁY SẤY 8 TẤN/ MẺ
ĐẢO CHIỀU KHÔNG KHÍ SẤY SRA-8 (MẪU 2006)
• Đảo chiều gió làm giảm thời gian sấy. Lấy Tốc độ bốc ẩm (kg H
2
O /giờ/ kg lúa vào) làm chỉ tiêu so
sánh, đảo gió có tốc độ bốc ẩm gấp đôi so với không đảo gió.
• Đảo gió có tác dụng rõ rệt làm đồng đều ẩm độ cuối. Hình 1a và 1b là diễn biến ẩm độ các túi mẫu đặt
ở lớp dưới và lớp trên của khối lúa sấy.
MẺ 3 (sấy 50 oC + 43oC, CÓ đảo gió)
0
5
10
15
20

Dưới 5
Trên 1
Trên 2
Trên 3
Trên 4
Trên 5
Hình 1: Ảnh hưởng của đảo gió đến sai biệt ẩm độ cuối, (a) CÓ ĐẢO GIÓ, (b) KHÔNG ĐẢO.

• Nhiệt độ sấy 52++43
o
C tăng tốc độ bốc ẩm cao hơn so với 43
o
C liên tục.
• Thời gian sấy tùy ẩm độ đầu, nhiệt độ sấy, khối lượng sấy thay đổi trong khoảng 6- 12 giờ/mẻ .
• Sấy bằng máy giảm 3 ÷ 4 % độ nứt hạt, và tăng 4 % tỷ lệ thu hồi gạo nguyên.
• Sấy bằng máy sấy
có đảo gió có chênh lệch ẩm độ cuối (2.2 %) nhỏ hơn so với khi sấy không đảo gió
(4.6 %).
• Có 2 mẻ sấy bằng máy có đảo gió và không đảo gió để so sánh, độ nứt hạt tăng chỉ 1 %, trong khi tỷ lệ
thu gạo nguyên khác nhau 0.4 %, hoặc hầu như không có sự khác biệt (bảng 2). Do đó, cần phải tiến
hành nhiều thí nghiệm hơn để khẳng đònh vấn đề này.
• Các số liệu khác:
- Nhiệt độ sấy khá ổn đònh, giữ được trong vòng ± 2
o
C.
- Chi phí trấu: 55 kg / tấn lúa khô, với ẩm độ đầu 28 %. Ẩm độ đầu bớt đi 2%, tiêu thụ trấu bớt đi 7 kg/
tấn khô. (Lò đốt trấu tiêu thụ 30- 40 kg /giờ)
- Chi phí diesel : 2,0– 2,5 Lit/ tấn lúa khô. (Tiêu thụ 1,5- 1,8 Lít /giờ)
- Thời gian thao tác đảo gió: 10 phút (2 người).


Sai biệt
21.00
Sai biệt
Độ nứt hạt SAU sấy, % 13.75
1.75
23.75
2.75
Độ nứt hạt, Phơi nắng trên sân xi măng, bề dày lớp 7-cm, % 17.80
5.80
26.80
5.80
Tỷ lệ thu hồi gạo nguyên, %

Gạo nguyên %, TRƯỚC sấy 62.72
Sai biệt
59.12
Sai biệt
Gạo nguyên %, SAU sấy 59.39
-3.33
56.21
-2.91
Gạo nguyên %, Phơi trên sân ximăng 55.58
-7.14
52.12
-7.00
Sai biệt (Phơi và sấy máy) . % -3.81

-4.09

INITIAL RESULTS: THE SRA-4 REVERSIBLE DRYER
ECONOMIC CALCULATION (SRA-8 DRYER)
TÍNH TOÁN KINH TẾ (MÁY SẤY SRA-8)
ĐẦU TƯ máy sấy 54 triệu đồng (cả động cơ diesel), chưa kể nhà mái che 5- 12 triệu đồng.
CHI PHÍ MẺ SẤY(theo cách tính đơn giản của người chủ máy) 8- 8,5 tấn lúa tươi, có đảo gió
Thời gian sấy 8 - 10 giờ. Số lượng bao lúa khoảng160 bao * 50kg/bao = 8000 kg.
Sản phẩm lúa khô ≈ 7500 kg. Tùy theo ẩm độ đầu, tính với 2 mức thời gian sấy (8 h và 10 h)
A Khoản chi Đơn giá Thành tiền Ghi chú
STT
8 giờ 10 giờ
1 Bốc vác 600đ /bao 180 000 180 000 vào ra lúa
2 Công canh lò 50 000đ /mẻ 50 000 50 000
3 Dầu diesel, 1.6 lít/h 8000 đ/Lit 102 400 128 000
4 Trấu, 40 kg/h 100 đ /kg 32 000 40 000 1 000đ/ bao 10 kg

CỘNG 364 400 398 000 Chi phí sấy, đ/kg khô 49 53 Chưa kể khấu hao B Khoản thu
80 000 đ/giờ 640 000 800 000 Thu
đ/ kg khô
85 107
= % lúa 2500 đ/kg

Nông Lâm TP HCM, mẫu 2006 cải tiến từ mẫu SRA-8 đầu tiên lắp đặt năm 2001 tại Long An. Quạt hướng
trục 2 tầng và lò đốt trấu do cơ sở Phan Tấn (Huyện Tháp Mười, Đồng Tháp) chế tạo theo bản thiết kế gốc
của ĐHNL HCM. Giám sát lắp đặt máy sấy: KS Lê Quang Vinh và KS Bùi Văn Dương (Trung tâm Khuyến
Công, thuộc Sở Công nghiệp Kiên Giang). Máy sấy SRA-4 (Hình 2) do cơ sở Phan Tấn chế tạo, với bộ thu
nhiệt năng lượng mặt trời (Hình 3) theo thiết kế 2007 của ĐHNL HCM .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status