Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh việt nam (TT) - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ CÔNG THƯƠNG

VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI

TRỊNH ANH TUẤN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI
PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM

Chuyên ngành: Thương mại
Mã số: 62.34.10.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Hà Nội - 2015


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI - BỘ CÔNG THƯƠNG

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Lê Danh Vĩnh
2. TS. Trịnh Thị Thanh Thủy

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện
Họp tại Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương
Địa chỉ: 46 Ngô Quyền - Hà nội.
Vào hồi .... giờ .... ngày .... tháng ..... năm 201....


doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Ở ngoài nước, các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách và pháp luật cạnh
tranh vô cùng phong phú và đa dạng, được thực hiện bởi các cá nhân, tổ chức khác nhau. Có
nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề cụ thể về chính sách cạnh tranh, chủ yếu là phân
tích về cách tiếp cận trong việc xây dựng chính sách cạnh tranh, các nguyên tắc xây dựng
chính sách cạnh tranh và các hành vi và đối tượng mà chính sách cạnh tranh điều chỉnh...
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình khoa học đã công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của
đề tài luận án, xác định những vấn đề đã được các nhà khoa học nghiên cứu, những vấn đề
chưa được nghiên cứu để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu.
- Đánh giá tổng quan pháp luật cạnh tranh, thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam.
- Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật cạnh tranh và hiệu quả thực thi pháp
luật cạnh tranh ở Việt Nam.
- Phân tích đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ khi
Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực đến nay, từ đó rút ra những
bất cập cần được hoàn thiện.
- Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật ở Việt Nam trong thời gian tới.


4

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của
cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

cho đánh giá thực trạng về nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh
của Việt Nam, từ đó làm cơ sở đề xuất trong luận án.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬTCẠNH TRANH
1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và các hình thái cạnh tranh
a. Khái niệm cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện và tồn tại như
là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, phản ánh năng lực phát triển của
kinh tế thị trường. Với cách tiếp cận này, Từ điển Luật học cũng giải thích “cạnh tranh là sự
đua tranh về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị


5

trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất về phía mình khách
hàng, thị trường và thị phần của một thị trường qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn”.
1.1.2. Khái niệm và lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh
a. Khái niệm pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh, theo cách hiểu phổ biến nhất trong giới nghiên cứu về lĩnh vực
này trên thế giới, bao gồm tất cả các quy định của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến
hành vi kinh doanh của doanh nghiệp và cấu trúc thị trường.
b. Lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh của các nước ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu của nền kinh tế.
Cùng với quá trình phát triển, pháp luật cạnh tranh đã được liên tục sửa đổi để phù hợp với
thực tiễn. Luật Cạnh tranh có thể được gọi theo nhiều cách khác nhau (ví dụ: Luật cạnh
tranh - Competition Law của Anh, Luật chống độc quyền- Anti monopoly Act của Nhật
Bản, Luật thương mại lành mạnh – Fair Trade Law của Đài Loan…) nhưng tất cả đều có
một mục đích chung là duy trì và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cho phép
các thực thể kinh tế có cơ hội bình đẳng cạnh tranh cũng như tiếp cận thị trường. Bảo vệ


6

1.3. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của một số nước và
bài học đối với Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
a. Về phát triển và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh
Luật chống độc quyền của Nhật Bản có tên chính thức là “Luật về chống độc quyền
tư nhân và đảm bảo giao dịch công bằng” (AMA), được ban hành vào năm 1947 dưới sự
chiếm đóng của quân Đồng minh sau Chiến tranh thế giới thứ hai như một luật vĩnh cửu
(không giới hạn thời gian hiệu lực) nhằm tạo lập trật tự mang tính dân chủ cho nền kinh tế
Nhật Bản.
Kể từ năm 1947 đến nay, Luật AMA đã được Ủy Ban Thương mại lành mạnh
(JFTC) đề xuất sửa đổi nhiều lần cụ thể qua các năm:
- 1991 sửa đổi Luật Chống độc quyền theo hướng tăng mức phạt tiền hành vi vi
phạm.
-1992: sửa đổi Luật Chống độc quyền trong đó đưa các quy định về áp dụng các chế tài
hình sự vào các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh như phạt tù đói với lãnh đạo các doanh
nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
- 2005 Sửa đổi Luật Chống độc quyền (AMA) theo hướng: Tăng mức phạt tiền; Áp
dụng cơ chế khoan dung; Áp dụng các biện pháp bắt buộc đối với buộc tội Hình sự; Sửa đổi
Thủ tục tiến hành phiên điều trần;
b. Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan cạnh tranh
Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC, sau đây gọi là Ủy ban) được thành
lập như là một cơ quan quản lý của Chính phủ để đạt được mục tiêu của Luật Chống độc
quyền. Bên cạnh Luật Chống độc quyền, Uỷ ban còn thi hành Luật chống tặng phẩm phi lý
và trưng bày gây nhầm lẫn, Luật chống thanh toán chậm trong hợp đồng gia công phụ đối
với người sản xuất phụ, đây là những luật đặc biệt bổ sung cho Luật Chống độc quyền. Uỷ
ban có vị trí như là một cơ quan cấp bộ thuộc trực thuộc Chính phủ.
c. Thực tiễn công tác tổ chức điều tra và xử lý các hành vi vi phạm

được sự khai báo của tổng cộng 105 công ty trong đó có tập đoàn công nghiệp nặng
Mitsubishi. Trong năm tài chính 2009, có 85 vụ JFTC nhận được thông báo đúng sự thật về
hành vi vi phạm, và đến cuối tháng 3 năm 2010 là 349 vụ.
- Đẩy mạnh các hoạt động quan hệ công chúng đạt hiệu quả cao
Trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay, JFTC đã luôn đề cao và đẩy mạnh hoạt
động tuyên truyền về chính sách và Luật Chống độc quyền, quan hệ công chúng, kêu gọi sự
đồng thuận của toàn xã hội. Đây là hoạt động hoàn toàn không mang tính hình thức như
hoạt động tuyên truyền, đào tạo thông thường mà là hoạt động đi vào thực chất, chi tiết
nhằm đảm bảo tính minh bạch trong thi thành pháp luật, cung cấp thông tin về chính sách,
nắm bắt quan điểm của người dân và tạo sự đồng thuận trong xã hội, từ những người dân
bình thường đến các doanh nghiệp, đến cơ quan nhà nước khác, đến cả những nhà lãnh đạo
để hiểu rõ bản chất, vai trò của Luật và tạo ý chí quyết tâm thực thi Luật.
1.3.2. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
a. Về phát triển và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh
Có thể nói, Hoa Kỳ là quê hương của Luật chống độc quyền hay pháp luật và chính
sách cạnh tranh. Các quy định chống độc quyền của Hoa Kỳ đầu tiên là Đạo luật Sherman
được thông qua năm 1890 và Đạo luật Clayton có hiệu lực vào ngày 15 tháng 10 năm 1914.
Đây được coi là hai đạo luật cơ bản cho chính sách chống độc quyền của Hoa Kỳ.
Không dừng lại ở đó, năm 1936, Luật Robinson- Patman được ban hành với những
quy định nghiêm khắc hơn trong việc xử lý các hành vi phân biệt đối xử. Ngoài ra, đạo luật
Celler-Kefauver được ban hành năm 1950, bổ sung thêm các quy định trong đạo Luật Clayton
1914, được coi là Đạo luật Chống sáp nhập. Đạo luật Celler-Kefauver là công cụ giúp Chính
phủ ngăn chặn cả các vụ sáp nhập theo chiều dọc và sáp nhập hỗn hợp có tác động hạn chế
cạnh tranh.
Năm 1976, Đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền (Hart-Scott-Rodino Antitrust
Improvement Act) được ban hành là một tập hợp các sửa đổi, bổ sung cho các luật chống
độc quyền của Hoa Kỳ, mà chủ yếu là Đạo luật Clayton. Đạo luật này bổ sung thêm các quy
định về thông báo tập trung kinh tế trước khi tiến hành sáp nhập hoặc mua lại.
b. Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan cạnh tranh
Các cơ quan tham gia xử lý vụ việc cạnh tranh ở Hoa Kỳ bao gồm Uỷ ban thương

Một điểm nổi bật và then chốt trong kinh nghiệm điều tra các vụ việc cạnh tranh của
Hoa Kỳ thể hiện ở chỗ, giống như Nhật Bản, pháp luật cạnh tranh của Hoa Kỳ cho phép các
cơ quan cạnh tranh được áp dụng quyền khám xét. Theo đó, các cơ quan cạnh tranh được
quyền điều, khám xét và thu giữ tang vật có liên quan đến các doanh nghiệp là đối tượng
điều tra. Với quyền hạn như vậy, Ủy ban Thương mại Liên bang và Cục Chống độc quyền,
Bộ Tư pháp trong quá trình điều tra sẽ dễ dàng điều động điều tra viên tiến hành khám xét
đúng lúc, đúng thời điểm nhằm thu giữ được những chứng cứ quan trọng, xác thực.
- Áp dụng Chương trình khoan dung
Hoa Kỳ là nước đầu tiên trên thế giới đưa ra chính sách khoan dung và áp dụng trong
cùng năm 1978. Chính sách này cũng được tiến hành sửa đổi một số nội dung quan trọng
vào năm 1993 cho phù hợp với thực tiễn. Theo đó, thay vì theo chương trình cũ thì doanh
nghiệp chỉ được hưởng khoan dung trong trường hợp Bộ Tư pháp chưa hề có thông tin về
vụ thông đồng hay thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và chưa tiến hành điều tra vụ việc nhưng ở
chương trình mới, doanh nghiệp vẫn có thể hưởng khoan dung nếu Bộ Tư pháp đã tiến hành
điều tra vụ việc nhưng vẫn chưa thu thập được đầy đủ các chứng cứ cần thiết buộc doanh
nghiệp đã nộp đơn phải tự thú về hành vi thông đồng của mình. Mặt khác, theo chương trình
mới, doanh nghiệp nộp đơn được hưởng cơ chế khoan dung tự động, trong trường hợp Bộ Tư
pháp chưa có thông tin gì về vụ thông đồng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thay vì phải đáp
ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết như trước kia.
- Áp dụng mức phạt mang tính răn đe
Tháng 6 năm 2004, đạo luật Sherman (15 U.S.C. § 1) của Hoa Kỳ đã bổ sung tăng
mức phạt đối với các hành vi phản cạnh tranh vi phạm Luật chống độc quyền:
+Mức phạt tối đa đối với doanh nghiệp tăng từ 10 triệu lên 100 triệu đô la Mỹ;
+ Mức mức phạt tối đa đối với cá nhân tăng từ 350 nghìn lên 1 triệu đô la Mỹ;
+ Hình sự: thời hạn phạt tù tối đa tăng từ 3 năm lên 10 năm.
- Hoạt động vận động chính sách cạnh tranh (competition advocacy)
Trong những năm qua, Cục Chống độc quyền, Bộ Tư pháp cũng như Ủy ban Thương
mại Liên bang đã và đang tăng cường các nỗ lực vận động chính sách cạnh tranh thông qua
việc thực hiện các chương trình khác nhau và các sáng kiến hướng tới củng cố thị trường và
bảo tồn phát triển kinh tế tự do và công bằng. Thực tế, thúc đẩy các nguyên tắc cạnh tranh

Tính độc lập của các cơ quan cạnh tranh trong tổ chức và hoạt động luôn luôn là mục
tiêu hàng đầu mà các nước này hướng tới xây dựng. Đây là nội dung rất quan trọng đảm bảo
cho những cơ quan này có thể thực hiện chức năng xử lý một cách công minh, vì mục tiêu
bảo vệ trật tự công cộng – cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
Minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước kể cả cơ quan cạnh tranh đang
là một đòi hỏi hết sức quan trọng. Tuy nhiên, đối với các cơ quan cạnh tranh thì đây lại là
yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều này xuất phát chính từ vai trò trong việc duy
trì trật tự cạnh tranh rõ ràng, lành mạnh. Thông tin trong thị trường phải được thông suốt.
Tính minh bạch sẽ nâng cao thêm uy tín của chính các cơ quan này.
Nhiệm vụ chính của cơ quan quản lý cạnh tranh là bảo đảm thực thi Luật cạnh tranh.
Có thể nói, luật cạnh tranh được thực thi nghiêm chỉnh đến đâu là phụ thuộc vào hiệu quả
hoạt động của chính cơ quan này. Qua nghiên cứu mô hình cơ quan cạnh tranh của một số
nước, một số chức năng, nhiệm vụ chính của cơ quan cạnh tranh như sau:
- Điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- Chống độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
- Kiểm soát quá trình sát nhập hợp nhất doanh nghiệp.
- Điều tra, xử lý các thoả thuận hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
- Thực hiện các hoạt động khác nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn trên, hầu hết các cơ quan cạnh tranh đều có hai thẩm
quyền cơ bản:
- Phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đến
môi trường cạnh tranh.
- Yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, chứng cứ trong quá
trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh.
c. Về xây dựng và phát triển các công cụ nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
- Về chức năng tiến hành khám xét thu thập chứng cứ
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, trong nhiều trường hợp việc thu thập
thông tin chứng cứ bằng các công cụ thông thường như yêu cầu cung cấp thông tin một cách
chính thống từ cơ quan cạnh tranh với các đối tượng liên không đem lại hiệu quả. Lý do là
vì các đối tượng thực hiện hành vi vi phạm thường có xu thế che dấu hoặc thậm chí là tiêu

- Tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng;
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Luật cạnh tranh quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật
về cạnh tranh.
2.2. Thực trạng hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ năm 2005
đến năm 2014
2.2.1. Thực trạng vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thực thi
pháp luật cạnh tranh Việt Nam
a. Cục Quản lý cạnh tranh
- Chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý cạnh tranh
Cục Quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc Bộ Công Thương có chức năng giúp Bộ
trưởng Bộ Công Thương thực hiện:
+ Quản lý nhà nước về cạnh tranh (thực thi Luật cạnh tranh)
+ Quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự
vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (thực thi 03 Pháp lệnh về chống bán phá giá,
chống trợ cấp và tự vệ);
+ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (thực thi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng);
+ Phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó các vụ kiện
trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ.


11

- Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay được quy định theo Quyết định
số 848/QĐ-BCT ngày 05 tháng 02 năm 2013 của Bộ Công Thương.
Hình 1. Cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh
Cục Quản lý cạnh tranh
Văn phòng Cục

từ đơn khiếu nại của doanh nghiệp và 5/8 vụ việc do Cơ quan QLCT tự khởi xướng điều tra
theo quy định tại Khoản 2 Điều 86 Luật Cạnh tranh.
Trong 5 vụ việc đã được xử lý, có 3 vụ việc tiếp tục được đưa ra xét xử tại hệ thống
Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính, gồm vụ bia Tân Hiệp Phát, vụ Vinapco và vụ 19
doanh nghiệp bảo hiểm. Mặc dù có những vụ việc được đưa ra xét xử ở cấp phúc thẩm,
nhưng đến nay Tòa án các cấp đều công nhận các quyết định giải quyết khiếu nại đối với
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh do Hội đồng cạnh tranh ban hành. Mặc dù số lượng vụ
việc hạn chế cạnh tranh đã được điều tra và xử lý còn khiêm tốn, nhưng xét trong bối cảnh
Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam còn non trẻ với nguồn lực hạn chế thì đó chính là sự
khởi đầu cho thấy Luật Cạnh tranh đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng.
2.2.2.2. Về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh


12

-

-

-

Trong gần 10 năm thực thi quy định của Luật Cạnh tranh về chống các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, Cơ quan QLCT đã tiếp nhận 298 khiếu nại, tiến hành điều tra 144
vụ việc và ra quyết định xử phạt 122 vụ.
2.2.2.3. Kiểm soát tập trung kinh tế
Tính đến tháng 8 năm 2014, Cơ quan QLCT đã thụ lý 23 vụ việc thông báo TTKT và
rất nhiều vụ việc tham vấn về TTKT trước và trong quá trình các doanh nghiệp thực hiện
TTKT.
Qua nghiên cứu về tình hình điều tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh
tranh của Việt nam trong thời gian qua, chúng ta có thể rút ra mấy vấn đề quan trọng để

2005 đến 2014
2.3.1. Đánh giá theo nhóm tiêu chí bên trong
2.3.1.1. Đánh giá về tính hợp pháp của pháp luật cạnh tranh
Tính hợp pháp của Luật Cạnh tranh được đánh giá dựa trên liệu các quy phạm Luật
Cạnh tranh có đảm bảo tính hợp pháp về mặt nội dung cũng như về mặt hình thức hay
không.
- Về hình thức, Luật Cạnh tranh được soạn thảo và ban hành theo đúng những trình
tự thủ tục do luật định, cụ thể là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định. Luật
Cạnh tranh được Quốc hội, cơ quan lập pháp tối cao của Việt Nam ban hành. ngày


13

03/12/2004, tại kỳ họp thứ 6 khoá XI, Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua và đã
chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2005.
- Về nội dung, các quy phạm Luật cạnh tranh là hoàn toàn hợp pháp, phù hợp với Hiến
pháp, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là với các hiệp định của Tổ chức
thương mại thế giới WTO và thống nhất với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp
luật của Việt Nam. Về cơ bản, Luật Cạnh tranh của Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu về
chính sách canh tranh của các nước thành viên WTO đưa ra và các nguyên tắc cơ bản theo
quy định của WTO, cụ thể như nguyên tắc không phân biệt đối xử và minh bạch trong hoạt
động thương mại, các nguyên tắc liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
2.3.1.2. Đánh giá về tính thực tiễn của pháp luật cạnh tranh
Xét về tổng thể, Luật Cạnh tranh được ban hành phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu
của xã hội thời điểm 2005-2006. Tuy nhiên, để có thể thực hiện một cách có hiệu quả các
quy phạm của Luật, các quy phạm này đòi hỏi cũng phải đáp ứng các yêu cầu về từng quy
phạm pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn.
Thực tế áp dụng các quy phạm Luật Cạnh tranh cho thấy, đến nay có những quy
phạm không còn phù hợp với thực tiễn, gây cản trở hiệu quả thực thi của luật cạnh tranh và
các văn bản hướng dẫn.

thông tin cần thiết, và đưa ra kết luận chính xác.


14

Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý
vụ việc phải ra một trong các quyết định mở Phiên điều trần, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ
sung, hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh. Trên thực tế, vụ việc lạm dụng vị trí
thống lĩnh/độc quyền là những vụ việc rất phức tạp, hồ sơ vụ việc có thể lên đến hàng nghìn
bút lục. Trong khi đó, các thành viên Hội đồng xử lý thường là những cán bộ kiêm nhiệm,
không chuyên trách, vì vậy, khoảng thời hạn 30 ngày để đưa ra quyết định xử lý vụ việc là
không hợp lý. Đối với một vụ việc được thu thập thông tin và chứng cứ trong khoảng thời
gian gần một năm, trong vòng 30 ngày, các thành viên của Hội đồng xử lý khó có thể hiểu
được một cách rõ ràng mọi thông tin vụ việc, điều này ảnh hưởng đến tính chính xác của
quyết định của Hội đồng xử lý đối với vụ việc.
Trong thực tế vụ việc thường có sự liên quan của hai hay nhiều doanh nghiệp. Hội
đồng cạnh tranh sau khi đã ra quyết định xử lý, các doanh nghiệp dù là bị đơn hay nguyên
đơn cũng đều có quyển khởi kiện khiếu nại về quyết định của Hội đồng cạnh tranh tới các
tòa án cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. Vì vậy, khả năng có thể xảy ra là Hội
đồng cạnh tranh sẽ phải theo đuối vụ kiện với danh nghĩa là bị đơn ở rất nhiều nơi khi mà
các doanh nghiệp khiếu nại khởi kiện tại các địa phương khác nhau.
- Về biện pháp xử lý vi phạm
Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh ở Việt Nam được quy định và
hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, bao gồm hình thức xử phạt chính là
phạt cảnh cáo và phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung và một số biện pháp khắc phục hậu
quả. Việc xử phạt các hành vi vi phạm vẫn còn tồn tại một số khó khăn như sau:
Thứ nhất, mức phạt tiền được xác định căn cứ trên tổng doanh thu của năm tài chính
trước năm thực hiện hành vi vi phạm là không hợp lý. Theo quy Luật cạnh tranh, mức phạt
tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh lên đến 10% tổng doanh thu của năm
tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm. Trên thực tế, hành vi vi phạm pháp luật cạnh

nhiều mối hợp tác với các cơ quan quản lý chuyên ngành trong lĩnh vực dược phẩm, viễn
thông, giá, điện lực...Việc phối hợp này được thể hiện rõ nét nhất trong quá trình xây dựng
pháp luật chuyên ngành, chiến lược phát triển ngành, các cơ quan quản lý ngành đã chủ
động lấy và tiếp thu nhiều ý kiến đóng góp của các cơ quan quản lý cạnh tranh.
Thứ tư, từ năm 2005 đến nay, sau khi hệ thống pháp luật về cạnh tranh được ban
hành, các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh đã thường xuyên tích cực thực hiện công
tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hội thảo, diễn đàn trao đối, các
khóa đào tạo... trong đó có một số chương trình được tổ chức quy mô, nhận được nhiều sự
quan tâm của đông đảo các tổ chức, hiệp hội và doanh nghiệp.
2.3.2.2. Đánh giá về khả năng tiếp cận và tuân thủ pháp luật cạnh tranh của

cộng đồng doanh nghiệp
Theo kết quả khảo sát 500 DN tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh bao gồm các DN
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, như DN nhà nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI), DN liên doanh và DN tư nhân thì phần lớn các DN mới chỉ biết đến Luật Cạnh tranh
trong vòng 2 năm gần đây (197 DN, chiếm 39.4%), trong khi đó 169 DN biết đến Luật
Cạnh tranh sớm hơn một chút, khoảng từ 2-4 năm trước, chiếm tỷ lệ 33.8% trong số các DN
được hỏi. Số lượng các DN biết về Luật Cạnh tranh từ khi Luật mới ban hành chỉ gồm 134
DN, chiếm tỷ lệ ít hơn với 26.8%.

Bảng 1.

Thời điểm DN bắt đầu nhận thức về Luật Cạnh tranh
Phần trăm
Số lượng
Tỷ lệ
tích lũy
Mới biết trong vòng 2 năm gần đây
197 39.4%
39.4%



16

điều tra và xử lý lại là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc các Bộ và Ngành mà thành viên
của Hội đồng cạnh tranh đại diện, thì việc đưa ra quyết định xử lý vụ việc rất khó được coi
là công bằng và khách quan.
Hơn nữa, thành viên của Hội đồng cạnh tranh không tham gia điều tra vụ việc ngay
từ thời điểm ban đầu, nên việc ra quyết định xử lý sẽ không được thấu đáo và chặt chẽ, thậm
chí làm kéo dài thêm thời gian xử lý vụ việc.
- Về nguồn nhân lực của cơ quan cạnh tranh
Biên chế hành chính được giao cho Cơ quan QLCT năm 2014 là 104 người, trong đó
số cán bộ làm trong lĩnh vực cạnh tranh chỉ khoảng 20 người (số còn lại thuộc các đơn vị
thực thi pháp luật về phòng vệ thương mại và bảo vệ người tiêu dùng).
Đến nay, Cơ quan cạnh tranh có 33 người đã được Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ
nhiệm làm điều tra viên theo quy định của Luật Cạnh tranh. Tuy nhiên, các điều tra viên
không chỉ tập trung làm việc tại các đơn vị phụ trách cạnh tranh mà lại công tác rải rác ở các
đơn vị khác trong Cục. Việc huy động các điều tra viên ở các đơn vị chuyên môn khác tham
gia, theo đuổi quá trình điều tra một vụ việc hạn chế cạnh tranh kéo dài từ nửa năm đến hơn
một năm là tương đối khó khăn. Đây cũng là một hạn chế đối với việc thực thi chính sách
cạnh tranh một cách hiệu quả.
2.3.3.2. Nguyên nhân của những bật cập
Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và nguyên
nhân chủ quan dẫn đến chưa sử dụng hiệu quả pháp luật cạnh tranh trong thời gian qua.
Nguyên nhân khách quan xuất phát từ trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp, pháp luật
cạnh tranh là vấn đề mới chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Do vậy, khi hội nhập kinh tế
quốc tế cần phải học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới để xây dựng và thực thi
hiệu quả pháp luật cạnh tranh trong quá trình vận hành nên kinh tế thị trường.
Bên cạnh nguyên nhân khách quan cũng tồn tại không ít nguyên nhân chủ quan, đó là:
- Thứ nhất: Chưa nhận được sự quan tâm thích đáng của lãnh đạo các cấp với công

kinh doanh. Để loại bỏ các doanh nghiệp khó khăn về vốn, thị trường và kinh doanh không
hiệu quả, hoạt động sáp nhập và tập trung kinh tế sẽ diễn ra nhiều hơn đặc biệt trong một số
lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, sự can thiệp của nhà nước có xu hướng giảm dần, các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quyền lợi người tiêu dùng sẽ ngày càng
phổ biến và tinh vi.
Cùng với đó, giai đoạn 2015-2020 cũng sẽ là giai đoạn có nhiều biến động trong
công tác hội nhập kinh tế quốc tế, năm 2015 thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN, nhiều
hiệp định song phương và đa phương như TPP, Việt Nam – EU, Liên minh Hải quan Nga –
Belarus - Kazactan… sẽ trực tiếp tác động tới nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp, tập
đoàn kinh tế nước ngoài sẽ xuất hiện ngày càng nhiều, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong và ngoài nước sẽ diễn ra gay gắt đòi hỏi phải có một chính sách cạnh tranh đủ mạnh
để làm công cụ giúp Chính phủ điều tiết thị trường vận hành hiệu quả.
3.1.2. Bối cảnh quốc tế
Theo dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế, nền kinh tế thế giới năm 2015 và các năm tiếp
theo sẽ phục hồi mạnh hơn, tăng trưởng toàn cầu được dự báo năm 2015 là 4% tăng 0,6
phần trăm so với dự báo tăng trưởng năm 2014. Song bên cạnh đó tình hình chính trị vẫn
còn nhiều biến động: cuộc khủng hoảng và cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo IS ở Trung
Đông, cấm vận của phương Tây với Nga... sẽ tác động đến nền kinh tế toàn cầu. Tranh chấp
thương mại sẽ diễn ra nhiều hơn và phức tạp hơn.
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và việc tham gia các cam kết quốc tế
song phương và đa phương với yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn đòi hỏi năng lực của cơ quan
quản lý nhà nước phải hiệu quả hơn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải cao hơn.
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh
trong thời gian tới ở Việt Nam
3.2.1. Tạo lập một sân chơi bình đẳng cho cộng đồng doanh nghiệp
Quá trình đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam trong những năm
gần đây đã thúc đẩy thị trường Việt Nam phát triển và trưởng thành với một tốc độ vượt bậc;
góp phần làm cải thiện diện mạo của nền kinh tế Việt Nam một cách đáng kể. Tuy nhiên, mặt
trái quá trình này đã bắt đầu bộc lộ. Môi trường cạnh tranh ngày càng gắt gao mang tính sống
còn với doanh nghiệp, tâm lý chạy theo lợi nhuận, lợi dụng sự thiếu vắng một khung pháp lý

cam kết mới liên quan tới chính sách cạnh tranh như: minh bạch hóa, các quy định về cơ
quan cạnh tranh và các quy định về phối hợp cùng hành động giữa các cơ quan cạnh tranh
trong khu vực… nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các nhà đầu tư trong
nước và nước ngoài. Để thực hiện tốt các cam kết mới này, trong thời gian tới, cần nhanh
chóng tiến hành rà soát và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cho phù hợp.
3.3. Quan điểm và định hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh trong
thời gian tới
3.3.1. Quan điểm
a. Việc thực thi pháp luật cạnh tranh phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các cam kết quốc
tế trên cơ sở điều kiện kinh tế, xã hội và năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ Việt Nam.
b. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế
để xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành hiệu quả pháp luật cạnh tranh trong thời gian tới.
c. Việc sửa đổi, điều chỉnh chính sách, pháp luật về cạnh tranh phải đảm bảo nguyên
tắc không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, minh bạch và đảm bảo quyền tự do
cạnh tranh trong kinh doanh của các doanh nghiệp.
3.3.2. Định hướng
a. Phù hợp với quy định của Hiến pháp: Điều 51 Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định “Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế
bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Điều này đòi hỏi những sửa đổi pháp
luật cạnh tranh trong tương lai phải góp phần môi trường thuận lợi cho các chủ thể thuộc
thành phần kinh tế phát triển.
b. Phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Chính phủ trong tình
hình mới: Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch của doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là một trong những nội dung quan trọng đã được đề cập
đến trong Đại hội lần thứ XI của Đảng, nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, việc nâng cao hiệu quả pháp luật cạnh
tranh với vai trò được coi là trụ cột của pháp luật kinh tế công, là “Hiến pháp” của thị trường
như cách ví von của các nhà khoa học là yêu cầu cần thiết.
c. Tiếp thu và phát triển các ưu điểm đồng thời khắc phục các nhược điểm của hệ
thống pháp luật, thể chế hiện hành.

đã phân tích, mặt trái của việc quy định thời hạn đó là không có nhiều thời gian để điều tra
viên và thành viên Hội đồng cạnh tranh phân tích vụ việc một cách chính xác, toàn diện. Vì
vậy, Việt Nam cần học tập và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh
như Nhật Bản, Hoa Kỳ hay Châu Âu, theo đó thời hạn điều tra của các vụ việc cạnh tranh,
đặc biệt là liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh thường không quy định hay ràng buộc.
Tại các quốc gia này, có những vụ việc cạnh tranh kéo dài 2 năm thậm chí là 5 năm, phụ
thuộc vào tính chất phức tạp của vụ việc.
- Về khiếu nại quyết định của Hội đồng cạnh tranh, như đã phân tích các bất cập của
các quy định về khiếu nại vụ việc cạnh tranh, theo đó nếu doanh nghiệp nộp hồ sơ khiếu nại
tại Tòa án địa phương nào thì cơ quan cạnh tranh sẽ phải theo kiện tại địa phương đó. Quy
định như vậy gây khó khăn rất lớn cho cơ quan cạnh tranh trong bối cảnh nguồn lực có hạn
mà thời gian tố tụng lại dài. Chính vì vậy, việc giải quyết khiếu nại cho các doanh nghiệp về
quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh cần có quy định tập trung các đầu mối giải quyết
khiếu kiện các vụ án hành chính tại các trung tâm đầu não về kinh tế, chính trị đặt tại các địa
phương một cách hợp lý.
3.4.1.4. Quy định về biện pháp xử lý vi phạm
- Liên quan đến quy định về phạt tiền đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, như đã
phân tích, việc xác định mức phạt căn cứ trên tổng doanh thu của năm tài chính trước năm
thực hiện hành vi vi phạm là không hợp lý. Để điều chỉnh, cần xác định mức phạt dựa theo
doanh thu của doanh nghiệp trên thị trường liên quan hoặc trên thị trường bị ảnh hưởng bởi
hành vi vi phạm pháp luật (affected market).
- Cơ sở để xác định mức phạt tiền cụ thể trong các vụ việc hạn chế cạnh tranh, để
đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động xử lý vi phạm, cần quy định cụ thể nguyên tắc xác
định mức xử phạt, cách thức áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… trong tính toán


20

mức phạt. Cụ thể cần quy định mức phạt cơ bản (basic fine) đối với các hành vi vi phạm và
quy định mức tăng, giảm tỷ lệ phạt tương ứng đối với các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng.

thấy tác dụng rõ rệt của Chương trình khoan dung trong phát hiện và xử lý các hành vi thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh. Đồng thời, việc luật hóa và áp dụng Chương trình khoan dung đã trở
thành xu hướng chung, được rất nhiều cơ quan cạnh tranh trên thế giới thực hiện. Tuy nhiên,
Chương trình khoan dung ở các quốc gia được quy định khác nhau. Do đó, Việt Nam cũng nên
thiết kế một Chương trình khoan dung riêng, phù hợp với thực tiễn và tập quán kinh doanh,
thực thi pháp luật của các doanh nghiệp tại Việt Nam.
3.4.1.6. Quy định kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc
quyền trên thị trường
- Liên quan đến quy định về xác định vị trí thống lĩnh/độc quyền
Mặc dù ủng hộ việc quy định các tiêu chí đánh giá vị trí của doanh nghiệp trên thị
trường, tuy nhiên, cơ quan cạnh tranh chỉ nên quy định các tiêu chí dưới dạng nguyên tắc
chung. Thay vì các quy định mang tính liệt kê cụ thể một cách cứng nhắc, Luật Cạnh tranh
cần đòi hỏi cơ quan thực thi pháp luật phải có các đánh giá, phân tích kinh tế chuyên sâu
hơn khi đánh giá vị trí/sức mạnh thị trường của doanh nghiệp. Ngoài ra, khi đánh giá vị
trí/sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, cơ quan cạnh tranh cần đánh giá thực trạng trên
tthij trường, bối cảnh kinh tế… thay vì chỉ xem xét trong trạng thái tĩnh như hiện nay.
- Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá hành vi lạm dụng


21

Để giải quyết các hạn chế như hiện nay, cần thiết phải xây dựng hệ thống các tiêu chí
đánh giá hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/ độc quyền, đồng thời phải có quy định bao quát
các hành vi lạm dụng có tác động hạn chế cạnh tranh có thể xảy ra. Các quy định của Luật
Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền có thể được sửa đổi theo hướng:
- Không nên phân biệt hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và lạm dụng vị trí độc
quyền để điều chỉnh như hiện nay. Thay vào đó, cần tập trung vào bản chất của hành vi lạm
dụng sức mạnh thị trường của doanh nghiệp;
- Xây dựng các tiêu chí cơ bản nhằm đánh giá hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Các
tiêu chí cần tập trung vào bản chất trục lợi hay đóng cửa thị trường của hành vi, không nên

trung kinh tế… để xác định ngưỡng thông báo TTKT.
3.4.1.8. Quy định điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Về bản chất, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định hiện nay bao
gồm: quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, chỉ dẫn gây nhầm lẫn,… là
các hành vi thương mại thông thường và nhiều hành vi đã được quy định tại các văn bản
pháp luật chuyên ngành như Luật Quảng cáo, Luật sở hữu trí tuệ… Do đó, cần nghiên cứu
loại bỏ các quy định này trong Luật cạnh tranh để đảm bảo tính thống nhất giữa pháp luật
cạnh tranh với pháp luật chuyên ngành. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác nếu
chưa được quy định ở các văn bản pháp luật chuyên ngành như bán hàng đa cấp bất chính,
gièm pha doanh nghiệp khác… thì nên xem xét ban hành một văn bản riêng điều chỉnh hành
vi này.


22

3.4.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan cạnh tranh
3.4.2.1. Thành lập Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng
Căn cứ trên phân tích ở trên, để đảm bảo thực thi hiệu quả pháp luật cạnh tranh trong
thời gian tới, Việt Nam nên thành lập Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng độc lập
trực thuộc Chính phủ trên cơ sở nhập Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh hiện
nay vì các lý do sau đây.
Thứ nhất, việc thành lập một cơ quan cạnh tranh trực thuộc Chính phủ thể hiện quyết
tâm chính trị của Đảng và Nhà nước về việc đẩy mạnh thực thi pháp luật cạnh tranh hướng
tới xây dựng một nhà nước pháp quyền, hạn chế các can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính
của Chính phủ trong quá trình điều tiết nền kinh tế.
Thứ hai, hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh chủ yếu được thể hiện trong hoạt
động điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay khi mà các
doanh nghiệp nhà nước đang giữ hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, do đó đối
tượng điều tra của cơ quan cạnh tranh có thể sẽ là các Tổng Công ty nhà nước, các tập đoàn
kinh tế lớn và thậm chí là cả các cơ quan quản lý nhà nước. Nếu không có một vị thế đủ

Thứ bảy, để đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của hội nhập kinh tế quốc tế, số vụ kiện
về các hành vi vi phạm pháp Luật cạnh tranh chắc chắn sẽ tăng lên một cách đáng kể. Điều
này đòi hỏi quy mô của cơ quan cạnh tranh phải được mở rộng nhằm đảm bảo nguồn tài
chính, nhân lực để thực thi hiệu quả các công việc được giao.


23

Theo kinh nghiệm của hầu hết các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, EU,
Đức..., trong giai đoạn tới, Việt Nam nên nhập Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh
tranh thành một cơ quan trực thuộc Chính phủ.
3.4.2.2. Tiếp tục xây dựng đội ngũ điều tra viên
Để xây dựng đội ngũ điều tra viên chuyên nghiệp, Việt Nam cần thực thi một chiến
lược phát triển nguồn nhân lực hợp lý.
- Xây dựng chương trình đào tạo toàn diện cho nhóm các điều tra viên cạnh tranh.
- Phối hợp với các tổ chức quốc tế, các cơ quan cạnh tranh nước ngoài tổ chức các
khoá đào tạo ngắn hạn về kỹ năng điều tra cho các điều tra viên của Việt Nam
- Tích cực và tạo điều kiện cử các cán bộ của mình ra nước ngoài tham gia các khoá
đào tạo ngắn và dài hạn.
- Phối hợp với các cơ quan đào tạo nghiệp vụ điều tra trong nước như: Bộ công an,
Viện kiểm soát cũng như các Trường đại học để bồi dưỡng nâng cao các kiến thức về kinh
tế, tài chính, luật và kỹ năng điều tra cho các điều tra viên.
- Hàng năm, tổ chức các lớp tấp huấn, nâng cao nghiệp vụ cho các điều tra viên.
- Nên đưa các nội dung, kiến thức của pháp luật cạnh tranh vào trong công tác nghiên
cứu, giảng dạy tại các trường đại học chuyên ngành luật, tài chính, kinh tế... hoặc các Viện
nghiên cứu. Đây chính là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu và chuyên nghiệp
về lĩnh vực này cho cơ quan quản lý cạnh tranh và các cơ quan hữu quan sau này.
3.4.3. Nâng cao nhận thức của các cơ quan liên quan và cộng đồng doanh nghiệp
về pháp luật cạnh tranh
3.4.3.1. Tăng cường công tác tham vấn với cơ quan điều tiết ngành

Cơ quan cạnh tranh Việt Nam chính thức được thành lập được khoảng 10 năm. So
với hơn 100 cơ quan cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới, cơ quan cạnh tranh Việt
Nam nằm trong nhóm cơ quan cạnh tranh “non trẻ”. Do đó, để học tập kinh nghiệm của các
nước, Cơ quan cạnh tranh cần tăng cường mối quan hệ hợp tác với nhiều cơ quan cạnh tranh
quốc tế và tham gia tích cực vào các diễn đàn quốc tế về pháp luật và chính sách cạnh tranh
như ASEAN, ICN, APEC v.v… Bên cạnh đó, cần có giải pháp hợp tác với các cơ quan
cạnh tranh trong khu vực để giải quyết các hành vi phản cạnh tranh có quy mô xuyên biên
giới thông qua việc ký kết các biên bản ghi nhớ, biên bản hợp tác với các cơ quan cạnh
tranh nước ngoài.
Theo thống kê hiện nay, nội dung về chính sách cạnh tranh có rất ít các trường đại
học đưa vào nội dung đào tạo. Do đó, các sinh viên là nguồn lực đầu vào cho cơ quan cạnh
tranh hầu hết chưa có khái niệm về pháp luật cạnh tranh nên nhu cầu đào tạo là rất lớn. Đặc
biệt, các bộ làm công tác cạnh tranh phải có nhiều kỹ năng điều tra cơ bản như: kỹ năng
phỏng vấn lấy lời khai, kỹ năng thu thập và phần tích chứng chức, kỹ năng phân tích và
đánh giá tác động kinh tế… Vì vậy, việc hợp tác quốc tế với các cơ quan cạnh tranh nước
ngoài thông qua các hình thức đào tạo, thực tập tại chỗ là rất cần thiết cho cơ quan cạnh
tranh Việt Nam.


25

KẾT LUẬN
Hiệu quả thực thi của một quy phạm ngày nay được coi là tiêu chí quyết định chất
lượng của một quy phạm pháp luật. Chất lượng của một quy phạm pháp luật quyết định chất
lượng của một văn bản luật và xa hơn là của cả một hệ thống luật pháp của một quốc gia.
Chính vì vậy, đây là một vấn đề cần phải được nhìn nhận, đánh giá một cách nghiêm túc.
Không thể soạn thảo và ban hành một văn bản quy phạm pháp luật mà không tính đến hiệu
quả thực sự của nó khi áp dụng vào thực tiễn.
Thực trạng ở Việt Nam cho thấy có rất nhiều văn bản luật có chất lượng, và được thực
thi có hiệu quả. Nhưng cùng có không ít những quy phạm không được áp dụng trong cuộc

- Về hoạt động của cơ quan cạnh tranh: nguyên tắc quan trọng hàng đầu của cơ quan
cạnh tranh là bảo đảm tính độc lập. Độc lập về vị trí và độc lập khi ra quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh. Bên cạnh đó, để vận hành tốt, cơ quan cạnh tranh phải có một số quyền lực
cơ bản bao gồm:
+ Phát hiện và loại bỏ các chính sách liên quan làm cản trở môi trường cạnh tranh.
+ Yêu cầu các cơ quan tổ chức cung cấp thông tin chứng cứ phục vụ quá trình điều
tra vụ việc cạnh tranh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status