Bài tập lớn tìm hiểu về chức năng và vai trò của tài chính công. liên hệ vai trò của tài chính công đang phát huy ở việt nam - Pdf 31

Bài Tập lớn: Tìm hiểu về chức năng và vai trò của tài chính công. Liên
hệ vai trò của tài chính công đang phát huy ở Việt Nam.

MỤC LỤC
I.

VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH CÔNG.
1.

2.

Chức năng của tài chính công.

Trang 02
02

1.1.

Chức năng phân phối.

02

1.2.

Chức năng kiểm tra, giám sát.

04

Vai trò của tài chính công.

05

VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH CÔNG.

1.

Chức năng của tài chính công.

Trong các lý luận về tài chính nói chung, tài chính có hai chức năng là chức
năng phân phối và chức năng giám đốc. Tài chính công với tư cách là một bộ
phận của hệ thống tài chính cũng có hai chức năng khách quan đó. Tuy nhiên,
do đặc thù của tài chính công là gắn liền với Nhà nước và phát huy vai trò của
Nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, cho nên hai chức năng của tài chính
công cũng phát huy trên khí cạnh cụ thể phù hợp với đặc thù riêng có của nó.
1.1.

Chức năng phân phối.

Tài chính công phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thái tiền tệ gắn liền
với phân phối tổng nguồn lực tài chính quốc gia để hình thành và sử dụng các
quỹ tiền tệ của Nhà nước cho các mục tiêu kinh tế xã hội.
Chức năng phân phối của tài chính công là khả năng khách quan mà nhờ vào đó
Nhà nước có thể chiếm hữu và chi phối một phần của cải xã hội (trước hết là
sản phẩm mới được tạo ra) để tạo lập và sử dungjcacs quỹ tiền tệ, nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước đảm nhận.

Chủ thể phân phối các nguồn lực tài chính của tài chính công là Nhà
nước.

Đối tượng phân phối: là của cải xã hội, trong đó chủ yếu là sản phẩm
mới được tạo ra, được tập trung vào các quỹ tiền tệ của Nhà nước dưới các hình
thức thuế, thu sự nghiệp, phí, lệ phí, vay nợ, viện trợ, thu từ nhượng bán tài sản

doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân trong xã hội, mặt khác phải
duy trì và thực hiện sự bình đẳng. Điều này thể hiện ở chỗ, các chủ thể khi
tham gia vào các mối quan hệ phân phối luôn luôn giữ vị trí ngang nhau trước
pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài chính đối với Nhà nước, không
phân biệt thành phần kinh tế, địa vị xã hội.
Quá trình phân phối và phân phối lại của tài chính công được thực hiện thông
qua 2 kênh cơ bản:
+ Kênh thứ nhất phản ánh các khoản thu của Nhà nước mà chủ yếu là
các hình thức thu thuế: thuế trực thu và thuế gián thu. Ngoài ra còn áp
dungjcacs loại phí, lệ phí, thu khác và vay nợ,.. Thông qua các công cụ phân
phối này của tài chính công, một bộ phận của các chủ thể ở rong và ngoài nước
sẽ được điều tiết, được huy động và tập trung vào các quỹ tài chính của Nhà
nước, trong đó lớn nhất và quan trọng nhất là quỹ NSNN.
+ Kênh thứ 2 phản ánh các khoản chi tiêu công. Các khoản này được chi
ra từ các quỹ tài chính của Nhà nước, trong đó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số
chi tiêu công là chi tiêu cho các mục đích xác định trong các lĩnh vực: văn hóa,
xã hội, hành chính, quốc phòng, an sinh xã hội…(chủ yếu là sử dụng quỹ
NSNN). Thông qua các khoản chi tiêu công, Nhà nước là chủ thể phân phối lại
thu nhập ông nhằm duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước, điều
3


hòa thu nhập của các chủ thể trong xã hội, dảm bảo thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.

Kết quả của các quá trình phân phối thông qua tài chính công là:
hình thành các quỹ tiền tệ, điều chỉnh thu nhập của các tổ chức và cá nhân
trong xã hội.
1.2.


nhận xét, đánh giá, kiến nghị (những kiến nghị này có thể do chủ thể bị
kiểm tra đưa ra nhằm điều chỉnh quá trình phân phối, phân bổ và nâng
cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính công, hoàn thiện việc hình

4


thành và sử dụng các quỹ tiên tệ của Nhà nước, phát huy vai trò tích cực
của tài chính công trong quản lý vĩ mô nền kinh tế).
-

Kiểm tra tính cân đối, hợp lý, tính tiết kiệm và hiệu quả,… trong việc
phân phối của cải xã hội.


Kết quả kiểm tra, giám sát của tài chính công có thể xem xét trên các
mặt sau:
-

Đảm bảo cho quá trình phân phối của cải xã hội để tạo lập các quỹ tiền
tệ của Nhà nước được đúng đắn, hợp lý.

-

Góp phần điều chỉnh hoạt động tài chính ủa các chủ thể kinh tế - xã hội
theo định hướng của Nhà nước.

2.

Vai trò của tài chính công.

5


-

Xác định nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phân bổ hợp lý các nguồn tài
chính công cho các nhu cầu chi tiêu nhằm thực hiện các chức năng và
nhiệm vụ của Nhà nước.

-

Thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình phân phối, phân bổ và sử dụng
các nguồn lực tài chính công để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế xã hội
và phát triển về mọi mặt của Nhà nước.

-

Thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình phân phối, phân bổ và sử dụng
các nguồn lực tài chính công để đáp ứng yêu cầu quản lý kinnh tế xã hội
và phát triển về mọi mặt của Nhà nước.

2.2.

Tài chính công là công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế xã hội.

Trong nền kinh tế thị trường, để quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc
dân nhằm mục tiêu ổn định, phát triển bền vững, hiệu quả và công bằng, quản
lý và điều tiết khu vực công hiệu quả, Nhà nước thường xuyên sử dụng công cụ
tài chính, trong đó có tài chính công. Vai trò này của tài chính công được thể

thời kỳ nhất định nhưng còn tăng trưởng bền vững là tăng trưởng lâu dài, tăng
trưởng trong ổn định. Mục tiêu của chúng ta ở đây là tăng trưởng một cách bền
vững và ổn định.
• Điều tiết thị trường và bình ổn giá cả.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng công cụ tài chính công để
nhằm bình ổn thị trường và giá cả. Các quỹ mà Nhà nước sử dụng để thực hiện
vai trò này là quỹ dự trữ của Nhà nước (bằng hiện vật và tài chính), quỹ bình ổn
giá cả. Đồng thơi Nhà nước sử dụng thuế (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế
GTGT,…) các khoản chi tiêu công và các biện pháp khác để điều tiết linh hoạt
và có hiệu quả đối với hoạt động của thị trường.
• Duy trì sự cân đối của cán cân ngoại thương, cán cân thanh toán
quốc tế và bình ổn tỷ giá hối đoái.
Trong điều kiện đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế quốc
tế, đòi hỏi ngày càng mở rộng thương mại và dịch vụ quốc tế, các hoạt động
đàu tư quốc tế. Tuy nhiên, việc hàng hóa, dịch vụ và các luồng vốn di chuyển
giữa các quốc gia lại ảnh huongr đến cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối
đoái. Mặt khác, sự cân bằng trong xuất nhập khẩu hàng hóa, sự cân bằng của
cán cân thanh toán quốc tế luôn luôn phản chiếu sự hoạt động có hiệu quả và
phát triển của nền kinh tế quốc dân trong điều kiện mở rộng giao lưu và hội
nhập kinh tế quốc tế. Sự mất cân đối của cán cân ngoại thương, cán cân thanh
toán quốc tế sẽ làm cho ty giá hối đoái biến động theo chiều hướng tăng hoặc
giảm, và từ đó ảnh hưởng tới giá cả, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, việc làm và
tác động ngược trở lại đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Vì vậy, Nhà nước
phải duy trì sự cân đối của cán cân ngoại thương, cán cân thanh toán quốc tế và
bình ổn tỷ giá hối đoái thông qua công cụ tài chính công.
Cụ thể, Nhà nước sẽ hình thành quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ dự trữ ngoại tệ quốc
gia, quỹ bình ổn hối đoái, thuế, chi tiêu công, đầu tư trực tiếp và gián tiếp của
nhà nước ra nước ngoài và thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước
ngoài để thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô này.


cao đối với các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp, đánh thuế ở mức thấp đối
với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ đời sống dân cư. Ngoài ra, nhà
nước cũng thực hiện các khoản chi tiêu công liên quan đến các khoản chi
phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, chi các chương trình mục tiêu để hỗ trợ
cho những người có thu nhập thấp nhằm góp phần nâng cao mức sống
cho họ.

Tóm lại, trong cơ chế thị trường, Nhà nước cần thiết phải sử dụng các công
cụ tài chính, đặc biệt là công cụ tài chính công để can thiệp và điều chỉnh
đúng lúc, kịp thời hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của thi
trường nhằm tạo sự bình ổn và phát triển bền vững của kinh tế vĩ mô
II.

LIÊN HỆ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG TẠI VIỆT NAM.

Tài chính công hiện đại ngày nay là một phạm trù kinh tế mang tính lịch
sử, vì cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, tài chính
công đã tham gia vào quá trình quản lý nền kinh tế, tức là nhà nước đã khai
8


thác, vận dụng công cụ để điều hành nền kinh tế - xã hội, thúc đẩy nền kinh tế
xã hội phát triển.
Chúng ta có thể thấy bản chất của tài chính trong nền kinh tế thị trường là
tổng thể hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể tài chính phát
sinh trong quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính.
Vai trò của tài chính công luôn gắn liền với vai trò của nhà nước trong
từng thời kì nhất định. Mỗi nhà nước đều có sứ mạng chính trị riêng, có những
quan điểm khác nhau trong việc quản lý điều hành các hoạt động kinh tế xã hội
từ đó tài chính công là một trong các công cụ được nhà nước sử dụng nhằm

9


mới gia nhập thị trường lao động (điển hình là những công nhân trẻ ít kinh
nghiệm làm việc) và các công nhân già hơn đã nghỉ hưu hoặc chỉ nhận các công
việc bán thời gian thường là đại diện thường xuyên của nhóm các gia đình có
thu nhập thấp nhất, và điều này không gây nhiều ngạc nhiên. Hầu hết các công
nhân - và đặc biệt là những người có học vấn và được đào tạo cao hơn - có thu
nhập tăng hàng năm theo nghề nghiệp của họ. Những công nhân khác đôi khi bị
giảm lương hoặc tiền công tạm thời khi họ tạm nghỉ việc ngắn hạn, bị ốm đau
hoặc là thương tích hay các lý do khác.
Vì tất cả những lý do này, và mặc dù có sự ổn định cơ bản trong việc phân
phối thu nhập nói chung, vẫn tồn tại một cơ hội lớn trong việc huy động vốn
trong nền kinh tế thị trường. Điều này có nghĩa là chúng ta luôn nhìn thấy các
gia đình tăng hoặc giảm các khoản thu nhập trên của họ qua từng năm. Kinh tế
càng tăng trưởng, chênh lệch thu nhập giữa các dân cư, các vùng miền ngày
càng gia tăng. Vậy vấn đề đặt ra là Chính Phủ sử dụng tài chính công thông qua
những hình thức nào để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa
người giàu và người nghèo?
Liệu thuế chỉ có vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
không?
Ngoài vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế còn có
một vai trò quan trọng không kém đó là: điều chỉnh thu nhập của dân cư. Vai
trò này được thể hiện ở những mặt cụ thể sau:
Thuế trực thu mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân với thuế suất
lũy tiến từng phần có vai trò điều tiết mạnh của những người có thu nhập
cao và điều tiết ở mức hợp lý đối với các cá nhân có thu nhập trung bình.
Việc thu thuế này vừa tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước lại vừa
thực hiện được công bằng xã hội và giảm bớt được một phần nào đó(không
lớn lắm) khoảng cách giàu nghèo.

doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán dịch vụ quốc phòng cho các công dân của
một quốc gia mà vẫn duy trì được hoạt động kinh doanh. Nó chỉ đơn giản là
không thể bán dịch vụ quốc phòng cho những người cần và không bảo vệ
những người từ chối thanh toán dịch vụ đó. Và nếu những người này vẫn được
bảo vệ mà không phải trả tiền thì tại sao họ phải chọn cách thanh toán? Điều
này được coi là vấn đề "kẻ ăn không", và đó là lý do chính giải thích vì sao
chính phủ phải điều hành quốc phòng và dùng thuế để chi cho quốc phòng.
Không có nhiều hàng hóa công cộng thực sự - những hàng hóa nhiều người có
thể cùng sử dụng và là đối tượng của vấn đề kẻ ăn không - do đó hầu hết các
hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường đều có thể được các công ty
tư nhân sản xuất và bán trong các thị trường tư nhân. Các ví dụ khác về hàng
hóa công cộng có thể kể đến là chương trình kiểm soát lũ lụt và sâu bọ, và
thậm chí cả băng tần sóng phát thanh và truyền hình được phát sóng rộng rãi
trong không trung. Mỗi hàng hóa này đều có thể được nhiều người tiêu dùng
sử dụng cùng lúc, và cũng là đối tượng để những kẻ ăn không hưởng thụ, ít
nhất ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, với sóng phát thanh và truyền hình, các
chương trình có thể được các cá nhân sản xuất và thu lợi bằng cách bán thời
gian phát sóng cho quảng cáo. Hoặc trong một vài trường hợp khác, các tín
hiệu phát sóng hiện đã được đổi tần số điện tử để các công ty tư nhân có thể
kiếm tiền bằng cách cho thuê các thiết bị giải mã cho những người muốn xem
các chương trình này.

11


Vai trò của tài chính công ở nước ta hiện nay còn được biểu hiện rất rõ
qua việc thực hiện có kết quả việc bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm chăm lo
cho người nghèo, các đối tượng chính sách, những vùng khó khăn; các lĩnh
vực văn hoá, xã hội có bước phát triển mới. Trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay, khả năng kiếm sống ở một số người là rất hạn chế, trong khi



có hiệu quả, cụ thể như: Nước ta có được khoảng 28% đến 32 % GDP từ thuế.
Tuy nhiên chính sách thuế luôn được điều chỉnh phù hợp, sau gần 8 năm thực
hiện cải cách, chính sách thuế đã được đổi mới theo hướng thích ứng dần với
cơ chế thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thuế đã bảo đảm nguồn tài
chính chủ yếu để thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo
đảm an ninh, quốc phòng. Trong hệ thống chính sách thuế đã từng bước giảm
dần sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận
lợi để các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, ví dụ năm 2009 giảm
thuế thu nhập DN từ 28% xuống 25%, tạm hoãn thuế TNDN… nâng cao năng
lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu; thủ tục hành chính trong thu nộp thuế
được đơn giản hóa, công tác quản lý thuế được đổi mới và dần được hiện đại
hóa. Chính sách thuế tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng
áp dụng thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp và bước đầu phù hợp
với thông lệ quốc tế, góp phần khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh
doanh. Bên cạnh nguồn thu chủ yếu từ thuế nước ta có các khoản thu nhập, lợi
tức cổ phần nhà nước thu qua việc đầu tư, các khoảng thu từ phí và lệ phí của
công dân như phí cầu đường, lệ phí trước bạ, học phí…Các khoản thu tín dụng
nhà nước: hoạt động cho vay nhưng với mục đích có lợi cho người dân. tất cả
các hoạt đông này luôn đảm bảo tỷ lệ phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao. Tóm lại
thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước ở Vn hiện nay. Ngoài vai trò
là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước,Vai trò của thuế trong việc điều
tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay còn được thể hiện trong việc :
điều chỉnh thu nhập của dân cư. Vai trò này được thể hiện ở những mặt cụ thể
sau:
• Về kinh tế:
Tài chính công có vai trò thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định và bền
vững. Với chức năng phân bổ nguồn lực tài chính thông qua quá trình tạo lập
và sử dụng quỹ công, tài chính công tác động đến việc phân bổ và góp phần

thái của chính sách tài chính công mà người tiêu dùng hay người sản xuất có
thể yên tâm về lợi ích của mình được đảm bảo.
Khi gia nhập WTO chúng ta nhà nước đã giúp đỡ cho các doanh nghiệp
bằng các bảo hộ mậu dịch thương mại, hàng rào thuế quan… đề cho những
doanh nghiệp nhỏ lẻ của chúng ta có thể có điều kiện tạo lập vững mạnh hơn.
Như nghành ô tô. Khi ngành ô tô trong nước của chúng ta mới chỉ dừng lại ở
lắp ráp. Nhà nước đã tìm các để cho nền công nghiệp ô tô của chúng ta có thể
đương đầu với ô tô ngoại nhập. Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu… đã
làm cho nền công nghiệp ô tô có thể vươn vai để phát triển. Nhưng nền công
nghiệp ô tô trong nước vẫn lẹt đẹt, có trách thì trách chính họ khi đã quá dựa
dẫm vào cơ hội mà nhà nước dành cho. Không thể phát huy được ưu thế của

14


mình, làm cho nền công nghiệp ô tô chưa thể phát triển với những gì mà chúng
ta mong muốn chờ đợi. Chuyển qua 1 ví dụ về trợ giá giá xăng dầu. Nhà nước
trợ giá cho xăng dầu và sau đó là bù lỗ. Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó.
Ngân sách nhà nước không phải là 1 cái kho vàng không đáy, sức chịu đựng thì
cũng có hạn. Nhà nước không thể bù lỗ được mãi. Phải đưa cho họ cần câu chứ
không phải là con cá. Nhà nước đã để cho họ tự định giá xăng dầu trong hạn
mức cho phép theo giá của thế giới, để tránh những cơn sốc giá gây nên những
biến động xấu cho nền kinh tế.
Hay như trong trường hợp để tạo việc làm cho người lao động chính phủ
đã sử dụng quỹ hỗ trợ việc làm, hộ trợ lãi suất cho vay, hỗ trợ đào tạo nghề…
Liên bộ Tài chính, Lao động-Thương binh và Xã hội vừa có thông tư liên tịch
hướng dẫn thực hiện đề án “Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao
động giai đoạn 2009-2020”.
Theo đó, từ ngày 24-10, người lao động sinh sống tại huyện nghèo (có hộ
khẩu thường trú hoặc tạm trú đủ 12 tháng trở lên) được hỗ trợ kinh phí để đi

giảm bớt khó khăn của người nghèo những người thuộc diện chính sách đối
tượng khó khăn… thường phát huy tác dụng cao vì đối tượng xác được hưởng
rất dễ xách định. Tuy nhiên điều tiết thu nhập của dân cư cần chú ý duy trì mức
độ chênh lệch vừa phải để tạo điều kiện cho các cá nhân có thu nhập chính
đáng được hưởng thu nhập của mình, không cao bằng thu nhập thông qua phân
phối tài chính.
Hay như với các chính sách để người nghèo có khả năng phát huy hết khả
năng của mình thì nhà nước thông qua những chính sách như cho sinh viên
nghèo vay vốn, cho người nghèo vay vốn… Ngày 16.7.2009 Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi
suất đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách khác
tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
Theo đó, toàn bộ khách hàng vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo cơ
chế cho vay hiện hành được hỗ trợ lãi suất theo quy định của Thủ tướng Chính
phủ và Thông tư này. Loại cho vay được hỗ trợ lãi suất là các khoản cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của khách hàng vay tại Ngân hàng Chính sách
xã hội. Đối với các khoản vay thuộc diện được ân hạn (Chương trình tín dụng
đối với học sinh, sinh viên…), Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện
giảm lãi suất tương ứng với mức và thời gian hỗ trợ lãi suất theo quy định tại
Thông tư này ở thời điểm thu lãi.
-

Cạnh tranh:

Mỗi tháng, gia đình chúng thường thanh toán các hóa đơn cho công ty
cung cấp nước thành phố ( điện, vệ sinh, …. ). Không giống như hầu hết các
doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường, công ty cấp nước không phải
cạnh tranh với các doanh nghiệp đối thủ khác trong việc cung cấp nước. Công
ty cấp nước được gọi là "độc quyền tự nhiên" bởi vì chỉ một công ty cấp nước
là có tính kinh tế nhất. Cho phép có hai hệ thống nước, hoặc hai hệ thống dây

định chính sách ít nhất cũng có thể khiến việc các công ty lớn này cấu kết với
nhau là bất hợp pháp, và cưỡng chế thực hiện các điều luật này nhằm đảm bảo
rằng càng có nhiều cạnh tranh trực tiếp giữa các công ty này càng tốt. Thật
không may là nhiều quy định và chính sách chống độc quyền của chính phủ
thực sự đã làm giảm thay vì gia tăng sự cạnh tranh. Các chính sách này bao
gồm các giấy phép độc quyền để sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ, thuế, hạn
ngạch nhằm hạn chế hàng hóa và dịch vụ nước ngoài nhập khẩu vào nội địa, và
các yêu cầu về giấy phép hành nghề và lệ phí cho người lao động có tay nghề
và chuyên môn. Một số trong các chính sách này, ví dụ như cấp bằng sáng chế
và bản quyền có thể được biện minh bằng các cơ sở kinh tế khác. Tuy nhiên,
các hạn chế khác không thật thích đáng và được áp dụng chỉ bởi vì chúng mang
lại lợi ích lớn hơn cho số ít thành viên của các nhóm nhỏ có quyền lợi đặc biệt.
Do thiệt hại gây ra bởi các hạn chế này được phân tán rộng rãi cho phần còn lại
của toàn dân nên chúng không thu hút hoặc thu hút rất ít sự phản đối của công
luận.

17


Cân nhắc cho kỹ thì mặc dù còn nhiều thiếu sót nhưng điểm nhất trí chung
của các nhà kinh tế học về nền kinh tế thị trường là chúng ta sẽ phải trả giá đắt
nếu cho phép các hãng lớn (hoặc là một nhóm các hãng cố kết với nhau) đạt
được vị trí độc quyền trong một số ngành chủ chốt. Cài giá này đủ lớn để giải
thích cho việc chính phủ phải có một vai trò giới hạn trong việc xây dựng các
luật lệ và quy định để duy trì sự cạnh tranh.
-

Chính sách giáo dục của nhà nước:

Khi bạn đến với trường học cuả mình, bạn đang tìm kiếm cách cải thiện

hoặc các nguồn lực khác để kiếm sống. Trái lại, một số khác lại được hưởng
18


nhiều lợi lộc vì thừa hưởng tài sản hay có tài năng, hoặc do họ biết kết hợp với
gia đình và bạn bè về mặt kinh doanh, chính trị hay xã hội. Chính phủ trong các
nền kinh tế thị trường chắc chắn sẽ can thiệp bằng các chương trình tái phân
phối thu nhập, và thường hành động với ý định khá rõ ràng là dùng các chính
sách thuế để vấn đề phân phối thu nhập sau thuế trở nên công bằng hơn. Những
người đề xướng việc tái phân phối mở rộng cho rằng vai trò này của chính phủ
khi làm như vậy là nhằm hạn chế việc tập trung tài sản và duy trì sự phân chia
quyền lực kinh tế rộng rãi giữa các hộ gia đình, cũng như luật chống độc quyền
được thiết kế để duy trì cạnh tranh và phân chia quyền lực và các nguồn lực
rộng rãi hơn giữa các nhà sản xuất. Còn những người chống lại các chương
trình tái phân phối lớn lại phản đối rằng thuế gia tăng đối với các gia đình có
thu nhập cao sẽ làm giảm động cơ làm việc, tích lũy và đầu tư của các nhóm
này, và như vậy là làm tổn hại đến toàn bộ nền kinh tế. Những tranh luận về tái
phân phối thu nhập đều dựa trên quan điểm cơ bản của con người về thế nào là
công bằng và hợp lý. Và trong lĩnh vực này, cả các nhà kinh tế học lẫn các
chuyên gia khác nghiên cứu về vấn đề này đều chưa có lập trường nào đặc biệt.
Tất cả những gì mà họ có thể làm là tập hợp tài liệu về những gì đã xảy ra đối
với việc phân phối thu nhập và tài sản qua thời gian trong các hệ thống kinh tế
khác nhau, và sử dụng các thông tin đó để cố gắng xác định các chính sách
khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến các biến số như mức sản lượng, mức tích
lũy và đầu tư quốc gia.
Trong thế kỷ này, mọi người đã dần dần cùng nhất trí rằng chính phủ trong
hầu hết các nền kinh tế thị trường, vì lòng trắc ẩn và tính công bằng, nên có
trách nhiệm hỗ trợ cho các gia đình nghèo túng nhất trong nước và giúp họ cố
gắng thoát khỏi cuộc sống đói nghèo. Chính phủ trong tất cả các nền kinh tế thị
trường thực sự đều hỗ trợ cho những người thất nghiệp, chăm sóc y tế cho

hơn là bãi cỏ trước cửa nhà riêng, bởi vì không ai sở hữu những khoảng đất
công này và chịu trách nhiệm giữ vệ sinh cho chúng, hay buộc tội những người
chiếm đoạt chúng.
Trên thực tế, hầu hết ô nhiễm đều bị thải vào không khí, đại dương và các
dòng sông bởi vì không có cá nhân nào sở hữu các nguồn lực đó có đủ động cơ
cá nhân để bắt những người gây ô nhiễm chịu trách nhiệm về những thiệt hại
họ gây ra. Mặc dù có một số người bỏ thời gian và chịu rắc rối để khởi kiện
những người gây ô nhiễm, thì hầu hết những người khác có rất ít động lực kinh
tế để làm điều đó. Vai trò của chính phủ trong vấn đề này là cố gắng hiệu chỉnh
sự mất cân bằng đó. Bằng cách can thiệp, chính phủ buộc những người sản xuất
và tiêu dùng sản phẩm đó phải thanh toán cho những chi phí vệ sinh này.
Tuy nhiên tài chính công tại VN chưa thực sự phát huy hết vai trò của nó
trong nền kinh tế xã hội do tài chính công Việt Nam còn mờ nhạt, chính sách
vẫn còn lỏng lẻo, chưa kiểm soát được thị trường trong nước đã làm cho giá cả
của một số mặt hàng vẫn chưa ổn định như: giá sữa cao gấp 5 lần và giá ô tô
cao gấp 3 lần so với giá của các nước khác trên thế giới hoặc khi giá xăng dầu
thế giới tăng lên thì giá trong nước cũng tăng theo, nhưng khi đã giảm thì giá
trong nước vẫn chưa được bình ổn.…Điều này là do tổ chức tài chính nước ta
vẫn chưa thực hiện tốt, không kiễm soát chặt chẽ được giá cả trên thị trường
nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung làm cho có sự phân hóa nghiêm trọng
giữa các ngành kinh tế, các vùng kinh tế hay giữa các doanh nghiệp sản xuất…
làm cho kinh tế mất ổn định, rối loạn và mất ổn định, nền kinh tế sẽ bị lũng
đoạn và trì trệ., việc điều hành NSNN vẫn còn khó khăn, hạn chế, do đó chưa
20


phát huy hết vai trò của tài chính công như: chất lượng công tác dự báo chưa
cao; việc triển khai đồng thời chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ nới lỏng
đã làm gia tăng áp lực lạm phát vào năm 2008; mức dư nợ Chính phủ và dư nợ
Quốc gia tăng nhanh (tuy vẫn nằm trong giới hạn an toàn). gây khó khăn cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status