Lựa chọn một số bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ trong chạy 200m cho đội tuyển điền kinh nam trường THPT bến tre vĩnh phúc - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn hoá của
dân tộc với nền văn minh của nhân loại. Luyện tập thể dục thể thao có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, củng cố và tăng cường sức khoẻ. Đồng
thời thể dục thể thao có tác dụng rèn luyện và phát triển con người một cách toàn
diện cả về mặt thể chất cũng như tinh thần, mang lại cho con người sức khoẻ tốt,
đạt được hiệu quả cao trong học tập, lao động, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Ngày nay, cùng với sự lớn mạnh của nhiều ngành khoa học trong cả
nước, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của nền khoa học kỹ thuật, ngành
thể dục thể thao nước ta đã và đang có nhiều tiền đề phát triển. Thực tế đã
chứng minh trong những năm gần đây phong trào thể dục thể thao ngày càng
được nâng cao. Thành tích thể thao đỉnh cao ngày càng nhiều VĐV chiếm
lĩnh, các kỷ lục quốc gia luôn bị phá vỡ, phong trào thể dục thể thao quần
chúng ngày càng được nhiều người tham gia tích cực và môn học giáo dục thể
chất là một nội dung học bắt buộc ở các nhà trường phổ thông cũng như Đại
học. Mục đích của giáo dục Việt Nam là “Đảm bảo sự phát triển toàn diện,
cân đối cho con người, chuẩn bị cho họ trong sự nghiệp lao động sáng tạo
xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc. Chuẩn bị sức khỏe cho mọi người để họ
tham gia vào các hoạt động xã hội. Tăng cường thể chất, nâng cao trình độ
thể dục thể thao và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho nhân
dân” [2].
Do đó, hoạt động thể dục thể thao là một trong những nội dung quan
trọng không chỉ ở ngành giáo dục mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội.
Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, khoa học công nghệ phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người
dân đang được nâng lên rõ rệt. Xã hội phát triển ngày càng hiện đại, nhu cầu


2


3

GDTC được các thầy cô giáo chuyên trách và nhà trường rất quan tâm. Mặc
dù vậy qua quan sát đội tuyển Điền kinh nam của trường tập luyện, chúng tôi
nhận thấy khoảng 30 – 50m cuối cự ly tốc độ thường bị giảm ảnh hưởng rất
lớn đến thành tích của các em.
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài.
“Lựa chọn một số bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ trong chạy
200m cho đội tuyển Điền kinh nam trƣờng THPT Bến Tre – Vĩnh Phúc”.
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng tập luyện và
phát triển sức bền tốc độ, để từ đó lựa chọn và ứng dụng hệ thống bài tập phát
triển sức bền tốc độ nhằm đạt hiệu quả cao trong chạy 200m, xác định một
cách chuẩn mực hệ thống các bài tập phát triển sức bền tốc độ trong chạy
200m cho đội tuyển Điền kinh nam trường THPT Bến Tre – Vĩnh Phúc.


4

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi THPT
1.1.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT
Ở lứa tuổi này các em đã tỏ ra là những người lớn thực sự và đòi mọi
người xung quanh phải tôn trọng mình, tỏ ra mình là người có hiểu biết,
không phải là trẻ con nữa. Các em đã hiểu biết rộng, ưa hoạt động hơn,
thích những việc có hoài bão lớn. Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế nên
các em tiếp thu cái mới rất nhanh song những hoạt động có tính chất lặp lại
nhiều lần, đơn điệu sẽ gây cho các em cảm giác nhanh chán và nhiều khi

công suất hoạt động. Sự hồi phục tim mạch sau khi hoạt động thể lực tất nhiên
là phụ thuộc vào độ lớn của lượng vận động. Song đối với các em nam sự
phục hồi cũng tương đối nhanh, hệ thống điều ứng của hệ tuần hoàn trong vận
động, mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh. Cho nên lứa tuổi này
có thể tập những bài tập dai sức và những bài tập có khối lượng và cường độ
hoạt động hoặc các bài tập phát triển sức bền, cần phải thận trọng và thường
xuyên kiểm tra theo dõi trạng thái sức khỏe của học sinh.
- Hệ hô hấp:
Ở lứa tuổi này có sự thay đổi rõ nét về độ dài của chu kỳ hô hấp. Tỷ lệ
thở ra hít vào thay đổi sau và tần số hô hấp, dung tích sống và không khí phổi
tối đa tăng, khả năng hấp thụ oxy tối đa lớn.
Tuy nhiên, các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực
nhỏ, chủ yếu là co giãn cơ hoạch. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung
chú ý thở bằng ngực: các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, việt dã có tác
dụng tốt đến sự phát triển của hệ hô hấp.
- Hệ cơ:
Ở giai đoạn này hệ cơ phát triển với tốc độ nhanh, nhưng vẫn chậm so
với hệ xương biểu hiện là các em cao, gầy. Khối lượng cơ tăng không đều và


6

chủ yếu là các cơ nhỏ dài, độ phì đại của cơ chưa cao. Do đó khi hoạt động
nhanh dẫn đến mệt mỏi. Vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên phải chú ý
phát triển cơ bắp của các em nhằm phát triển một cách hoàn thiện cho hệ cơ.
- Hệ thần kinh:
Bộ lão của các em thời kỳ này tiếp tục phát triển và đưa đến hoàn thiện
khả năng tư duy nhất là khả năng phân tích tổ hợp trừu tượng hóa. Phát triển
rất thuận lợi cho việc hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra do sự hoạt
động mạnh của các tuyến giáp, trong các tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho

tuyển chọn và xác định các cự ly chuyên môn hóa phù hợp nhất cho từng
VĐV.
Vì VĐV tập luyện sức bền chuyên môn chủ yếu sử dụng nguồn năng
lượng yếm khí nên tạo ra nhiều axit lactic hơn ở các VĐV tập luyện sức bền
chung. Do đó quá trình tập luyện sức bền chuyên môn cần làm tăng khả năng
hấp thụ oxy để làm giảm lượng axit lactic trong máu và như vậy làm tăng khả
năng hoạt động yếm khí kéo dài của cơ thể, đó là một trong những điều kiện
quan trọng nhất để nâng cao sức bền chuyên môn của VĐV.
Những nhân tố quyết định tới khả năng yếm khí là:
- Mức độ các nguồn dự trữ năng lượng và khả năng huy động các
nguồn này khi thiếu oxy.
- Khả năng chung hòa các phản ứng axit của quá trình trao đổi chất.
Để hoạt động mang tính tuần tự cao trên cơ sở phát triển sức bền
chuyên môn chúng tôi dựa trên các yếu tố sau:
+ Cường độ bài tập.
+ Thời gian thực hiện bài tập.
+ Thời gian nghỉ giữa quãng.
+ Tính chất nghỉ ngơi.
+ Số lần lặp lại.


8

Cỏc yu t ny cú ý ngha rt ln v cú mi quan h mt thit b sung
cho nhau trong quỏ trỡnh hun luyn. Nu thay i cỏc yu t trờn thỡ c th s
xut hin nhng bin i bt li t ú gim thnh tớch th thao.
1.2.2. C s sinh lý ca sc bn tc
Sức bền là khả năng duy trì một hoạt động
nào đó. Khái niệm sức bền là một tố chất thể lực, vì
thế có tính t-ơng đối cao, nó đ-ợc thể hiện một loại

Axit lactic trong máu, trong các hoạt động sức
bền là những hoạt động -a khí, hàm l-ợng Axit lactic
trong máu tỉ lệ nghịch với thời gian vận động.
- Hệ tim mạch: Do hô hấp ngoài th-ờng cao hơn
khả năng hấp thụ oxy của cơ thể, nên trong thực tế
khả năng vận chuyển oxy chủ yếu phụ thuộc vào tuần
hoàn chứ không phải là hô hấp, nhất là khả năng đẩy
máu của buồng tim. Tập luyện sức bền lâu dài làm cho
tim biến đổi theo hai h-ớng: Giãn nở buồng tim và
phì đại cơ tim. Về mặt chức năng, tập luyện sức bền
làm giảm tần số co bóp của tim khi yên tĩnh, giảm
nhịp tim trong các hoạt động -a khí tối đa là hiện
t-ợng rõ và ổn định nhất, thể hiện trình độ phát
triển sức bền.
- Hệ cơ: Sức bền của vận động viên phụ thuộc vào
một phần đáng kể đặc điểm cấu tạo và đặc điểm sinh
hóa sinh cơ. Tập luyện sức bền có thể làm tăng tỉ lệ
các sợi cơ, có khả năng trao đổi chất -a khí, thích
nghi với hoạt động sức bền. Tập luyện sức bền tăng
số mao mạch trong cơ, trong quá trình tập luyện sức
bền, trong cơ xảy ra các hoạt động biến đổi sinh hóa


10

để nâng cao khả năng sử dụng oxy, tức là nâng cao
sức bền của cơ thể, cụ thể là:
+ Tăng hàm l-ợng và hoạt tính các men trao đổi
chất -a khí (men oxy hóa).
+ Tăng hàm l-ợng các chất chứa năng l-ợng nhGlycogen và Lipit.

Huấn luyện thể lực chung: Là quá trình giáo dục toàn diện những năng
lực, thể chất cho VĐV. Người ta sử dụng các bài tập khác nhau để nâng cao
chức phận của cơ thể phát triển toàn diện các năng lực thể chất và làm phong
phú thêm vốn kĩ năng, kĩ xảo và là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên
môn cho VĐV.
Huấn luyện thể lực chuyên môn: Là quá trình giáo dục nhằm phát triển
và hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm của các môn
thể thao chuyên sâu. Nó có nhiệm vụ phát triển tối đa các năng lực của VĐV
và là khâu cơ bản quyết định đến thành tích [12].
Ngày nay trong huấn luyện thể thao hiện đại ở giai đoạn nào của quá
trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung được coi là then chốt.
Bởi vì thể lực chung và thể lực chuyên môn được coi là nền tảng của việc đạt
thành tích cao.
Qua tham khảo các nguồn tại liệu, các công trình nghiên cứu khoa học
của nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lý luận huấn luyện thể thao
trong nước, GS– TS Lê Văn Lẫm, PGS-TS Nguyễn Toán. Chúng tôi thấy các
nhà khoa học đều cho rằng: “Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là hướng
đến củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống cơ quan trước vận
động thể lực và đồng thời đã tác động đến quá trình phát triển các tố chất thể
lực. Đây có thể coi là quan điểm có xu hướng sư phạm trong quá trình giáo
dục các tố chất vận động” [13].
Còn quan điểm theo xu hướng tâm lý mà chúng tôi ghi nhận ở một số
chuyên gia Việt Nam như: PGS - TS Phạm Ngọc Viên, PGS - TS Lê Văn


12

Xem cho rằng “Quá trình chuẩn bị thể lực chung và chuyên môn của VĐV là
quá trình giáo dục nhưng khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành
động kỹ thuật là phù hợp với những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện

Trong đó sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường
độ trung bình thu hút toàn bộ các cơ quan trong cơ thể tham gia hoạt động.
Sức bền chuyên môn là khả năng duy trì năng lực vận động cao những
loại hình bài tập nhất định [11].
- Theo Nôvicôp và Matveep thì sức bền tốc độ là khả năng duy trì tốc
độ cường độ vận động cao trong thời gian dài mà cơ thể chịu được [10].
- Giáo sư - Tiến sĩ Dietrich Harre (Đức) cho rằng sức bền tốc độ tức
sức nhanh là khả năng chống lại mệt mỏi khi vận động với tốc độ tối đa và
gần tối đa chủ yếu với sự tạo thành năng lượng yếm khí [12].
Theo ông thì sức bền được chia thành:
+ Sức bền trong thời gian ngắn (30 giây – 2 phút)
+ Sức bền trong thời gian trung bình (2 phút – 11 phút)
+ Sức bền trong thời gian dài (11 phút - nhiều giờ).
- Một số tác giả khác: Sức bền tốc độ là khả năng duy trì được cường
độ hoạt động cao trong suốt quá trình thực hiện bài tập nhờ sự nỗ lực của toàn
bộ cơ quan trong cơ thể.
- Các nhà sinh lý học như: Yamsaki Moshu (Nhật), Vonkop (Nga),
Dương Tích Nhược (Trung Quốc) thì khái niệm về sức bền tốc độ là năng lực
của cơ thể chống lại mệt mỏi trong hoạt động kéo dài nào đó.
1.4.2. Những yếu tố chi phối sức bền tốc độ
Sức bền tốc độ được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhưng
nổi trội hơn cả là các nhà khoa học như: Harre (Đức), VoonCôp, Ozolin
(Nga), Phùng Thiếu Phạm (Trung Quốc), các ông cho rằng sức bền tốc độ bị
chi phối bởi bốn yếu tố sau:


14

- Trình độ phát triển chung của cơ thể học sinh, các hệ thống cơ quan
của cơ thể đặc biệt là hệ thống thần kinh, tim mạch, hô hấp có mối quan hệ


15

sức bền tốc độ. Và điều đó cũng đã được các nhà khoa học như Schanabel,
Dietrich Harre (Đức) khẳng định nâng cao sức bền tốc độ cho VĐV là cốt lõi
của việc nâng cao thành tích chạy ngắn trong môn Điền kinh [12].
1.5. Những phƣơng pháp huấn luyện sức bền tốc độ
Để phát triển sức bền tốc độ thì việc lựa chọn các bài tập nhằm phát
triển sức bền tốc độ của VĐV chạy cự ly ngắn nói chung và chạy 200m nói
riêng, ngoài ra việc cần củng cố và hoàn thiện hoạt động của các hệ thống tim
mạch, hô hấp còn cần phải hoàn thiện quá trình trao đổi chất, làm tăng hệ số
sử dụng oxy.
Chạy 200m đòi hỏi phải sử dụng tốc độ cao trên cả cự ly. Bởi vậy nó là
một hoạt động bao gồm cả hai quá trình yếm khí và ưa khí. Vì thế trong huấn
luyện sức bền chuyên môn việc nâng cao khả năng ưa khí và yếm khí của
VĐV là điều kiện quan trọng không thể thiếu được [6].
1.5.1. Phương pháp nâng cao khả năng ưa khí
Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo ra nguồn năng lượng cho
hoạt động cơ bắp thông qua quá trình oxy hóa các hợp chất giàu năng lượng
trong cơ thể. Để nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể cần giải quyết 3 nhiệm
vụ sau:
- Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa.
- Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì hấp thụ oxy tối đa.
- Làm cho hệ tuần hoàn và hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt động
với hiệu suất tối đa.
Các phương pháp giáo dục khả năng ưa khí của cơ thể người ta thường sử
dụng các bài tập có tính chu kỳ với tốc độ gần cực hạn và tập luyện trong môi
trường giàu oxy trong đó có sự tham gia của phần lớn nhóm cơ, để nâng cao khả
năng ưa khí người ta thường sử dụng các phương pháp huấn luyện sau:
+ Phương pháp đồng đều liên tục.



17

+ Tính chất quãng nghỉ: Nên tiếp tục hoạt động với cường độ thấp để
tránh sự chuyển đổi đột ngột từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh và ngược
lại, nhằm tăng quá trình hồi phục.
+ Số lần lặp lại phải đảm bảo duy trì được trạng thái ổn định trong sự
phối hợp của các hệ thống cơ thể, thực hiện khả năng hấp thụ oxy ổn định ở
mức độ cao.
1.5.2. Phương pháp nâng cao khả năng yếm khí.
Khả năng yếm khí là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựa
vào nguồn cung cấp năng lượng yếm khí. Nâng cao khả năng ưa khí cũng là
yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng yếm khí tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thực hiện những hoạt động yếm khí. Bởi vì trong quá trình trả nợ oxy
được diễn ra một phần trong lúc vận động và nếu có khả năng ưa khí cao thì
phần trả nợ oxy trong lúc vận động đó sẽ lớn hơn khi đó hiệu quả hoạt động
của cơ thể sẽ tăng lên [4].
Để nâng cao khả năng yếm khí thì phải giải quyết 3 nhiệm vụ nhờ sự
phân hủy của hai phản ứng: Hoàn thiện cơ chế ATP - CP và Glucôphân.
- Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế giải phóng năng lượng từ phốtpho
Creatin (CP) là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựa vào nguồn
cung cấp năng lượng yềm khí.
+ Cường độ bài tập gần tốc độ tối đa hoặc thấp hơn một chút không
làm ảnh hưởng cao đến trao đổi chất.
+ Thời gian bài tập: chỉ giới hạn tập từ 3 – 8 phút, sở dĩ như vậy là do
dự trữ phốtpho Creatin trong cơ rất ít, sự phân hủy hợp chất này chỉ diễn ra
trong thời gian vài giây sau khi bắt đầu hoạt động.
+ Thời gian nghỉ giữa quãng: Từ 2 – 3 phút đó cũng là thời gian đủ để
hồi phục phốtpho Creatin không tạo ra axit lactic nên tốc độ trả nợ oxy diễn ra

này chỉ cao tới mức khi năng lượng có thể sử dụng một cách rộng rãi nhất


19

theo con đường oxy hóa. Những bài tập nhằm nâng cao khả năng thích ứng
của cơ thể trong điều kiện trao đổi chất đầy đủ dưỡng khí của cơ thể hoạt
động với giai đoạn khác nhau của VĐV.
Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên chúng ta có thể thấy rằng thể
thao đòi hỏi VĐV có sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật và thể lực. Ngày nay
Điền kinh càng được quan tâm và phát triển mạnh mẽ là môn thể thao không
chỉ là của nam giới mà là một trong những môn thể thao yêu thích của Nữ giới.
Vì vậy việc huấn luyện tùy tiện không có cơ sở khoa học, chương trình
tập luyện không hợp lý có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
người tập. Mỗi lần lặp lại có thể từ 20 giây – 2 phút.
+ Thời gian nghỉ ngơi được giảm dần sau mỗi lần lặp lại. Giữa lần 1 và
lần 2 là từ 5 – 8 phút và lần 3 là từ 3 – 4 phút.
+ Tính chất nghỉ ngơi: Không cần nghỉ ngơi tích cực nhưng tránh trạng
thái tĩnh hoàn toàn.
+ Số lần lặp lại: chia thành từng nhóm, mỗi nhõm từ 15- 20 phút để
thanh toán phần lớn lượng oxy.
Trong quá trình rèn luyện sức bền cần chú ý thực hiện trình tự: Trước
tiên cần phát triển khả năng hô hấp (ưa khí) sau đó là khả năng Glucôphân và
cuối cùng là khả năng sử dụng năng lượng do phản ứng phân hủy phôtpho
Creatin, điều này liên quan đến quá trình giáo dục thể chất và huấn luyện
[4].
1.6. Ý nghĩa của việc phát triển sức bền với việc nâng cao thành tích chạy 200m
Như chúng ta đã biết: Huấn luyện sức bền nhằm nâng cao thành tích
các môn chạy ngắn nói chung và chạy 200m nói riêng thì cần phải huấn luyện
toàn diện, đặc biệt là sức bền tốc độ. Bởi vì các tố chất sức bền có quan hệ

õy l phng phỏp c s dng rng rói trong hu ht cỏc cụng trỡnh
nghiờn cu khoa hc. Phng phỏp ny giỳp cho vic h thng húa cỏc kin
thc cú liờn quan n lnh vc nghiờn cu.
Trong quỏ trỡnh nghiờn cu, ti thu thp v nghiờn cu nhiu ti liu
cú liờn quan, cỏc vn bn phỏp quy v cụng tỏc giỏo dc th cht trng hc,
cỏc sỏch, tp chớ, ti liu khoa hc, kt qu nghiờn cu ca cỏc tỏc gi. Ngun
ti liu ch yu c thu thp t th vin trng i Hc S Phm H Ni 2.
2.2.2. Ph-ơng pháp phỏng vấn tọa đàm
L phng phỏp thu thp thụng tin qua hi tr li gia nh nghiờn
cu vi i tng nghiờn cu v vn quan tõm. ti s dng phng
phỏp phng vn giỏn tip v trc tip vi i tng la chn. i tng
phng vn l cỏc chuyờn gia th thao, cỏc ging viờn v giỏo viờn th dc.


22

Để đảm bảo cho đề tài mang tính khoa học cao và thực tiễn, chúng tôi
đã tiến hành hỏi một số ý kiến của các thầy cô giáo dạy thể dục thể thao có
kinh nghiệm và các HLV có trình độ cao, để tìm ra các bài tập hợp lý nhằm
phát triển sức bền, từ đó có những nhận định liên quan đến đề tài.
2.2.3. Ph-¬ng ph¸p quan s¸t s- ph¹m
Quan sát sư phạm là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu
trong quá trình giáo dục – giáo dưỡng, mà không làm ảnh hưởng đến quá
trình đó. Hay nói một cách khác, đó là phương pháp tự giác có mục đích một
hiện tượng giáo dục nào đó để thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc
trưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng đó.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phương pháp quan
sát sư phạm để quan sát các buổi tập của đội tuyển Điền kinh nam trường
THPT Bến Tre nhằm đánh giá thực trạng sức bền tốc độ cự ly 200m của đối
tượng nghiên cứu.

- Ph-ơng sai:



2

(x


A

x A ) 2 (x B x B ) 2
(n 30)
nA nB 2

Trong đó:
: Ph-ơng sai.
:

Giá

trị

trung

bình

của

nhóm

chứng
- lch chun () : 2
- Công thức tính hệ số t-ơng quan:
r

(x x)(y y)
(x x) (y y)
2

2

2.3. Tổ chức nghiên cứu
2.3.1.

Thời gian nghiên cứu

Đề tài đ-ợc nghiên cứu từ tháng 11/2011 đến
tháng 5/2012 theo các giai đoạn sau:

Giai
Đoạn

Thời gian
Bắt

Kết

đầu

thúc

bị

1



bảo

tài chỉnh
đề vệ

bảo

tr-ớc

hội

chuẩn đồng
vệ

khoa

đề học.

c-ơng.

Tiến
01/20

4/2012 quyết

2

12

thu

thập

Tổng

hợp,

12

cứu

số trên cơ sở số
liệu

ban

đầu

phân thu đ-ợc.

tích và xử lý số + Phân tích để
04/201 liệu cụ thể.

03/20



tài.

của

bài

tập mà đề tài
đ-a ra.
+ Cơ bản hoàn
thành đề tài.

3

04/20
12

Chỉnh sửa, hoàn
05/201 thiện và chuẩn
2
bị bảo vệ kết
quả nghiên cứu
tr-ớc hội đồng

Khóa
luận
hoàn chỉnh và
bảo vệ thành
công
tr-ớc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status