i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ
DU
ĐỖ TUẤN CƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
ĐỖ TUẤN CƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ
KỸ THUẬT ĐÒN TAY CHO NAM VĐV KARATEDO
ĐỘI TUYỂN QUỐC GIA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
ĐỖ TUẤN CƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ
KỸ THUẬT ĐÒN TAY CHO NAM VĐV KARATEDO
ĐỘI TUYỂN QUỐC GIA
Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Mã số: 62.14.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS Dương Nghiệp Chí
2. TS Nguyễn Thế Truyền
HÀ NỘI - 2014
iii
1.2.5 Hệ thống kỹ thuật đòn tay trong thi đấu Kumite 23
1.3 Đặc điểm phát triển sức mạnh tốc độ trong môn Karatedo 25
1.3.1 Đặc điểm phát triển tố chất thể lực trong môn Karatedo 25
1.3.2 Đặc điểm về phát triển tố chất sức mạnh tốc độ trong môn Karatedo 32
1.3.3 Đặc điểm về tố chất sức mạnh tốc độ trong thi đấu đối kháng môn
Karatedo
35
1.4 Nghiên cứu có liên quan 41
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 47
2.1
Đối tượng nghiên cứu 47
2.2
Phương pháp nghiên cứu 47
2.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu 47
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 48
2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 48
2.2.4 Phương pháp quan sát sư phạm 52
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sinh cơ 52
vi
2.2.6 Phương pháp thực nghiệm sự phạm 58
2.2.7 Phương pháp ứng dụng toán thống kê 58
2.3 Tổ chức nghiên cứu 59
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 59
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 60
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 61
3.1
Nghiên cứu thực trạng huấn luyện phát triển SMTĐ kỹ thuật
đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia
61
3.1.1
113
Kiến nghị
115
Danh mục các công trình công bố liên quan đến luận án
116
Tài liệu tham khảo
117
Phụ lục
II. ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU VÀ ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG
I. CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN:
CLB Câu lạc bộ
ĐC Đối chứng
HCM Hồ Chí Minh
HCV Huy chương vàng
HLV Huấn luyện viên
HSTQ Hệ số tương quan
HSTC Hệ số tin cậy
NXB Nhà xuất bản
SMTĐ Sức mạnh tốc độ
TDTT Thể dục thể thao
TN Thực nghiệm
TT Thứ tự
VD Ví dụ
VĐV Vận động viên
vii
cm Centimet
g Gram
Kg Kilogram
KG Kilogram lực
21. 3.21
So sánh sự tăng trưởng các thông số kỹ thuật đòn tay của nam
VĐV Karatedo ĐTQG qua các giai đoạn thực nghiệm
Sau trang
106
22. 3.22
Kết quả đánh giá tổng hợp SMTĐ đòn tay của nam VĐV
Karatedo đội tuyển quốc gia sau quá trình thực nghiệm
110
23. 3.23
Kết quả kiểm tra các thông số kỹ thuật đánh giá SMTĐ kỹ thuật
đòn tay của nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia sau quá trình
thực nghiệm
110
24. 3.24
Hiệu quả các kỹ thuật đòn tay trong thi đấu Kumite của nam
VĐV Karatedo sau thực nghiệm (n=70
Sau trang
111
Hình Tên hình
26. 2.1 Vật chuẩn 3D 55
27. 2.2 Hệ thống tọa độ 3D trên máy tính 55
Biểu đồ Tên biểu đồ
28. 3.1
Độ tăng trưởng SMTĐ đòn tay của nam VĐV Karatedo ĐTQG
qua hai lần thực nghiệm
Sau trang
105
29. 3.2
Sự tăng trưởng thông số đòn tay trước trong kỹ thuật tấn công của
viên (VĐV) trong việc vươn tới các thành tích kỷ lục, cũng như thúc đẩy hoạt
động khoa học thể thao nhằm tìm ra những phương pháp, biện pháp, yếu tố mới
thúc đẩy, khai thác tối đa khả năng của con người trong việc vươn tới các thành
tích đó. Để thực hiện mục tiêu đó, ngành thể dục thể thao cũng đã đưa ra những
quan điểm, giải pháp hữu hiệu để đổi mới công tác đào tạo tài năng thể thao, chú
ý tập trung phát triển một số môn thể thao mũi nhọn để tham gia các đại hội thể
dục thể thao quốc tế và khu vực, trong đó có môn Karatedo.
Ở nước ta, so với các môn thể thao khác, Karatedo mặc dù được hình
thành muộn hơn song đã nhanh chóng phát triển rộng khắp các tỉnh, thành phố
như Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và hơn thế nữa đã có những
đóng góp không nhỏ về thành tích thi đấu tại các đấu trường quốc tế. Nhưng, thật
đáng tiếc, tỷ lệ đạt thành tích giữa nam và nữ chưa được đồng đều, đa số vẫn là
các VĐV nữ, tuy vậy để tìm ra được nguyên nhân đích thực không phải dễ dàng.
Trong hệ thống đào tạo VĐV Karatedo nói riêng, cũng như VĐV các môn thể
thao khác nói chung, việc nâng cao thành tích thể thao phụ thuộc rất nhiều vào
các yếu tố tác động như lối sống, điều kiện, môi trường, đào tạo Ngoài việc
hoàn thiện trình độ kỹ, chiến thuật và rèn luyện ý chí, VĐV còn cần phải chuẩn
bị đầy đủ các tố chất thể lực, mà một trong những tố chất thể lực quan trọng đó
là tố chất sức mạnh. Trong Karatedo, tố chất sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh tốc
độ đóng một vai trò rất quan trọng - và cũng là một trong những tiêu chuẩn ghi
điểm trong thi đấu Kumite và Kata.
Trong huấn luyện Karatedo ở nước ta đã có một số nghiên cứu về các
mặt: thể lực, kỹ thuật, tâm lý cho VĐV như các tác giả Vũ Sơn Hà, Nguyễn
Đương Bắc, Trần Tuấn Hiếu, Cao Hoàng Anh, Các tác giả trên đã nghiên cứu
các bài tập phát triển các tố chất thể lực, kỹ thuật cũng như các khả năng vận
động cho các lứa tuổi khác nhau. Về tâm lý cho tác giả Nguyễn Thị Tuyết nghiên
cứu một số chỉ số tâm lý trong VĐV Karatedo. Tác giả Nguyễn Thế Truyền
nghiên cứu kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện cho VĐV môn Karatedo đội
tuyển quốc gia. Tác giả Đặng Thị Hồng Nhung nghiên cứu về trình độ thể lực
chuyên môn của nữ VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề về sử
thuật phát triển SMTĐ đòn tay vào các buổi tập sẽ góp phần nâng cao năng lực
SMTĐ và kỹ thuật đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Xu thế phát triển Karatedo trên thế giới và ở Việt Nam:
1.1.1. Lịch sử phát triển Karatedo trên thế giới:
1.1.1.1. Lịch sử Karatedo truyền thống:
Lịch sử của môn Karatedo truyền thống được xuất hiện bắt đầu từ võ
thuật Te (bàn tay) phát triển ở Okinawa, ban đầu đây chỉ là một hình thức mang
tính tự vệ. Tuy nhiên, qua thời gian dài thông thương giữa Okinawa và Trung
Quốc, nền võ thuật Okinawa bị ảnh hưởng bởi môn phái Kenpo của Trung Quốc
ở một vài điểm trong quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này
mới chỉ mang tính truyền miệng và chưa được sử sách ghi chép một cách chính
thức, cũng không thể chắc chắn khi cho rằng Kate-Te được đặt tên đầu tiên ở
Okinawa. Song không thể phủ nhận rằng nó đã phát triển cách đây xấp xỉ 500
năm, khi người cai trị của triều đại Vua Shoha đã thống nhất lãnh thổ sau nhiều
thập kỷ xảy ra chiến tranh và đã ban hành một sắc lệnh cấm sử dụng vũ khí trên
hòn đảo này. Theo những ghi chép đã được quy ước từ trước thì một điều luật
tương tự cấm sở hữu và sử dụng vũ khí đã được ban hành lại và có hiệu lực bởi
phe cánh của Satsuma, người mà đã xâm chiếm hòn đảo Okinawa vào đầu những
năm 1600 và đưa nó ra dưới điều luật của một viên tướng người Nhật. Do vậy,
trong môi trường này karate đã phát triển như là một hình thức chiến đấu không
vũ khí để bảo vệ bản thân và đất nước của mình, tuy nhiên việc truyền bá và tập
luyện đều trong vùng bí mật.
Sau đó là sừ ra đời của Karate Okinawa do thầy Funakoshi Gichin mang
đến vào năm 1868. Ông đã cống hiến cả đời mình để đẩy mạnh các giá trị của
nền võ thuật, truyền bá con đường của Karate-jutsu tới Nhật Bản, và nó đã được
lan truyền khắp nước Nhật. Vào năm 1949, những môn sinh của ông đã thành
lập một hiệp hội về việc đẩy mạnh karate; họ đặt tên nó là Nihon Karate Kyokai,
hay còn gọi là Hiệp hội Karate Nhật Bản, và đó là bước đi ban đầu của JKA. Và
đây là Hiệp hội Karatedo lớn nhất và có uy tín nhất Nhật Bản, nó đại diện cho
Paris. Tại Đại hội này, những người Đại diện của các Liên đoàn đã nhận thấy
rằng cần phải có một Ban Chấp hành, do đó Đại hội đã thành lập và bầu ra Ban
điều hành, do ông Jacques Delcourt (người Pháp) làm chủ tịch và ông đã điều
hành cho đến năm 1997 (trong 34 năm), 03 Phó Chủ tịch là ông MM. Briff
(người Đức), Cherix (Thụy Sỹ); Fannoy (Bỉ) và Tổng thư ký là ông M. Sebban
(người Pháp). Trong số những người trong Ban điều hành, chỉ có duy nhất ông
Delcourt tiếp tục công việc và tâm huyết của mình, cũng là người khởi xướng
thành lập lên tổ chức Karatedo Thế giới sau này.
Trong Đại hội năm 1964 đã nghiên cứu các vấn đề, như đề cập tới mở
lớp trọng tài quốc tế, vấn đề truyền thông báo chí, các trận đấu quốc tế, và các
lớp học đầu tiến đã được các chuyên gia Nhật Bản tư vấn với mục đích mong
muốn được tổ chức giải Vô địch Châu Âu.
Đại hội Karatedo lần thứ 3 được tổ chức vào ngày 21 tháng 11 năm 1965,
vẫn tại Paris. Có 10 quốc gia tham dự (với 03 thành viên mới đó là: Áo, Bồ Đào
Nha và Ba Lan). Tại Đại hội này có sự tham gia của các chuyên gia Nhật bản
phụ trách về mảng chuyên môn đó là 04 chuyên gia: Kono, Yamashima, Toyama
và Suzuki.
Vấn đề quan trọng nhất của Đại hội lần này đó là đạt được các thỏa thuận
và sự đồng thuận và thống nhất tên của tổ chức là EKU (Liên hiệp Karatedo
Châu Âu). Đó là họ đã đồng ý không điều kiện với những phương thức điều
hành của Liên hiệp và tiếp tục theo sự điều hành của ủy ban Điều hành do ông
M. Delcourt làm chủ tịch. Về bản chất thì không có sự thay đổi nào so với năm
1964 (ngoại trừ sự ra đi của một vài người trong các ban Điều hành. Tại Đại hội
này cũng đưa ra các quyết định về ngân sách tài chính, các điều luật trọng tài, và
một giải Cúp quốc tế ở Cannes.
Đại hội Châu Âu lần thứ tư được tổ chức vào năm 1966 đây là giải Vô
địch Châu Âu lần đầu tiên được tổ chức vào ngày 7/5/1966 tại Paris với các nội
dung: đồng đội (5 VĐV + 1 VĐV dự bị); và các nội dung cá nhân: với 4
VĐV/01 quốc gia không kể hạng cân và hoàn toàn chỉ có nam giới tham gia thi
đấu (mà phải đến 10 năm sau nữ mới có mặt tham gia thi đấu tại các giải của
5/1970, đây là năm đặc biệt quan trọng đối với Karatedo, khi Liên đoàn Karate
Thế giới (WKF – World Karate Federation) được thiết lập và Giải Vô địch thế
giới lần đầu tiên đã được tổ chức vào Tháng 10 năm 1970 tại Tokyo, Nhật Bản.
Năm 1970 có một sự đồng thuận đã được ký kết mang tính lịch sử giữa
hai nhà lãnh đạo (tổ chức Karatedo Nhật bản và Liên đoàn Karatedo Châu Âu)
hợp tác cùng ký kết hợp tác cùng nhau phát triển Karatedo lên khắp thế giới. Và
tổ chức mới này được gọi là WUKO (World Union Karate Organization), ông
Delcourt vẫn là chủ tịch và ông Sasakawa (Nhật) là Chủ tịch danh dự. Đây là cái
mốc khởi đầu sự nghiệp của Karatedo trên toàn thế giới.
Vào năm 1975, kỳ vọng đưa Karatedo vào Olympic, với sự hỗ trợ của Hiệp hội Karatedo Nhật
bản (JKA) giải Cúp Thế giới IKF (International Karatedo Federation – Liên đoàn Karatedo quốc tế) được tổ chức ở
Mỹ, và liên tục được tổ chức thêm được 3 lần nữa. Tuy nhiên, để đạt được kỹ thuật đích thực và tinh thần
Karatedo trong thi đấu, thì phải đến giải Vô địch Karate Cup Shoto thế giới được tổ chức tại Nhật Bản vào năm
1985 mới thể hiện được một phần linh hồn của của Karatedo, và đây cũng là một sự chứng nhận Karate trở thành
môn Võ thuật Quốc tế. Giai đoạn này chứng minh cho sự phát triển ngoạn mục của môn Karatedo trên toàn thế
giới.
Năm 1994 các liên đoàn Karatedo các nước trên thế giới đã họp và thống
nhất đổi tên Tổ chức liên hiệp Karatedo Thế giới (WUKO) thành Liên đoàn
Karatedo thế giới (WKF) với hơn 150 quốc gia trong đó có Việt Nam. Cùng năm
này đội tuyển Karatedo Việt Nam cũng đã tham dự giải Vô địch thế giới lần thứ
2 được tổ chức tại Kota Kinabalu, Malaysia [68].
Từ năm 1994 đến nay WKF liên tục phát triển và ngày càng hoàn thiện
hệ thống tổ chức, luật thi đấu nhằm hướng tới có mặt tại Olympic - một đấu
trường cao nhất hành tinh.
1.1.2. Lịch sử phát triển Karatedo ở Việt Nam:
Ở Việt nam môn Karatedo được phát triển rất mạnh do tính khoa học và
hiệu quả tập luyện của nó cộng với chủ nghĩa anh hùng dân tộc và tinh thần
thượng võ của người dân Việt Nam. Ở Thành phố Hồ Chí Minh phát triển hệ
phái Kyokyushinkar do võ sư Hồ Cẩm Ngạc truyền bá vào khoảng năm 1950. Ở
Huế phát triển hệ phái Goju do một người Nhật tên là Chojin Suzuki truyền bá,
phát triển mạnh mẽ của phòng trào tập luyện và thi đấu Karatedo trong cả nước.
Để đáp ứng cho yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn và nhằm cung cấp đội ngũ
cán bộ, giáo viên, huấn luyện viên, trọng tài…Tại Việt Nam, Karatedo là một
môn học đã được đưa vào giảng dạy tại các trường đại học chính quy chuyên
ngành giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao.
Karatedo còn là môn học đào tạo chuyên sâu hệ chính quy, hệ tại chức tại
các lớp học Chính khóa và ngoại khóa ở các trường Đại học Thể dục Thể thao -
Đại học sư phạm - Đại học Nông Lâm các trường cao đẳng TDTT nhằm trang
bị cho sinh viên những kiến thức lý luận chuyên ngành TDTT, năng lực tập
luyện phát huy về chuyên môn Karatedo, với những phương pháp giảng dạy,
huấn luyện, đào tạo, tổ chức, quản lý và trọng tài, tạo tiền đề để phát triển các
Câu lạc bộ Karatedo trên toàn quốc.
1.1.3. Xu thế phát triển Karatedo hiện đại:
Hiện nay trình độ Karatedo thi đấu trên Thế giới đã phát triển đến đỉnh cao
(mặc dù chưa được đưa vào Olympic), nhiều chuyên gia, HLV từ kinh nghiệm
huấn luyện thành công trong môn Karatedo đã cho rằng đặc trưng chủ yếu
trong kỹ thuật, chiến thuật của VĐV Karatedo là: Nhanh, mạnh, khéo léo và
chuẩn xác với sự khống chế cao khi va chạm vào mục tiêu, hơn nữa những mục
tiêu lại luôn biến hóa khôn lường chỉ trong một hiệp đấu duy nhất. Đây là con
đường tất yếu giành thắng lợi trong thi đấu Karatedo đỉnh cao.
Nhanh: trong môn Karatedo chính là tốc độ ra đòn (tấn công và phản
công) trong Karatedo được các nhà chuyên môn và khoa học đánh giá rất cao về
sự biến hóa và tốc độ của nó, thậm chí nếu không tập trung cao thì khó quan sát
được đòn đánh diễn ra như thế nào. Điều này cho thấy tốc độ đòn rất nhanh và
chớp nhoáng. Kỹ thuật dứt điểm nhanh trong thời gian ngắn nhất (có thể chưa
đến 1 giây). Nhanh còn biểu hiện qua phản ứng ra đòn và vào đòn, tần số động
tác, di chuyển và né tránh đòn.
Mạnh: Sức mạnh trong Karatedo thường được thể hiện ở sự kết hợp với
sức nhanh, như sự tung đòn với một tốc độ và sức mạnh tối đa nhưng khi chạm
mục tiêu phải có sự khống chế, đây là khả năng tự điều khiển thần kinh – một
biệt là cập nhật và tận dụng tối đa sự hiểu biết về luật trong thi đấu. Có nắm
vững luật, VĐV mới phát huy được hiệu quả cũng như những ưu thế của mình
để giành chiến thắng. Do vậy, một VĐV đỉnh cao, muốn có thành tích cao không
thể không nắm rõ luật thi đấu. Mặc dù, chỉ xoay quanh các kỹ thuật theo các tiêu
chí ở trên, nhưng hàng năm Liên đoàn Karatedo đều có sự điều chỉnh bổ sung
các Điều luật để cho phù hợp cũng như ngắn gọn và rõ ràng hơn để có thể từng
bước tham gia vào Đại hội thể thao Olympic trong tương lai.
1.2.Một số đặc điểm cơ bản trong huấn luyện kỹ thuật môn Karatedo:
1.2.1. Đặc điểm kỹ thuật trong thi đấu thể thao:
1.2.1.1. Một số khái niệm:
Kỹ thuật của bài tập thể lực (tức kỹ thuật thể thao) là cách thức sắp xếp,
tổ chức và thực hiện hệ thống các động tác để giải quyết nhiệm vụ vận động,
hoặc nói gọn hơn, đó là những cách thức để giải quyết nhiệm vụ vận động [36], [49].
Những cách thức giải quyết nhiệm vụ vận động hợp lý và có hiệu quả
cao nhất được gọi là kỹ thuật thể thao.
Kỹ thuật thể thao luôn được đổi mới và hoàn thiện. Sự tìm tòi, khám phá
khoa học về các quy luật vận động của cơ thể, sự tiến bộ về trình độ thể lực của
VĐV, sự hoàn thiện các phương pháp giảng dạy, huấn luyện, sự đổi mới các
thiết bị, dụng cụ, sân bãi thể thao đang là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự ra
đời các kỹ thuật thể thao mới trong hầu hết các môn thể thao.
Mỗi loại hình bài tập có những yêu cầu chuyên biệt về mặt kỹ thuật thể
thao. Xét theo các yêu cầu chuyên biệt đó, có thể phân tích chia các môn thể thao
nhành ba nhóm:
Nhóm thứ nhất: Gồm các môn thể thao có quy định chặt chẽ cách thức
thực hiện động tác, như các môn thể dục dụng cụ, nhào lộn, và một số môn võ
thuật ở nội dung biểu diễn (kata trong môn Karatedo);
Nhóm thứ hai: Phần lớn gồm các môn vận động có chu kỳ, trong đó phụ
thuộc vào yêu cầu đạt thành tích ở mức tối đa, như các môn cử tạ, điền kinh, bơi,
Nhóm thứ ba: Gồm tất cả các môn thi đấu đối kháng và các môn bóng.
Đó là những môn đòi hỏi sự biến hoá nhiều trong chiến thuật, kỹ thuật thực hiện
Đặc tính không gian-thời gian: Đặc tính này biểu hiện bằng tốc độ
chuyển động. Đó là độ nhanh của sự chuyển dịch vị trí trong không gian của vật
thể hay một điểm trong một đơn vị thời gian [49]. Trong các môn thể thao, đặc
biệt là các môn đòi hỏi SMTĐ, phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tạo được tốc độ
cao trong động tác của một số bộ phận cơ thể (thí dụ, động tác giậm nhảy trong
các môn nhảy, động tác ra đòn trong các môn võ).
Đặc tính về lực: Mỗi một động tác được thực hiện đều là kết quả của sự
tác động qua lại giữa các lực tạo thành động tác đó. Các lực đó gồm lực bên
trong và lực bên ngoài [49].
Lực bên trong của động tác bao gồm lực kéo của cơ khi co, lực đàn hồi
và độ trơn nhờn của cơ, lực phản hồi do sự tác động qua lại giữa các bộ phận cơ
thể (phản lực).
Lực bên ngoài là những lực tác động lên cơ thể từ phía ngoài, bao gồm
trọng lực của bản thân cơ thể, phản lực điểm tựa, lực ma sát của môi trường
(nước, không khí ) và các lực tác động của người ngoài (đối thủ, người cùng
tập ), của dụng cụ.
Đặc tính thời gian của động tác thể hiện ở thời gian kéo dài và nhịp độ
của động tác.
1.2.2. Đặc điểm kỹ thuật trong môn Karatedo:
Khái niệm về kỹ thuật trong môn Karatedo: Thuộc loại hình môn kỹ năng
giao đấu đối kháng trực tiếp, với các quy định về giao tiếp, lễ nghĩa, giáo dục
phẩm chất ý chí; Trong thực hiện kỹ thuật với yêu cầu đòi hỏi cao về tư thế,
động tác chính xác. Là một môn thể thao được đưa vào hệ thống thi đấu bao gồm
Kata (quyền thuật) và Kumite (đối kháng) với rất nhiều nội dung phong phú và
đa dạng.
Về bản chất kỹ thuật Karatedo cũng như kỹ thuật của các môn võ khác, là
nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong tấn công và phòng thủ. Về tổng quát, kỹ thuật
Karatedo gồm có 4 loại khác nhau đó là: chặn đỡ, tấn công, quăng quật và chộp
bẻ, được phân thành 5 loại dựa theo các bộ phận khác nhau của cơ thể như kỹ
thuật tay, kỹ thuật chân, các kỹ thuật quật ngã (quăng, quật, chộp, bẻ), các thế
và trong thi đấu thể thao. Những người chủ trương phòng thủ cũng như những
VĐV thể thao đều tận dụng đến tấn pháp để tìm dịp tốt tung ra những đòn đá
hoặc đòn đấm thích thợi. Trong Karatedo, các thế tấn đều tùy thuộc vào động tác
của tay và chân. Chính thế đứng của cơ thể sẽ quyết định sức mạnh của một đòn
đánh hoặc một đòn đỡ. Nếu thế đứng vững và thăng bằng thì các động tác sẽ rất
mạnh và có hiệu quả. Một số thế đứng tấn cho phép người tập có thể dễ dàng
tiến tới trước để tấn công hoặc lùi nhanh ra phía sau để tránh né. Một số thế khác
giúp người tập có thể tung ra đòn nhanh, mạnh. Các thế tấn không chỉ sử dụng
trong giao đấu đối kháng, chúng còn giúp ổ định thể lực khi người tập bị mệt
hoặc căng thẳng.
Trong Karatedo, có nhiều hệ phái mỗi một hệ phái lại có những đặc trưng
khác nhau, với mỗi thế tấn đều có mục đích sử dụng khác nhau, nhưng tựu chung
đều có những nguyên lý chung và được phân thành 3 nhóm chính với các thế
đứng tự nhiên, thế đứng kéo căng ra ngoài và thế đứng kéo căng vào trong [11], [24],
[36].