UBND TỈNH QUẢNG NGÃI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ
------
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
HỌC
----
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐA DẠNG SINH HỌC
VÙNG RỪNG CAO MUÔN VÀ CÀ ĐAM, TỈNH QUẢNG NGÃI
PHỤC VỤ XÂY DỰNG KHU BẢO TỒN GẮN VỚI
DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG
Mã số: 07/2010/HĐ-ĐTĐTCB
Cơ quan chủ trì đề tài
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
HIỆU TRƯỞNG
Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS. Võ Văn Phú
Cơ quan quản lý đề tài
SỞ KH & CN TỈNH QUẢNG NGÃI
3
4
5
6
7
8
9
Họ và tên
TS. Lê Trọng Sơn
TS. Hoàng Đình Trung
ThS. Nguyễn Đắc Tạo
ThS.NCS. Quang Tuấn
ThS.NCS. Nguyễn Duy Thuận
ThS. Nguyễn Xuân Ngọc
ThS. Trương Công Hải
ThS.NCS. Lê Thị Thanh
CN. Võ Văn Quý
Phụ trách chuyên môn
Côn trùng học
Động vật học
Thực vật học
Địa lý môi trường
Động vật học
Nghiên cứu Chim
Nấm học
Lưỡng cư-Bò sát
Thủy sinh học
4.
CITES
: Công ước Buôn bán Động, Thực vật liên Quốc gia
5.
ĐDSH
: Đa dạng sinh học
6.
ĐVCXS
: Động vật có xương sống
7.
ĐVKXS
: Động vật không xương sống
8.
GD-ĐT
: Giáo dục và đào tạo
14.
LC – BS
: Lưỡng cư – Bò sát
15.
M 1, 2, 3,... : Các điểm thu mẫu 1, 2, 3,...
16.
NĐ-CP
17.
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
18.
PCCCR
: Phòng cháy chữa cháy rừng
19.
QLBVR
: Quản lý bảo vệ rừng
25.
WWF
: Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
26.
XHCN
: Xã hội Chủ nghĩa
: Nghị định của Chính phủ
MỞ ĐẦU
Những năm gần đây ở nước ta đã có nhiều đề tài nghiên cứu, đánh giá tính
đa dạng sinh học, tiềm năng tài nguyên của nhiều hệ sinh thái, đề xuất được nhiều
mô hình phát triển bền vững, đảm bảo duy trì hợp lý nguồn tài nguyên sinh học
trong các hệ sinh thái tiêu biểu và điển hình. Đặc biệt là sự phát triển kinh tế theo
hướng gắn liền giữa tài nguyên Đa dạng sinh học (ĐDSH) với phát triển du lịch
sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch nghỉ dưỡng bền vững.
Quảng Ngãi là giải đất miền Trung nối tiếp dãy Trường Sơn với ven bờ
biển Đông chứa trong mình nhiều núi cao hiểm trở và vùng đồng bằng ven biển
mang tính đặc thù bán sơn địa. Vùng rừng phía Đông Trường Sơn, có độ cao
trên 1.000m chủ yếu phân bố về phía Tây, Tây - Bắc, Tây - Nam và phía Bắc
tỉnh. Trong số hơn 20 ngọn núi cao trên 1.000m (núi Azin ở Tây - Nam Sơn Hà
cao 1.233m; núi Hà Peo ở Sơn Tây cao 1.254m;... ) có hai vùng núi cao nổi tiếng
gắn với căn cứ của nghĩa quân, dân quân du kích, chống phong kiến, đế quốc và
(1.095m), núi Cao Muôn (1.085m),… huyện Ba Tơ [105]; núi Ông (958m), núi
Răng Cưa, núi Chóp Vung (905m), Núi Đồng Tranh, núi Hòn Giót (865m), núi
Cà Đam (1.413m),... huyện Trà Bồng [106] (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Một số đỉnh núi cao trên 1.000m ở tỉnh Quảng Ngãi
Stt
1
Tên núi
Cà Đam
Độ cao (m)
1.413
Vị trí
Tây - Nam huyện Trà Bồng
2
A Zin
1.233
Tây - Nam huyện Sơn Hà
3
Hà Peo
1.254
1.095
Nam xã Ba Lế huyện Ba Tơ
8
Núi Mum
1.085
Tây - Nam xã Long Môn huyện Minh Long
9
Cao Muôn
1.085
Tây - Nam xã Ba Chùa huyện Ba Tơ
10
Tà Cun
1.428
Tây huyện Trà Bồng
11
15
Ra Lóc
1.063
Tây - Nam xã Trà Hiệp huyện Trà Bồng
16
Núi Po
1.002
Tây - Bắc xã Trà Quân huyện Tây Trà
17
Núi Y
1.017
Tây - Nam xã Trà Hiệp huyện Trà Bồng
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2012
- Ba Tơ có địa hình điển hình vùng miền núi ở phía Tây và Tây - Nam của
tỉnh Quảng Ngãi, có độ cao 861m so với mặt nước biển, địa hình chia cắt
mạnh.Có nhiều núi,trong đó có núi Cao Muôn với độ cao 1.085m, mật độ sông
suối cao với hướng chảy từ Tây sang Đông và theo hướng Bắc - Nam. Phần lớn
được liệt vào hạng danh sơn, với các thắng cảnh đẹp, nổi tiếng vào loại bậc
nhất của tỉnh.
1.1.3. Điều kiện khí hậu
1.1.3.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố sinh thái quan trọng, cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của sinh vật. Sự phân bố của nhiệt độ phụ thuộc vào nhiều
yếu tố, nhất là yếu tố địa hình, vị trí địa lý và thời gian.
Nhiệt độ thay đổi rõ rệt theo độ cao địa hình, trung bình lên cao 100m,
nhiệt độ giảm từ 0,5oC - 0,6oC. Vùng núi cao dưới 500m có nhiệt độ trung bình
năm 23,5oC - 25,5oC, tổng nhiệt độ năm 8.500 oC - 9.300oC; vùng núi cao trên
500 - 1.000m có nhiệt độ trung bình năm 21 oC - 23,5oC, tổng nhiệt độ năm từ
7.600oC - 8.500oC [21]. Như vậy, các vùng núi cao trên 1.000m, nhiệt độ trung
bình năm có thể xuống dưới 21oC, tổng nhiệt độ năm có thể dưới 7.600 oC [21].
Nhiệt độ trung bình 250C đến 28,40C; thượng tuần tháng 7 và tháng 8 nóng
không quá 340C, thượng tuần tháng giêng lạnh nhất không dưới 180C [21].
Cao Muôn và Cà Đam đều có độ cao trên 1.000m nên nền nhiệt của hai vùng
rừng là tương đối giống nhau. Biên độ dao động nhiệt khá cao, ban ngày nhiệt độ
trung bình là 24 - 250C, ban đêm nhiệt độ có thể xuống dưới 180C. Đặc biệt, đỉnh
núi Cà Đam quanh năm được bao phủ bởi mây, do đó, nhiệt độ ở đỉnh núi có thể
xuống dưới 180C [21] (bảng 1.2). Mặt khác, cả 2 vùng rừng được bao phủ bởi tầng
thực vật khá dày và còn mang tính nguyên sơ nên nhiệt độ trung bình ở 2 vùng
không cao, phù hợp cho đời sống của các loài sinh vật rừng. Do đó, tính đa dạng
sinh học khá cao ở cả 2 vùng rừng.
Bảng 1.2. Đặc trưng tổng nhiệt độ trung bình năm vùng Ba Tơ, Trà Bồng
Độ cao
(m)
> 1.000
> 100
Trạm
Sơn Hà
Minh Long
Đức Phổ
Ba Tơ
Sơn Giang
Trà Bồng
Giá Vực
Mộ Đức
An Chỉ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
63
55
45
33
25
37
70
60
28
80
79
77
82
42
46
178
212
50
193
289
245
179
78
97
204
170
62
300
297
305
335
263
277
660
723
547
819
755
823
859
574
656
699
890
519
955
962
831
936
422
613
275
550
219
gian của độ ẩm tương đối thể hiện quy luật chung là tăng theo địa hình và độ cao
của địa hình. Vùng núi phía Tây là nơi có độ ẩm cao nhất 90 - 92% [21].
Đây là 2 vùng núi cao, độ bao phủ của thực vật lớn nên độ ẩm không khí
trung bình hàng năm khá lớn; Độ ẩm bình quân năm là 88 - 90%, tháng cao nhất
92%, tháng thấp nhất 74%. Thời kì có độ ẩm cao nhất là từ tháng 10 đến tháng 2
năm sau, ẩm độ cực đại vào khoảng tháng 11, 12 [21] (bảng 1.4).
Bảng 1.4. Độ ẩm trung bình tháng, năm ở Quảng Ngãi
(Đơn vị tính: %)
Tháng
Địa điểm
Quảng Ngãi
Ba Tơ
Lý Sơn
Trà Bồng
1
2
3
4
5
6
88
83
80
81
83
81
81
81
81
81
82
80
80
80
88
85
84
86
87
88
86
92
89
92
Ngạc đến địa phận huyện Sơn Hà hợp với các con sông khác chảy về sông Trà
Khúc. Sông Rhe dài khoảng 60km, đoạn chảy qua Ba Tơ dài khoảng 30km,
quanh co, khúc khuỷu [71].
+ Sông Liên: là thượng nguồn của sông Vệ, bắt nguồn từ vùng núi Giá
Vụt chảy qua thị trấn Ba Tơ khoảng 30km, đến gần chân núi Cao Muôn chảy về
hướng Đông - Bắc [71].
+ Sông Vực Liêm: bắt nguồn từ vùng Bàn Thạch, Hồng Thuyền, Vực
Liêm, xã Ba Trang chảy thẳng về hướng Đông, là thượng nguồn của sông
Trà Câu, sông chảy qua các xã phía Bắc huyện Đức Phổ trước khi đổ ra cửa
biển Mỹ Á [71].
- Chế độ thủy văn của huyện Trà Bồng chịu ảnh hưởng chính của sông
Trà Bồng, sông Giang, sông Trà Ích, sông Nước Riềng, sông Nước Biếc và hệ
thống suối dày đặc như suối Viền, suối Sa Thia, suối Trà Cô,...
+ Sông Trà Bồng là một trong những con sông lớn nhất tỉnh, bắt nguồn từ
núi Răng Cưa chảy theo hướng Tây - Đông, qua huyện Bình Sơn đổ ra cửa Cần
Sa. Lưu vực của sông khoảng 91km 2 nhưng dòng chảy ngắn, cạn và độ dốc cao
với lưu lượng dòng chảy bình quân năm là 12,6m 3/s, lưu lượng mùa lũ >
3.000m3/s, mùa cạn 3,2m3/s. Sự hình thành lũ và số lượng các cơn lũ trên sông
được quyết định bởi thời gian và cường độ mưa ở tâm mưa Trà Bồng [106].
Sông, suối Trà Bồng hàng năm bồi đắp một lượng lớn phù sa cho vùng,
những năm gần đây những vùng đất ven song, suối Trà Bồng trở thành quê
hương mới của cây đậu phụng, đậu xanh, mía,… cho năng suất cao. Mặt khác
với địa hình cao, độ dốc lớn song, suối, ghềnh, thác chằng chịt lại mưa nhiều đã
và đang tạo cho Trà Bồng nguồn thủy điện dồi dào phục vụ cho sản xuất và sinh
hoạt đời sống nhân dân.
1.1.5. Tài nguyên thiên nhiên
1.1.5.1. Tài nguyên đất
Huyện Ba Tơ có tổng diện tích tự nhiên 113.669,52ha chiếm 22,1% diện
2
Lâm nghiệp
97.021,45
8,35
32.058,35
76,5
3
Đất ở
467,66
0,41
220,65
0,52
4
Đất chuyên dùng
1.046,73
2 Đấ phù sa - FLUVISOLS (FL)
3 Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá - LEPTOSOLS (LP)
Diện tích (ha)
105.554,40
6.218,17
1.900,95
Tỉ lệ (%)
92,86
5,47
1,67
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Tơ, 2011
Tài nguyên đất Trà Bồng khá đa dạng về loại đất, phân bố trên nhiều dạng
địa hình khác nhau tạo ra nhiều tiểu vùng sinh thái nông, lâm nghiệp thích hợp
với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây trồng lâu năm vùng đồi núi. Toàn huyện
có 20 loại đất khác nhau, chia làm 3 nhóm chính (bảng 1.7).
Bảng 1.7. Diện tích và tỉ lệ (%) đất theo tính chất đất huyện Trà Bồng
Stt
1
2
3
Nhóm đất
Loại đất
0,06
1,85
2,58
3,94
37,21
33,69
1,49
13,59
3,45
0,67
0,24
0,68
Nguồn: Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của
huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
1.1.5.2. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của huyện Ba Tơ và Trà Bồng tương đối phong phú cả về
nước mặt và nước ngầm. Nguồn nước mặt chủ yếu được cung cấp bởi nguồn nước
mưa, hệ thống sông suối, hồ chứa, đập dâng và nhiều ao hồ lớn nhỏ khác trong khu
dân cư. Các con sông lớn như: sông Rực, sông Liên, sông Vực Liêm,... thuộc
huyện Ba Tơ và sông Trà Bồng, sông Tang, sông Giang, sông Cha Năng, suối Trà
Cô, suối Xã Điệu,… thuộc huyện Trà Bồng.
Nguồn nước dồi dào đã tạo điều kiện thuận lợi cho hai huyện Ba Tơ và
Trà Bồng trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt trong sản xuất nông, lâm nghiệp
đáp ứng được khả năng tưới tiêu cho phần lớn diện tích đất canh tác, là yếu tố
chính quyết định bảo đảm sự tăng trưởng của nền nông nghiệp hiện nay và
tương lai.
1.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội huyện Ba Tơ
Tổng dân số huyện Ba Tơ tính đến 31/12/2011 là 51.833 người, trong đó
dân tộc Hrê 43.196 người; Kinh 8.587 người; Ca Dong 10 người; Cor 5 người
dân tộc khác 35 người. Số người trong độ tuổi lao động 28.036 người, trong đó
lao động trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp 23.432 người chiếm 83,58% tổng dân
số toàn huyện, thể hiện qua bảng 1.8.
Bảng 1.8. Một số chỉ tiêu dân số huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Stt
1
2
3
4
5
6
Chỉ tiêu
Dân số trung bình
Mật độ dân số
Tỷ lệ tăng tự nhiên
Dân số đô thị
Tỷ lệ đô thị hóa
Dân số nông thôn
Đơn vị
Ngàn người
Người/km2
%
Ngàn người
1,02
4,9
9,6
46,0
2010
51,5
45,0
1,06
5,7
11,1
45,8
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Tơ, 2011
Trong những năm gần đây trên địa bàn huyện được sự quan tâm đầu tư
của Trung ương và tỉnh thông qua các chương trình, dự án trên tất cả các lĩnh
vực sản xuất nông - lâm nghiệp, văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo,...
Nhờ đó cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế từng bước được nâng cấp.
1.2.2. Tinh hình kinh tế - xã hội huyện Trà Bồng
Toàn huyện Trà Bồng hiện có 9 xã và 1 thị trấn. Dân số toàn huyện đến
tháng 12/2011 là 29.880 người, trong đó dân tộc kinh 16.587 người; dân tộc Cor
12.864 người; dân tộc Hrê 349 người; dân tộc Ca Dong 1 người và dân tộc khác 79
người. Dân cư của huyện có sự phân bố rất không đồng đều giữa các khu vực trung
du, miền núi và đồng bằng cũng như trong nội vùng có sự chênh lệch khá lớn.
Trong những năm gần đây được sự quan tâm của các ngành các cấp và sự
nỗ lực của nhân dân Trà Bồng đã có những bước chuyển mình, từng bước đưa
nền kinh tế của huyện phát triển đi vào thế ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
bình quân chung của huyện giai đoạn 2005 - 2010 là 8,7 - 9,5%. Tốc độ phát
triển kinh tế hằng năm tăng khá, đặc biệt từ năm 2004 trở lai đây, GDP bình
1.2.3. Giáo dục
Cùng với sự phát triển chung, những năm qua hệ thống giáo dục ở 2 vùng
nghiên cứu không ngừng được đầu tư phát triển cả quy mô và chất lượng. Mỗi
thôn, bản đều có trường học. Tuy còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất nhưng cả
thầy và trò đều khắc phục để có những giờ lên lớp hiệu quả, tỉ lệ học sinh bỏ học
thấp hơn so với những năm trước.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên đã chuẩn hoá về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ: hệ Mầm non 94,41%; Tiểu học 98,1%; Trung học cơ
sở 98,4%, Trung học phổ thông 100% [21].
1.2.4. Y tế
Đã đẩy mạnh công tác đầu tư cơ sở vật chất cho các trạm y tế nhằm chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, nhờ đó các bệnh như sốt rét, lao, bại liệt,
bạch hầu, bướu cổ, ho gà đã được kiểm soát. Việc tiêm vacxin phòng ngừa theo
chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia được tiến hành thường xuyên.
Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân thường xuyên được quan tâm.
Cơ sở vật chất y tế được tăng cường, kiện toàn tổ chức khám chữa bệnh. Đến nay
100% xã, thị trấn có trạm y tế, bình quân đạt 1 cán bộ y tế/1.000 dân và 4 bác
sỹ/10.000 dân, trong đó số trạm y tế có bác sỹ là 30,00%. Hệ thống y tế được cũng
cố và sắp xếp lại theo hướngtăng cường cho các trạm y tế cơ sở và y tế thôn bản.
Các chương trình quốc gia về phòng chống dịch bệnh đều được thực hiện
tốt công tác khám, chữa, điều trị bệnh và hành nghề y dược được quản lý chặt
chẽ và quán triệt thường xuyên, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ,
chăm sóc sức khỏe người bệnh: Công tác an toàn thực phẩm và vệ sinh môi
trường chưa được quan tâm thỏa đáng.
Nhìn chung hầu hết các cơ sở hạ tầng từ huyện đến xã đều xuống cấp
nghiêm trọng, phương tiện kỹ thuật hiện đại còn thiếu và không đồng bộ, trình
độ chuyên môn tuy đã được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu,
thiếu đội ngũ bác sỹ... Đây là những tồn tại, hạn chế đến công tác y tế cần được
dân tộc.
1.4. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CAO MUÔN VÀ CÀ ĐAM
Từ kết quả nghiên cứu bước đầu về ĐDSH ở huyện Ba Tơ và Trà
Bồng của (Lê Khắc Huy, Võ Văn Phú et al., 2001) đã ghi nhận được 579 loài
thực vật bậc cao thuộc 363 chi và 127 họ, trong đó có 162 loài cho gỗ quý, 159
loài dược liệu, 41 loài làm cảnh. Trong số 579 loài thực vật bậc cao đã ghi nhận
có 18 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996, 2007) và 5 loài trong Danh lục
Đỏ thế giới (IUCN, 1999, 2011). Bước đầu đã khảo sát và xác định được 469
loài, thuộc 178 giống, 101 họ, 23 bộ và 4 lớp động vật có xương sống ở cạn
(Tetrapoda); trong đó có 43 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam
(2000, 2007) [42].
Tháng 6/2011, đại diện tổ chức bảo vệ động vật hoang dã WAR (Wildlife
at Risk) cùng các chuyên gia trong và ngoài nước thuộc nhiều lĩnh vực chuyên
môn như: Thú, LC - BS, Cá, Côn trùng và thực vật đã tiến hành điều tra (từ 27/5
đến 11/6/2011) tại vùng đai thấp thuộc huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Tháng
3/2012, tổ chức WAR tiếp tục điều tra đợt 2 (từ 10/3 - 23/3/2012) tại các vùng
rừng thuộc xã Ba Xa, Ba Nam của huyện Ba Tơ. Kết quả bước đầu, theo báo cáo
của đoàn (Báo cáo số 159/BC-CCKL ngày 04/04/2012) cho thấy đã xác định
được 42 loài Thú (trong đó có 19 loài dơi); 59 loài LC - BS; 49 loài Cá; 197 loài
Côn trùng (trong đó có 52 loài Chuồn chuồn, 137 loài Bướm ngày và 8 loài
thuộc bộ kẹp kìm) và 120 loài thực vật bậc cao.
Trong nghiên cứu thuộc nội dung của đề tài này đã xác định được ở vùng
rừng Cao Muôn (Ba Tơ) và Cà Đam (Trà Bồng) có 159 loài (thuộc 131 chi, 32
họ, 2 ngành) Nấm (Fungi); 530 loài (thuộc 403 chi, 124 họ, 6 ngành) Thực vật
bậc cao có mạch (Magnoliophyta); 521 loài (357 giống, 69 họ, 9 bộ) thuộc lớp
Côn trùng (Insecta); 106 loài (71 giống, 18 họ, 6 bộ) của lớp Cá xương
(Osteichthyes); 122 loài (71 giống, 22 họ và 4 bộ) thuộc nhóm Lưỡng cư
(Amphybia) - Bò sát (Reptilia); 296 loài (155 giống, 47 họ và 14 bộ) thuộc lớp
dựng khu bảo tồn thiên nhiên gắn với việc phát triển kinh tế du lịch sinh thái bền
vững, thân thiện với môi trường tại hai khu rừng Cao Muôn và Cà Đam mang
tính lịch sử, văn hoá của tỉnh Quảng Ngãi.
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu, khảo sát ở vùng Cao Muôn
- Góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của cán bộ các cấp, tham gia
đào tạo các cán bộ khoa học ở các bậc Đại học, Sau đại học cho địa phương và
cho các trường Đại học, Cao đẳng.
Hình 2.2. Sơ đồ vị trí các điểm khảo sát, thu mẫu ở vùng Cà Đam
2.2.2. Nội dung nghiên cứu
1/. Thu thập và hệ thống các thông tin, tư liệu, số liệu đã nghiên cứu từ
trước tới nay về ĐDSH, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của cộng đồng, thành
phần loài của các nhóm động, thực vật ở hai vùng nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu
nghiên cứu cho khu vực.
2/. Điều tra cơ bản về tài nguyên ĐDSH khu vực vùng rừng Cao Muôn và
Cà Đam:
- Điều tra về thành phần loài Nấm lớn (Fungi).
- Điều tra, đánh giá về thành phần loài Thực vật bậc cao có mạch.
- Đa dạng về thành phần loài Côn trùng (Insecta)ở cạn.
- Điều tra, đánh giá thành phần loài Động vật có xương sống (Vertebrata):
+ Đa dạng về thành phần loài Cá xương (Osteichthyes).
+ Đa dạng về thành phần loài Lưỡng cư (Amphibia) - Bò sát (Reptilia).
+ Đa dạng về thành phần loài Chim (Aves).
- Tiếp cận với các nguồn tư liệu sơ cấp, thứ cấp hiện có về ĐDSH ở
Quảng Ngãi, vùng rừng Cao Muôn và Cà Đam của Tỉnh.
- Tiếp cận điều tra, khảo sát thực tế theo các tuyến, điểm quan trắc và các
ô tiêu chuẩn được quy định tại Quy trình quy phạm về điều tra cơ bản trong
Khoa học tự nhiên ban hành 1981 (UBKH Kỹ thuật Nhà nước, nay là Bộ
KH&CN Việt Nam).
- Sử dụng các tài liệu, tư liệu và số liệu chuyên ngành để phân tích đánh
giá từng nhóm, từng mức độ ĐDSH đã thu thập.
- Tiếp cận bằng phương pháp đối chiếu, so sánh, đánh giá với các kết quả
đã công bố từ nhiều nguồn để lượng hóa các giá trị ĐDSH của vùng nghiên cứu.
- Tiếp cận từ kinh nghiệm vốn có, khả năng phân tích chuyên ngành và ý
kiến đóng góp từ các chuyên gia đa ngành.
- Tiếp cận bằng cách liên hệ, hợp tác với địa phương, cộng đồng để thu thập,
chia sẻ thông tin cùng điều tra nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu.
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
1/- Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến nội
dung của đề tài, tập hợp tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội làm tài
liệu nền.
2/- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA), phương pháp điều tra
có sự tham gia của cộng đồng (PRA). Các phương pháp này được sử dụng trong
nghiên cứu tình hình khai thác, kinh tế - xã hội, nhằm định hướng cho việc quản
lý tài nguyên, giá trị đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng, dựa vào
cộng đồng và đồng quản lý trong việc phát triển bền vững.
3/- Sử dụng phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành, chuyên ngành
để điều tra, đánh giá ĐDSH hiện trạng.
- Lập sơ đồ phân vùng nghiên cứu, điểm khảo sát, các điểm/vùng này
được cố định tương đối về không gian, thời gian cho việc khảo sát thực địa, thu
các mẫu sinh vật.
4/- Định loại các sinh vật theo taxon bậc loài, họ, bộ,… dựa vào đặc điểm
hình thái, sinh thái bằng các khóa phân loại lưỡng phân chuyên ngành. Sắp xếp