1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nhằm
tiến tới “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích
và tạo điều kiện để phát triển mọi mặt trong đời sống xã hội.
Trong đó việc tập luyện thể dục thể thao là một trong những vấn đề
không kém phần quan trọng trong cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai
đoạn hiện nay. Cho nên ngành thể dục thể thao nói chung và thể dục thể chất
nói riêng luôn luôn tiếp thu, bổ sung, đổi mới và ngày càng hồn thiện để có
thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Hồn thiện về thể chất để có thể
phát triển một cách tồn diện, nhịp nhàng, hài hòa kể cả về hình thái và chức
năng thể lực. Vì thể lực cường tráng mới có khả năng thích ứng tốt nhất với
điều kiện sản xuất, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước ta luôn quan tâm
đến sức khỏe của nhân dân, ngay sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công,
Bác Hồ đã ra lời kêu gọi tồn dân tập thể dục ngày 27/03/1946 “Giữ gìn dân
chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới việc gì cũng cần đến sức khỏe mới
thành công. Mỗi một người dân yếu ớt tức là cho cả nước yếu ớt một phần;
Mỗi một người dân mạnh khỏe tức là góp phần làm cho đất nước mạnh khỏe.
Vậy nên tập luyện thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người
dân yêu nước”.
Giáo dục thể chất là một nhân tố quan trọng không thể thiếu được trong
hệ thống giáo dục con người mới, phát triển tồn diện. Nhiệm vụ chiến lược
của công tác thể dục thể thao ở nước ta hiện nay là phải tập trung thực hiện
công tác giáo dục thể dục thể chất trong trường học các cấp có chất lượng
ngày càng cao, từng bước hồn thiện chương trình giảng dạy nội khóa cho phù
hợp, tăng cường tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa …
2
Các môn thể thao nói chung và Điền kinh nói riêng là phương tiện của
công tác giáo dục thể chất. Việc nâng cao thành tích ở các môn thể thao nói
chung và Điền kinh nói riêng sẽ góp phần cho công tác giáo dục thể chất có
Chơn Thành – tỉnh Bình Phước.
- Nhiệm vụ 2: Ứng dụng và đánh giá trong thực tiễn hiệu quả sử
dụng cá bài tập phát triển sức mạnh tốc độ ở nội dung chạy 60m của nam học
sinh lớp 8 trường THCS Minh Thành – huyện Chơn Thành – tỉnh Bình
Phước.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CÔNG
TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT:
“Đảng và nhà Nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu Giáo dục tồn diện cho
thế hệ trẻ, trong đó Đức – Trí – Thể – Mỹ được coi là vấn đề quan trọng nhằm
Giáo dục, hình thành nhân cách học sinh, sinh viên – những người chủ nhân
tương lai của đất nước, có phẩm chất cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về thinh thần, trong sáng về đạo đức” (Nghị quyết TW4 khóa VII).
Trong văn kiện Đại hội Đảng khóa VII có nêu rõ “Giáo dục đào tạo cùng
với khoa học và công nghệ phải thực sự thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị
tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ 21” và khẳng định “Sự cường tráng
về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra
tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là
trách nhiệm của tồn xã hội, các cấp, các nghành, các đồn thể”.
Tiếp theo tại Đại hội Đảng khóa IX, Đảng lại một lần nữa khẳng định :
“Phát triển Giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng, thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững”. Trong đó Đảng đưa ra chủ trương: Phát động phong trào tồn dân
tập luyện TDTT nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam; Phổ biến
rộng rãi kiến thức về tự bảo vệ sức khỏe. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận
động viên thể thao có thành tích cao. Đưa thể thao Việt Nam lên trình độ
chung trong khu vực Đông Nam Á và có nhiều thành tích cao trong nhiều
khuynh hướng ngày càng phát triển. Đó là những kết quả của những điều kiện
thuận lợi về dinh dưỡng, yếu tố môi trường, tập luyện TDTT…, và ngược lại
nếu như những điều kiện đó yếu đi thì thể lực có khuynh hướng ngược lại.
Qua nhiều năm nghiên cứu thực nghiệm, một số cán bộ khoa học việc
nghiên cứu khoa học TDTT Liên Xô (cũ) do X.X. Giosbenkốp phụ trách đã
đưa ra kết quả: “Kết quả học tập của nhóm học sinh tham gia tập luyện TDTT
tăng 12%, trong khi đó kết quả học tập của các em khác chỉ tăng 6%. Đáng
chú ý là hiện tượng mệt mỏi nhiều và kết quả học tập thường giảm sút ở cuối
kỳ và cuối năm học, không biểu hiện ở các em có tập luyện TDTT thường
xuyên và đầy đủ”. Người ta cũng nghiên cứu ảnh hưởng của từng môn thể
thao đối với năng lực trí óc của học sinh – sinh viên. Về mặt này, kết quả
nghiên cứu của V.M Smirnốp (năm 1968-1969) đã cho thấy các môn bóng,
sau đó là điền kinh và thể dục dụng cụ là những môn có hiệu quả tốt nhất
(giảm mệt mỏi, tăng năng lực lao động). Các môn khác cũng có tác dụng tốt
đối với năng lực lao động trí óc. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của
các tác giả nước ngồi đã chứng minh rằng nguyên nhân chủ yếu gây ra học
tập kém của 100 học sinh thì 85 em là do sức khỏe kém và thể lực không đủ.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu khoa học của giáo sư Trịnh Trung
Hiền, Nguyễn Ngọc Can và bác sĩ Đinh Kỷ tại các trường cấp I, II, III Tán
Thuật – Kiến Xương – Tỉnh Thái Bình cũng có kết quả tương tự như trên và
điều lý thú hơn được khẳng định là các trường trên liên tục được công nhận là
7
trương tiên tiến tồn diện của cả tỉnh thì ngồi việc trò ngoan và giỏi thì còn là
nhờ có phong trào thể dục thể thao và vệ sinh tốt. Chính vì có thể dục thể thao
đã làm khởi sắc cho mọi hoạt động khác của trường. Ngồi việc đạt thành tích
trong học tập, học sinh ở đây có nhiều em khi tham gia quân đội đã được bố
trí vào các binh chủng đặc biệt như: Đặc Công, Tăng Thiết Giáp, Hải Quân,
Không Quân. Trường Tán Thuật đã được Nhà nước tạng huân chương lao
động vì có thành tích xuất sắc về giáo dục TDTT, trở thành lá cờ đầu của cả
nước.
Tác dụng của giáo dục thể chất là rất lớn, nó không những đem lại sức
khỏe cho học sinh mà còn góp phần đào tạo con người phát triển tồn diện.
Cho nên giáo dục thể chất không thể thiếu trong nhà trường phổ thông.
Ở lứa tuổi lớp 8 khả năng nhận biết cấu trúc động tác và tái hiện chính
xác hoạt động vận động được nâng cao, hệ thống thần kinh trung ương đã khá
hồn tồn thiện, nhưng hoạt động phân tích của não về tri giác có định hướng
sâu sắc hơn. Đặc biệt là cảm giác bản thân. Trong điều khiển động tác, khả
năng nhận biết chính xác về không gian của học sinh nam đạt mức cao nhất.
Các em học sinh đã có thể thực hiện những bài tập khá đầy đủ, chỉ qua
lời nói của giáo viên, biết xác định những khâu then chốt, quyết định trong
9
một bài tập, chỉ ra khá rõ những sai sót của bạn khác hoặc chính bản thân
mình. Ngồi ra các em còn chịu khó tìm sách báo có liên quan đến bộ môn
mình ưa thích, về thể lực ở lứa tuổi này đã phát triển tương đối hồn chỉnh,
chức năng sinh lý tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộ
phận cơ thể cũng được nâng lên cao hơn.
Vì vậy trong việc giáo dục thể chất cần phải phân biệt tính chất, cường
độ, khối lượng tập luyện sao cho phù hợp để tạo điều kiện cho cơ thể phát
triển một cách tồn diện và cân đối.
Về mặt tâm lý thì các em muốn tỏ ra mình là người lớn, muốn được mọi
người tôn trọng mình, đã có những hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích
tổng hợp hơn, muốn hiểu biết nhiều, ưa hoạt động, có nhiều hồi bão, nhưng
cũng có nhiều nhược điểm, thiếu kinh nghiệm …
Việc giáo dục đã phát triển các tố chất thể lực cho các em, đòi hỏi phải
có phương pháp sư phạm nghiêm khắc, bởi vì các tố chất thể lực phát triển
đúng đắn ở thời kỳ này sẽ ảnh hưởng tốt đến sức khỏe lâu dài và khả năng
vận động sau này của các em là chủ nhân tương lai của đất nước.
Tố chất thể lực là năng lực cơ bản của cơ thể con người như: sức mạnh,
sức nhanh, sự khéo léo, mềm dẻo, sự phát triển thể lực thay đổi tùy theo lứa
tuổi.
này là ở lứa tuổi từ 11 – 13, tuy nhiên nếu không tập luyện các bài tập phát
triển tố chất này thì sẽ bị giảm sút nhanh chóng làm ảnh hưởng đến các tố
chất khác.
* Tóm lại: Ở lứa tuổi này chúng ta cần nhớ là quá trình tăng trưởng cơ
thể của các em còn chưa kết thúc, ở đa số các em thì quá trình hưng phấn
mạnh hơn ức chế, cần phải biết khuyên nhủ, góp ý, giải thích để các em hiểu
11
biết, tránh tình trạng lúc thì tích cực, hăng hái, lúc thì tiêu cực, chán nản,
lượng vận động áp dụng cho những buổi tập kéo dài không nên quá 80 – 85%
mức thi đấu trung bình.
1.4. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỂ LỰC HỌC
SINH THCS:
* Chế độ dinh dưỡng:
- Các chất bột:
+ Cung cấp từ 55- 60% tổng năng lượng hằng ngày.
+ Bao gồm chủ yếu là các chất bột, đường hấp thụ chậm như các loại trái
cây, khoai củ và các chất bột như: Cơm, bánh mì, đậu,…. Các loại đường hấp
thụ chậm giữ vài trò “năng lượng dự trữ” khi cần gắng sức với cường độ cao.
Trong khi gắng sức kéo dài nếu nguồn nước và đường đều đặn mỗi 20 phút
sẽ giúp duy trì lượng đường huyết và giảm được sự huy động Glycogen từ các
cơ. Sau khi gắng sức, các loại đường hấp thụ chậm sẽ hiệu quả, khả năng làm
tiết Isolin ít.
+ Cách sử dụng đường trong giai đoạn hoạt động TDTT:
Trước khi gắng sức: các loại đường hấp thụ chậm từ 2 – 3 giờ trước đó.
Trong khi gắng sưc kéo dài: Nước, các loại đường đơn, đường fructose.
Sau khi gắng sức: Các đường hấp thụ chậm sau 36 – 48 giờ.
- Chất đạm:
+ Hoạt động thể lực thường cần thêm một lượng đạm để tổng hợp các
mô của cơ bắp do tăng sự chuyển hóa và ra nhiều mồ hôi.
+ Cung cấp từ 10 – 15% tổng năng lượng trong ngày.
13
+ Selenium: 100 mg/ngày trong 15 ngày.
* Tóm lại: Các em học sinh cần có một chế độ ăn cân bằng cả về chất
lẫn về lượng phân bố một cách hợp lý trong ngày.
* Tập luyện thể dục thể thao:
Tập luyện TDTT giúp ta duy trì và phát triển thể lực, phòng chống các
loại bệnh khác nhau.
Tập luyện TDTT phải dựa trên những nguyên tắc về giáo dục nói chung
và giáo dục TDTT nói riêng.
- Nguyên tắc hệ thống:
Tập luyện thường xuyên, đúng mức bao giờ cũng mang lại hiệu quả tốt
so với việc tập luyện thất thường.
Khi ngừng luyện tập trong một thời gian các mối liên hệ phản xạ có điều
kiện vừa xuất hiện sẽ bị dập tắt, mức độ phát triển các hệ thống cơ quan và cơ
bắp cũng giảm xuống. Trong điều kiện này khi tham gia tập luyện trở lại
người tập thường xuyên cảm thấy khó khăn và dễ xảy ra chấn thương, hoặc
mệt mỏi quá độ khi gắng sức. Tập luyện liên tục và có hệ thống sẽ góp phần
củng cố các động tác cũ, phát triển và hồn thiện các bài tập mới sẽ dễ dàng
hơn. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất đối với các em học sinh.
Không tuân thủ theo nguyên tắc tập luyện này sẽ không thể hình thành và
củng cố chắc chắn các động tác cũng như phát triển các tố chất thể lực.
- Nguyên tắc tập luyện tăng dần:
Giáo dục thể chất là một quá trình luôn luôn vận động. Trong quá trình
vận động đó các tố chất thể lực được phát triển dần dần từ buổi tập này sang
buổi tập khác thông qua các bài tập được thực hiện từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phức tạp. Từ nhẹ đến nặng. Tập luyện theo nguyên tắc này nhằm mục
đích để cơ thể dần dần tiếp thu được các kỹ thuật và khối lượng, cường độ
vận động.
14
- Nguyên tắc tập luyện theo đặc điểm cá nhân:
biểu hiện như: da khô và nóng, ngừng tiết mồ hôi, nhiệt độ cơ thể cao, có thể
co giật hoặc ngất.
Tập luyện trong điều kiện khí hậu lạnh thường là dễ chịu hơn so với
nóng ẩm do hệ thống tạo nhiệt hoạt động mạnh và hiệu quả, quá trình điều
nhiệt diễn ra dễ dàng.
* Sân bãi và dụng cụ tập luyện:
Sân bãi, dụng cụ TDTT là phương tiện tập luyện của học sinh tham gia
hoạt động TDTT. TDTT càng phát triển thì tính hiện đại, khoa học về sân bãi,
dụng cụ càng phát triển và đa dạng.
Dụng cụ sân bãi TDTT là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả
tập luyện, nâng cao thành tích, mặt khác ảnh hưởng trực tiếp tới thể lực học
sinh.
1.5. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở VIỆT NAM:
Trong nhiều năm qua, Nhà nước luôn luôn phát động phong trào chăm
sóc sức khỏe cho học sinh đã thu được một số kết quả nhất định, nhưng vẫn
còn hạn chế so với yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng đất nước trong
giai đoạn hiện nay có nhiều nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ yếu là vấn đề tư tưởng văn hóa, là quan trọng còn
TDTT chỉ là vấn đề thứ yếu “đầu óc ngu si tứ chi phát triển”.
- Quan niệm về “giáo dục tồn diện” chưa được hiểu đúng và vì vấn đề
học văn hóa ngày càng nặng cho học sinh, nhất là lý thuyết làm cho học sinh
không còn thời gian để tham gia các hoạt động TDTT ngồi giờ và cả trong giờ
học, học sinh chỉ học thể dục là để đối phó mà thôi, điều kiện cơ sở vật chất
làm ảnh hưởng một phần đến tinh thần và thái độ tập luyện của học sinh.
16
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để giải quết các nhiệm vụ trên, chúng tôi áp dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
phất cờ đến diểm người chạy chạm dây đích (30 mét). Kết quả đo được tính
bằng giây. Mỗi học sinh thực hiện 2 lần và lấy lần chạy có thành tích tốt nhất.
Người kiểm tra được nghỉ đầy đủ giữa 2 lần chạy.
2.1.3.2. Bật xa tại chỗ (cm):
- Mục đích: Dùng để đánh giá sức mạnh bột phát của các nhóm cơ chi
dưới, cơ lưng.
- Dụng cụ sân bãi: Thước dây bằng sắt, đơn vị tính bằng centimet, hố cát,
giấy bút ghi chép.
15m
30m
Ñieåm phaát côø Ñích
18
- Phương pháp kiểm tra và công nhận thành tích: Người thực hiện đứng
sau vạch giậm nhảy, hai châm rộng khoảng bằng vai, 2 tay để thả lỏng, hơi
khuỵu gối, sau đó hai tay vung lên cao, xuống dưới, ra sau để tạo đà và bật
nhảy về phía trước càng xa càng tốt, rơi hai chân xuống hố cát và đổ người về
phía trước (không đổ hoặc bước về phía sau). Thành tích được tính là khoảng
cách từ vạch giậm nhảy đến điểm gót chân chạm đất gần vạch giậm nhảy
nhất. Người kiểm tra được thực hiện 2 lần, lấy thành tích ở lần bật xa nhất.
Người kiểm tra được nghỉ đầy đủ giữa 2 lần bật.
2.1.3.3. Chạy 60 mét xuất phát cao :
- Mục đích: Dùng để đánh giá sức mạnh – tốc độ.
- Dụng cụ sân bãi: Đường chạy đất nện, đồng hồ bấm giờ điện tử Casio
(Nhật) có độ chính xác 1/100 giây, cờ, giấy bút ghi chép, ván phát lệnh.
- Phương pháp kiểm tra và công nhận thành tích: Người được kiểm tra
đứng sau vạch xuất phát, chân thuận đứng sau, người hơi đổ về trước, khi có
lệnh chạy (Ván phát lệnh) người được kiểm tra nhanh chóng xuất phát chạy
nhanh về đích. Thành tích được tính từ vạch xuất phát đến điểm đích (60m).
Kết quả tính bằng giây, mỗi học sinh chỉ chạy một lần.
2.1.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm :
X
): Trung bình cộng là tỷ số giữa tổng lượng trị
số các cá thể với tổng số các cá thể của đối tượng quan sát, được tính theo
công thức:
1
n
i
i
X
n
X
=
=
∑
Trong đó: ∑: là ký hiệu tổng.
20
X
: là giá trị trung bình
X
i
: là giá trị quan sát thứ i.
n : là tổng số cá thể được quan sát.
- Độ lệch chuẩn (
δ
): Độ lệch chuẩn nói lên mức độ phân tán hay tập
trung của các trị số X
i
xung quanh giá trị trung bình, được tính theo công thức
(khi n
≥
= ×
Trong đó: V% là hệ số biến thiên.
- Sai số tương đối (
ε
): Chỉ số ε là chỉ số đánh giá về tính đại diện của số
trung bình mẫu đối với số trung bình tổng thể.
05
x
t
x
δ
ε
×
=
Trong đó:
x
δ
là sai số chuẩn của số trung bình và được tính theo công
thức:
21
x
x
n
δ
δ
=
t
05
: giá trị giới hạn chỉ số t – student ứng với xác suất P = 0.05.
- Nhịp độ tăng trưởng (W): Nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu là tỷ lệ
n n
δ δ
−
=
+
Trong đó:
1 2
,x x
: là giá trị trung bình của hai tập hợp mẫu tương ứng 1 và 2
1 2
,n n
: là các số cá thể được quan sát của hai tập hợp mẫu tương ứng 1 và
2
22
2.2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU:
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Là các bài tập đã được chọn lựa và đưa vào thực nghiệm cho nhóm 50
em học sinh được chọn để thực nghiệm nhằm đánh giá sự phát triển sức mạnh
tốc độ cho nam học sinh lớp 8 trường trung học cơ sở Minh Thành – huyện
Chơn Thành – tỉnh Bình Phước.
2.2.2. Khách thể nghiên cứu:
Sau khi xác định được các nhiệm vụ nghiên cứu, căn cứ vào thời gian và
chương trình học tập của các em học sinh lớp 8 Trường THCS Minh Thành –
huyện Chơn Thành – tỉnh Bình Phước. Đề tài đã chọn 100 em nam học sinh
Trường THCS Minh Thành – huyện Chơn Thành – tỉnh Bình Phước (lứa tuổi
14) chia làm 2 nhóm gồm 50 em nhóm thực nghiệm và 50 em nhóm đối
chứng.
2.2.3. Địa điểm nghiên cứu:
- Trường Đại học Sư phạm TDTT Tp. Hồ Chí Minh.
- Trường THCS Minh Thành – huyện Chơn Thành – tỉnh Bình Phước.
5
Viết chương phương pháp
và tổng quan
1-30/6/2008 Hồng - Hậu
Trường ĐHSP
TDTT TP. HCM
6 Viết sơ thảo luận văn 1-15/7/2008 Hồng - Hậu
Trường ĐHSP
TDTT TP. HCM
7 Trình thầy hướng dẫn. 16-30/7/2008 Hồng - Hậu
Trường ĐHSP
TDTT TP. HCM
8
Hồn chỉnh luận văn, viết
phần tóm tắt.
1-10/8/2008 Hồng - Hậu
Trường ĐHSP
TDTT TP. HCM
9
Nộp luận văn và báo cáo
trước hội đồng khoa học
20/8/2008 Hồng - Hậu
Trường ĐHSP
TDTT TP. HCM
24
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. NGHIÊN CỨU NHỮNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC
ĐỘ Ở NỘI DUNG CHẠY 60M CHO NAM HỌC SINH LỚP 8 TRƯỜNG
THCS MINH THÀNH – HUYỆN CHƠN THÀNH – TỈNH BÌNH PHƯỚC:
- Thường xuyên sử dụng: 3 điểm
- Có sử dụng: 2 điểm
- Ít sử dụng: 1 điểm
Vấn đề đặt ra là lựa chọn những test nào qua kết quả phỏng vấn? Theo
những nhà nghiên cứu đi trước, những test được lựa chọn là những test có sự
tán đồng ít nhất từ 70 điểm trở lên ở mức thường xuyên sử dụng. Thống nhất
với quan điểm đó ở mức tán đồng thường xuyên sử dụng, chúng tôi chọn
được 03 test đánh giá sức mạnh tốc độ ở nội dung chạy 60m có số điểm