HIP HI DOANH NGHIP NH V VA VIT NAM
VIN KHOA HC QUN TR DOANH NGHIP NH V VA
_______________________________
Tài liệu thiết kế chi tiết
Dự án
Tăng cờng năng lực cho Hiệp hội Doanh nghiệp
nhỏ và vừa Việt Nam trong việc hỗ trợ các doanh
nghiệp thành viên (chú trọng tới DNNVV khu vực
nông thôn) trong quá trình hội nhập
H Ni, 06/2011
MỤC LỤC
Trang
TRANG GIỚI THIỆU
3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BỐI CẢNH HÌNH THÀNH DỰ ÁN
4
1. Giới thiệu đề xuất
4
1. Mô tả Dự án
12
2. Khung logic
III. TÁC ĐỘNG, ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG LỢI VÀ CÁC VẤN ĐỀ XUYÊN
SUỐT
20
IV. TỔ CHỨC QUẢN LÝ, THỰC HIỆN VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG
21
20
1. Quản lý Dự án
21
2. Kế hoạch và tiến độ thực hiện
21
V. ĐẦU VÀO VÀ CHI PHÍ
23
1. Nguồn lực tài chính:
2. Nguồn nhân lực
25
2
TRANG GIỚI THIỆU
1. Tên Dự án: Tăng cường năng lực cho Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt
Nam trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên (chú trọng tới
DNNVV khu vực nông thôn) trong quá trình hội nhập.
2. Cơ quan chủ quản: Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME)
3. Cơ quan đề xuất:
a) Địa chỉ:
b) Giám đốc Dự án:
Tel:
Mobile:
c) Cán bộ liên lạc:
Tel:
Mobile:
Viện Khoa học quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa (SISME)
Số 22 Hàng Chuối, phường Phạm Đình Hổ, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
TS. Phạm Thế Hưng.
04. 3557 8707/ 22602188.
Fax: 04. 3557 8707
0903 419 826.
Email: ;
Nguyễn Thị Hằng
04. 3557 8707.
Fax: 04. 3557 8707
trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên (chú trọng tới DNNVV khu vực nông thôn)
trong quá trình hội nhập.
Việc kết hợp giữa hai đề xuất trên đây là cần thiết nhằm hướng tới một mục đích chung là
tăng cường năng lực của VINASME trong việc hỗ trợ các DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp
ở khu vực nông thôn. Phương thức kết hợp này vừa giúp các DNNVV tiếp cận thuận tiện và hiệu
quả hơn với các thông tin và dịch vụ tư vấn về hội nhập kinh tế quốc tế thông qua mạng lưới các
Văn phòng tư vấn trực thuộc VINASME, vừa giúp chính VINASME nắm bắt rõ ràng hơn, đầy
đủ hơn về nhu cầu của các DNNVV để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hỗ trợ, cũng như
bước đầu đưa ra đề xuất về chính sách hỗ trợ cho các DNNVV ở khu vực nông thôn.
Thực tiễn hoạt động của VINASME và các hội thành viên thời gian qua cho thấy mặc dù
năng lực và hiệu quả hỗ trợ đối với các DNNVV trong quá trình hội nhập đã có những chuyển
biến tích cực, đặc biệt là với sự hỗ trợ kịp thời của các đối tác phát triển. Tuy nhiên, xét về tổng
thể, hoạt động hỗ trợ của VINASME đối với các DNNVV vẫn chưa thực sự đồng bộ, còn trùng
lặp, thiếu chủ động và chưa bền vững. Việc tiếp cận tới các thông tin, dịch vụ hỗ trợ của
VINASME đối với các DNNVV ở khu vực nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế. Ngược lại, công
tác theo dõi và nắm bắt để từ đó hỗ trợ, dẫn dắt hoạt động của các DNNVV nói chung, DNNVV
ở khu vực nông thôn nói riêng chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Vì vậy, sự kết hợp
giữa hai ý tưởng trên trong khuôn khổ của một Dự án sẽ giúp bước đầu khắc phục thực trạng nêu
trên.
2. Chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về các doanh nghiệp
nhỏ và vừa thời kỳ đổi mới và hội nhập:
DNNVV Việt Nam có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, chiếm khoảng 97%
tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập, là khu vực doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong tạo
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và
đóng góp vào ngân sách nhà nước. DNNVV có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưng được hình
thành và phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực và là
khu vực khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham
gia đầu tư nhằm tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn.
Trong chương trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến
việc hình thành, phát triển DNNVV và coi đó là lực lượng chủ lực của phát triển kinh tế - xã hội
các vùng, ngành trong cả nước. Nhờ vậy, đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng về vốn, đất
đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Các DNNVV phát triển đa dạng về hình thức sở hữu, về quản lý phân phối tạo ra sự phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở các ngành, các lĩnh vực sản xuất, từ đó tạo ra
khả năng huy động rộng rãi nguồn lực, động lực xã hội để thúc đẩy, nâng cao đời sống văn hóa,
dân trí và tinh thần trong toàn xã hội và góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hợp lý, hiệu quả, hiện đại.
Ưu thế nổi trội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là năng động, nhạy bén, linh hoạt, nắm
bắt và đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của thị trường để tìm kiếm hiệu quả, lợi nhuận. Họ luôn tìm
kiếm, phát hiện ngành, lĩnh vực, mặt hàng mà xã hội đang thiếu, đang cần, đầu tư sản xuất, đồng
thời không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để có
ưu thế trong cạnh tranh và thu được nhiều lợi nhuận, từ đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng hợp lý, hiện đại. Đồng thời, trong quá trình chống chọi với suy thoái kinh tế, hệ
thống các DNNVV đã phát huy được lợi thế của qui mô doanh nghiệp nhỏ, khai thác đa dạng các
nguồn vốn và công nghệ, sử dụng hợp lý nguồn lao động xã hội và thay đổi linh hoạt chủng loại
sản phẩm và thị trường tiêu thụ... Do vậy, DNNVV đã có những đóng góp đáng kể trong chống
suy thoái, duy trì và ổn định hoạt động của kinh tế đất nước. Chính phủ đặt nhiều kỳ vọng vào sự
đóng góp của lực lượng các DNNVV trong khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất, hội nhập
thành công vào nền kinh tế thế giới.
Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, Việt Nam trở thành thành viên
chính thức thứ 150 của WTO (vào ngày 07/01/2007). Quá trình hội nhập ngày càng toàn diện
vào kinh tế thế giới, việc này đã tạo cho các DNNVV nhiều thuận lợi, nhưng không ít khó khăn.
Hệ thống các DNNVV cùng với các thành phần kinh tế khác trong cả nước đã phải đối mặt với
muôn vàn khó khăn, thách thức mà chủ yếu là các vấn đề thiếu vốn đầu tư kinh doanh, trình độ
5
công nghệ thấp, trang thiết bị lạc hậu, chất lượng hàng thấp, thiếu kinh nghiệm quản lý, khó tiêu
thụ sản phẩm… Với lịch sử phát triển kinh tế thị trường và hội nhập còn quá ngắn, lại phải trải
sách đảm bảo sự phát triển bền vững của các DNNVV; phối hợp với các cơ quan, tổ chức nhằm
tìm kiếm, xây dựng và phát triển thị trường cho các DNNVV.
Hiện tại VINASME hoạt động thông qua 42 hội thành viên ở 42 tỉnh thành phố trải dài dọc
theo đất nước, từ Lào Cai đến Cần Thơ, 10 văn phòng đại diện, chi nhánh ở trong và ngoài nước.
Ngoài các Hội thành viên trên, VINASME đã thành lập 9 đơn vị sự nghiệp kinh tế trực thuộc
Trung ương Hội để tham gia hoạt động kinh tế trong nhiều lĩnh vực và tham gia hợp tác, liên
doanh liên kết với các đối tác kinh tế trong và ngoài nước.
5. Đánh giá các dự án có liên quan đã và đang được triển khai:
5.1. Dự án “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh
doanh, phát huy vai trò và lợi thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong quá trình
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam” (Dự án triển khai trong năm thứ Nhất, giai
đoạn II chương trình HTKT hậu gia nhập WTO)
Dự án đã hoàn thành mục tiêu đề ra là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, nhận
thức và khả năng thích ứng của DNVVN đối với WTO và hội nhập, với các kết quả như sau:
6
Kết quả 1: Một báo cáo kết quả khảo sát, điều tra về thực trạng, tình hình thuận lợi, khó khăn
của các DNNVV thuộc 3 ngành kinh doanh: Cơ khí chế tạo, Dệt may, Thủy hải sản - những
ngành hàng có sự tham gia nhiều của các DNNVV và chịu nhiều ảnh hưởng bởi quá trình thực
thi các cam kết WTO.
Do nguồn lực và kinh phí có hạn, quá trình khảo sát điều tra về DNNVV năm 2010 mới
chỉ diễn ra tại 03 thành phố lớn, và trong 3 ngành Thủy sản, Dệt may, Cơ khí. Qua số liệu báo
cáo khảo sát điều tra, VINASME mới chỉ có những nhận định, đánh giá sơ bộ về thực trạng
DNNVV VN theo vùng (thành phố) và theo ba ngành. Vì vậy, để có thể nắm bắt sâu hơn về thực
trạng DNNVV (đặc biệt là các DNNVV nông thôn) từ đó đưa ra những biện pháp tư vấn hỗ trợ
DNNVV thành viên trên cả nước hội nhập có hiệu quả, đồng thời phát huy kết quả Dự án năm
thứ nhất việc đề xuất dự án trong năm tiếp theo là cần thiết.
Kết quả 2: Nhận thức của các DNNVV về thực thi các cam kết VN-WTO được nâng cao:
BQLDA đã phối hợp với các Giáo sư, Tiến sĩ, các chuyên gia hàng đầu trong công tác
Phần báo cáo đã kiến nghị với Nhà nước những vấn đề về Pháp luật, chính sách kinh tế
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các DNNVV :
(1) Đã tập hợp được các chuyên gia, các nhà khoa học, các doanh nhân có danh tiếng, đã
hoàn thành Đề cương chi tiết của Đề tài “NGHIÊN CỨU LUẬN CỨ KHOA HỌC XÂY DỰNG
LUẬT CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM”. Đề cương chi tiết đã
được trao đổi, thảo luận và đã được Ủy Ban Kinh tế của Quốc hội Khóa XII tiếp nhận và đánh
giá cao về ý tưởng và nội dung đề xuất, sẽ được triển khai trong Khóa mới (Khóa XIII) của Quốc
hội. Khi Đề tài được triển khai, đồng nghĩa việc trong thời gian tới Cộng đồng DNNVV Việt
Nam sẽ có Đạo Luật riêng cho mình, có thể “sánh vai” với “Luật cơ bản Doanh nghiệp Nhỏ và
Vừa” của Nhật Bản, được ban hành từ năm 1963 (Small and Medium Enterprise Basic Law),
“Luật cơ bản của DNNVV” của Hàn Quốc được ban hành năm 1966, “Luật phát triển các Doanh
nghiệp Nhỏ và Vừa” của Thái Lan được ban hành năm 2000,...Trong Nội dung nghiên cứu xây
dựng “Luật cơ bản về DNNVV Việt Nam” sẽ dành cho DNNVV rất nhiều lợi ích, ưu đãi, được
bảo vệ bằng Luật pháp trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh, thương mại hóa sản phẩm,
phát triển thị trường, liên doanh liên kết. Đây là một đóng góp quan trọng của kết quả Dự án, nó
có sức lan tỏa mạnh trong giới Doanh nhân Việt Nam cả về lợi ích chính trị, pháp lý, kinh tế và
hội nhập kinh tế quốc tế.
(2) Phối hợp với Cơ quan đầu mối của Bộ KH&CN, đó là Cục Ứng dụng và Phát triển
công nghệ soạn thảo Chương trình hợp tác hỗ trợ DNNVV dưới tên gọi “Chương trình phối
hợp hoạt động hỗ trợ DNNVV ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, đầu tư đổi mới công nghệ,
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm”, Chương trình đã được Bộ trưởng Bộ Khoa học
và Công nghệ và Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam ký kết ngày 30 tháng 10 năm 2010.
Trong Chương trình hợp tác này, có tới 10 Đề tài/Dự án sẽ được triển khai hỗ trợ DNNVV từ
nay đến năm 2015. Hiện nay, hai bên đang xây dựng các Đề cương chi tiết của các Đề tài/ Dự án
theo kế hoạch. Kết quả hợp tác này được chuẩn bị triển khai các Đề tài/Dự án nhằm bổ sung cho
các Giải pháp trong “Định hướng chiến lược phát triển DNNVV phù hợp với bối cảnh thực
thi các cam kết VN - WTO và Nghị định 56/2009/NĐ-CP”
Các nhiệm vụ này cũng được gửi tới các Hội của các tỉnh/thành phố để nghiên cứu và tùy
theo năng lực của các Hội, các Doanh nghiệp hội viên có thế xây dựng các Dự án phát triển
địa bàn triển khai Dự án. Trong Dự án này, VINASME bước đầu cũng được tăng cường, song
chủ yếu tập trung vào năng lực tư vấn về mô hình kinh doanh, các khía cạnh pháp lý và trình tự,
thủ tục liên quan đến vay vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Kết quả đạt được bước đầu từ Dự án
này sẽ là yếu tố đầu vào quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện mô hình văn phòng
tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV một cách toàn diện ở VINASME và các Hội thành
viên.
- Bên cạnh đó, Dự án được đề xuất và Dự án này mang tính bổ trợ nhau, những kết quả đạt
được của Dự án cũng sẽ được kết hợp, tích hợp vào mô hình mới như con người và điều kiện
hoạt động đã được xây dựng từ Dự án. Việc kết hợp giữa hai dự án sẽ được thể hiện chi tiết trong
kế hoạch hoạt động hàng năm của cả hai dự án. Ngoài ra, việc theo dõi, đánh giá hai dự án này
cũng có thể sẽ được kết hợp để tránh trùng lặp (như tổ chức hội nghị kiểm điểm giữa năm, hàng
năm, giữa kỳ và cuối kỳ)
5.3 Dự án “Hỗ trợ thương mại đa biên III” (EU-Vietnam MUTRAP III)
ASIE/2007/18844
a) Mục tiêu: Tăng cường năng lực về chính sách thương mại cho VINASME (thời gian từ
2009 đến 2012).
b) Kết quả dự kiến: Ở cấp Trung ương và địa phương có được cán bộ có năng lực trong
lĩnh vực thương mại, xuất khẩu và tư vấn cho các bộ phận chuyên ngành; một Ban tư vấn thương
mại giúp tăng cường vai trò tư vấn của VINASME thông qua việc đưa ra các khuyến nghị phù
hợp về chính sách thương mại; bộ phận chuyên trách về thương mại được hình thành trong hệ
thống VINASME nhằm hỗ trợ theo nhu cầu của các DNNVV.
c) Các nhóm hoạt động chính: Xây dựng năng lực cho VINASME cấp Trung ương cũng
như cho nhân viên của hiệp hội tỉnh (tập trung về các vấn đề thương mại tổng hợp; đào tạo nhóm
chuyên gia tư vấn; tăng cường năng lực kinh doanh với EU và giải thích về các phương tiện vận
động thương mại); xây dựng Ban tư vấn cho VINASME (hình thành các nhóm; công cụ hỗ trợ
vận động thương mại; hỗ trợ ban đầu trong việc tìm kiếm đối tác...); Thành lập nhóm hạt nhân
(nhóm của các doanh nghiệp có xu hướng xuất khẩu trên cùng địa bàn) trong hiệp hội tỉnh trên
các địa bàn triển khai Dự án.
d) Kết quả thực hiện và mối liên hệ với Dự án đề xuất: Hiện VINASME đã đào tạo được
10 chuyên gia tư vấn thương mại và 12 “Nhóm hạt nhân” với tổng số thành viên đăng ký là 210,
giữa VINASME, các hội thành viên với các DNNVV trong quá trình hội nhập.
6. Phân tích vấn đề, nhận diện nguyên nhân và phân tích giải pháp:
Như vậy, VINASME đã có bước phát triển quan trọng trong việc thiết lập hệ thống mạng
lưới hội viên và củng cố tổ chức bộ máy trực thuộc. Tuy nhiên, hoạt động của VINASME vẫn
còn nhiều hạn chế và mới bước đầu thực hiện một số chức năng về tư vấn và phản biện chính
sách, pháp luật ở cấp Trung ương và ở một số tỉnh, thành phố lớn. Vai trò dẫn dắt, định hướng,
hỗ trợ và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các DNNVV, đặc biệt là các DNNVV ở khu vực nông thôn
còn hạn chế. Kết quả đánh giá sơ bộ cho thấy, thực trạng này xuất phát từ một số nguyên nhân
chính và cần có các giải pháp tương ứng. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, VINASME chưa thiết lập được một đầu mối nhằm chủ động nắm bắt, chia sẻ
và cung cấp thông tin, tư vấn hỗ trợ hội nhập cho các DNNVV.
Đầu mối này giữ vai trò cầu nối giữa các DNNVV với các cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền và giữa các DNNVV với các đối tác nước ngoài khác trong quá trình hội nhập. Bên
cạnh việc phản ánh kịp thời thông tin về những thay đổi chính sách, pháp luật cho các DNNVV,
đầu mối này còn góp phần cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước những phản hồi từ phía
các DNNVV đối với hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành. Đồng thời, đầu mối này còn có
vai trò tiếp nhận yêu cầu tư vấn, nắm bắt thực tiễn hoạt động của các DNNVV và chủ động cung
cấp thông tin hỗ trợ cho hoạt động của các DNNVV khi thấy cần thiết. Xuất phát từ chức năng
theo quy định của pháp luật, VINASME không chỉ giúp xây dựng năng lực cho các DNNVV
hoặc hỗ trợ cho họ khi có yêu cầu mà cần phải phát huy được vai trò dẫn dắt, định hướng và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các DNNVV, đặc biệt là các DNNVV ở khu vực nông thôn. Mặt
10
khác, VINASME cũng phải giữ vai trò tham mưu cho các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra chiến
lược hoặc quy hoạch tổng thể, kèm theo một hệ thống các chương trình, kế hoạch trung và ngắn
hạn, cũng như các giải pháp, biện pháp cụ thể để giúp các DNNVV, đặc biệt là các DNNVV ở
khu vực nông thôn từng bước hội nhập một cách đầy đủ và bền vững vào thị trường trong và
ngoài nước.
- Thứ hai, năng lực tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ các DNNVV của VINASME và các
gian dự án chưa nhiều, kết quả của dự án mới ở giai đoạn ban đầu. Để dự án có được tác động
lâu dài, việc nâng cao năng lực của VINASME trong việc hỗ trợ DNNVV trong năm tiếp theo là
hết sức cần thiết. Vì vậy, việc hình thành một mạng lưới “Văn phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV”
giúp Hiệp hội nâng cao chất lượng cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn cho DNNVV, đặc biệt là
ở khu vực nông thôn để họ có thể tiếp thu những văn bản pháp luật, các thông tin cần thiết, nâng
cao nhận thức, tham gia các hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, hội nhập sâu vào
kinh tế khu vực và thế giới, góp phần đưa Việt Nam sớm trở thành nước có nền kinh tế thị
trường phát triển là vấn đề cấp bách.
Do nhu cầu rất lớn về số lượng “Văn phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV” tại 63 tỉnh và thành
phố, để đủ điều kiện thực hiện tư vấn hội nhập cho trên 500.000 DNNVV cộng thêm 5 triệu hộ
kinh doanh cá thể (DN siêu nhỏ) ở khắp đất nước. Việc này đòi hỏi phải đầu tư về thời gian dài
11
hơi và kinh phí lớn hơn nhiều. Trong phạm vi thời gian, kinh phí hỗ trợ của Chương trình
BWTO, VINASME nhận thấy cần phải tập trung vào việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn,
đồng thời học hỏi kinh nghiệm của các nước thành công trong việc tổ chức mạng lưới, tư vấn hội
nhập cho DNNVV, qua đó triển khai thí điểm “Văn phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV” tại
VINASME và 10-15 hội địa phương. Sau thời gian thí điểm, VINASME sẽ tổng kết, rút kinh
nghiệm mở rộng phạm vi áp dụng và từng bước hình thành một mạng lưới ổn định các “Văn
phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV” theo nhu cầu của các DNNVV trên phạm vi cả nước.
7. Sự phù hợp của dự án với các cấu phần của B-WTO:
Bước vào thời kỳ phục hồi kinh tế, Chính phủ đã có Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gia
nhập WTO với sự tài trợ của quốc tế cả về tài chính và kinh nghiệm. Các vấn đề liên quan đến
phát triển DNNVV đang là một trong các nội dung công việc phối hợp giữa các nhà tài trợ, các
NGO quốc tế với Chính phủ Việt Nam. Cải thiện môi trường kinh doanh và pháp lý cho doanh
nghiệp tư nhân trong nước và DNNVV là một chủ đề thường xuyên trong các cuộc đối thoại
giữa Chính phủ và các nhà tài trợ trong một loạt các vấn đề phát triển rộng thông qua nhóm tư
vấn các Nhà tài trợ và thông qua các cơ chế đối tác khác.
Mục tiêu của Dự án hoàn toàn phù hợp với Mục tiêu Cấu phần I của Chương trình Hỗ trợ
của VINASME và các tổ chức thành viên được xây dựng, triển khai thí điểm và nhân rộng
Mô hình này được xây dựng trên cơ sở thống nhất các đầu mối hỗ trợ các DNNVV trực
thuộc mạng lưới của VINASME. Bên cạnh chức năng trực tiếp nhận yêu cầu, cung cấp thông tin
và tư vấn cho các doanh nghiệp thành viên, các Văn phòng này sẽ giúp VINASME và các hội
trực thuộc điều phối tất cả các thông tin có liên quan và nguồn lực hỗ trợ cho các doanh nghiệp
thành viên.
Hoạt động 1.1. Khảo sát, tham vấn thực trạng hoạt động tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ
DNNVV của VINASME và các Hội thành viên
Mục đích của chuyến tham vấn nhằm đánh giá thực trạng hoạt động cung cấp thông tin và
tư vấn hỗ trợ DNNVV của toàn bộ mạng lưới VINASME ở trung ương đến địa phương qua đó
BQLDA sẽ tổng kết những điểm mạnh, điểm yếu, đề xuất phương án xây dựng mô hình tư vấn phù
hợp, và tổ chức có hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới.
BQLDA sẽ thiết kế hai biểu mẫu phiếu tham vấn, một dùng để xin ý kiến tham vấn các cơ
quan và các nhà quản lý, một dành cho khảo sát, tham vấn những vấn đề liên quan đến Doanh nghiệp
với những câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, dễ điền trả lời, trong đó có các tiêu chí cơ bản như: Những hoạt
động tư vấn hỗ trợ DNNVV, dự kiến tiến hành những hoạt động tư vấn, nhu cầu đào tạo về kiến thức
hội nhập và các kỹ năng về tư vấn, cơ sở hạ tầng, khả năng sẵn sàng lập “Văn phòng tư vấn và cung
cấp thông tin hỗ trợ DNNVV”, nhu cầu thông tin về hội nhập, những vấn đề đặc thù của địa
phương. BQL sẽ gửi tới 42 Hội doanh nghiệp thành viên, đồng thời gửi đến cơ quan chức năng của
18 tỉnh chưa có hội DNNVV. Sau khi liên hệ, đàm thoại thống nhất nội dung, ngày giờ làm việc theo
kế hoạch - đảm bảo công tác chuẩn bị chu đáo để triển khai theo cụm địa phương nhằm giảm bớt
thời gian dư thừa, đi lại tốn kém, BQL sẽ tổ chức đoàn tham vấn thực địa nhằm phỏng vấn sâu 12
-15 Hội doanh nghiệp (3 miền: Bắc, Trung, Nam, chú trọng khu vực nông thôn) các Hội được lựa
chọn khảo sát là những Hội doanh nghiệp tham gia tích cực vào những hoạt động hỗ trợ DNNVV
của VINASME (theo báo cáo hoạt động hàng năm của VINASME). BQLDA sẽ tham vấn thực trạng
tư vấn hỗ trợ DNNVV tại địa phương, đồng thời đặt vấn đề lập “Văn phòng tư vấn hỗ trợ DNNVV
hội nhập” tại các hội thành viên đủ điều kiện, trong đó dự án sẽ hỗ trợ những vấn đề kỹ thuật, các hội
thành viên tham gia đóng góp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân viên phục vụ hoạt động của Văn phòng;
ký kết thỏa thuận thành lập Văn phòng.
Một đoàn khảo sát, tham vấn gồm 4 thành viên, trong đó có 02 thành viên là cán bộ thực hiện
của các hiệp hội nghề nghiệp hoặc xã hội - nghề nghiệp tại CHLB Đức về tổ chức mô hình hỗ
trợ DNNVV
Do chưa có một mô hình tư vấn hội nhập hiệu quả nên VINASME còn thiếu kinh nghiệm
trong công tác hỗ trợ các DNNVV hội nhập kinh tế, chưa phát huy các cơ hội vốn có và khắc
phục các thách thức. Chuyến thăm quan, học tập kinh nghiệm tại CH Liên Bang Đức về công tác
hỗ trợ DNNVV hội nhập là việc cần thiết nhằm tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho việc nghiên
cứu xây dựng một mô hình tư vấn hội nhập chuẩn cho VINASME.
VINASME chọn CHLB Đức để học tập kinh nghiệm vì Đức là quốc gia có nền kinh tế
phát triển, có nhiều kinh nghiệm về hội nhập kinh tế quốc tế, là nước rất thành công trong việc tổ
chức, quản lý, hỗ trợ DNNVV phát triển. CHLB Đức là nước có trình độ, kinh nghiệm quản lý,
phát triển DNNVV hàng đầu thế giới, bên cạnh đó Phần Đông nước Đức có xuất phát điểm
giống Việt Nam, hai bên đã từng có quan hệ thân thiện, chung là nước trong hệ thống hợp tác
kinh tế CEB, có nhiều chính sách, cơ chế quản lý xuất phát giống nhau, một nửa quốc gia đã
từng tiến hành chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Trong quá trình chuyển đổi, Chính phủ CHLB Đức đã thực hiện một loạt các biện pháp thành
công đưa nền kinh tế Đông Đức hoạt động theo cơ chế thị trường và hội nhập vào EU. Chuyến
khảo sát, học thập kinh nghiệm này hy vọng tạo cho VINASME có cơ hội trao đổi, học hỏi kinh
nghiệm về mạng lưới tổ chức tổng thể và mô hình hoạt động thông tin, tư vấn công tác phát triển
DNNVV. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với VINASME trong việc thực hiện trách nhiệm tư
vấn, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách trợ giúp
phát triển DNNVV trong bối cảnh công tác hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam còn nhiều mới mẻ, bỡ
ngỡ, thiếu kinh nghiệm và các chương trình hỗ trợ DNNVV.
Nội dung chính của chuyến tham quan học tập bao gồm:
- Tìm hiểu mô hình tổ chức tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV, cơ chế hoạt động
tư vấn, hỗ trợ DNNVV của Cơ quan phát triển DNNVV(Phía Nhà nước), Hiệp hội DNNVV
(Phía tổ chức hiệp hội), CHLB Đức trong quá trình thực thi các cam kết WTO và hội nhập.
- Tìm hiểu những nội dung hoạt động tư vấn, hỗ trợ DNNVV của các cơ quan phát triển
DNNVV ở CHLB Đức.
- Thông qua Hiệp hội DNNVV CHLB Đức, thăm và tìm hiểu một số tổ chức xã hội nghề
nghiệp và những hoạt động của DNNVV.
xuất phát từ những khó khăn đặc thù của các DNNVV ở khu vực này.
Hoạt động 1.5 Đánh giá kết quả triển khai thí điểm mô hình chuẩn của Văn phòng tư vấn và
cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu và các đề xuất hoàn thiện
mô hình chuẩn của Văn phòng:
Thời gian dự kiến triển khai Dự án là 18 tháng, BQLDA dự kiến xây dựng mô hình chuẩn
trong vòng 10 tháng, thí điểm hoạt động mô hình trong 5 tháng, đánh giá kết quả và hoàn thiện
mô hình mới trong vòng 2 tháng, nhân rộng mô hình và tổng kết trong 3 tháng
Hoạt động 1.6 Tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến các bên liên quan nhằm hoàn thiện mô hình
chuẩn của Văn phòng tư vấn
Một cuộc hội thảo được tổ chức với khoảng 30 người tham dự, đó là cán bộ quản lý ở các
Bộ, ngành, các cơ quan phát triển DNNVV, các nhà khoa học, đại diện các văn phòng tư vấn hỗ
trợ DNNVV hội nhập đã được thí điểm. Tọa đàm là nơi chia sẻ quan điểm của các bên liên quan
về mô hình tư vấn hội nhập của VINASME. Trên cơ sở các ý kiến thu thập tại hội thảo, tư vấn sẽ
hoàn thiện mô hình chuẩn.
Hoạt động 1.7 Hội thảo triển khai nhân rộng mô hình chuẩn của Văn phòng tư vấn hỗ trợ
DNNVV
15
Để tạo điều kiện tuyên truyền, phổ biến những kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu triển
khai, chuẩn bị nhận thức tốt cho các Hiệp hội địa phương, các Doanh nghiệp thành viên chưa có
điều kiện thực hiện mô hình Văn phòng tư vấn hỗ trợ Doanh nghiệp, BQLDA chọn phương án tổ
chức 3 cuộc hội thảo quy mô nhỏ, khoảng 50người / hội thảo tại 3 miền Bắc, Trung, Nam. Tại
hội thảo, các chuyên gia tư vấn Dự án phổ biến những nội dung, phương pháp triển khai hoạt
động của Văn phòng và các giải pháp cơ bản giúp cho các đại biểu dự hội thảo về có thể chủ
động chuẩn bị công việc triển khai thành lập Văn phòng và hoạt động hiệu quả, bền vững. Tiếp
đó, BQLDA xúc tiến thành lập Văn phòng tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV tại các Hội
thành viên của VINASME (Dự kiến sẽ nhân rộng thêm 10-15 văn phòng).
Quá trình nhân rộng, VINASME sẽ ưu tiên hỗ trợ để thành lập Văn phòng ở các vùng,
các cam kết quốc tế của Chính phủ ta liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của
DNNVV,... Do khối lượng lớn về nguồn thông tin, tài liệu nên đòi hỏi các chuyên gia thông tin
phải biết chọn lọc, xử lý cô đọng sát với nhu cầu thực tế và trình độ tiếp nhận của các Hiệp hội
địa phương và Doanh nhân. Phương tiện khai thác thông tin thông qua trang WEB được xây
16
dựng và trang web của VINASME hoặc cài đặt nguồn tin số hóa tại các máy chủ/ PC của các
Hiệp hội địa phương và doanh nhân để khai thác sử dụng.
Đối với việc tiếp nhận thông tin từ các Hiệp hội địa phương và các DNNVV, một trong những
nhiệm vụ quan trọng của VINASME là kiến nghị với Nhà nước về cơ chế, chính sách hỗ trợ
cộng đồng DNNVV Việt Nam phát triển. Do vậy, VINASME rất cần có nguồn thông tin đầy đủ,
chính xác, kịp thời về hiện trạng hoạt động quản lý nguồn lực doanh nghiệp, nghiên cứu đổi mới
công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường,...những
vấn đề khó khăn, thuận lợi, những vấn đề bức xúc cần được Nhà nước quan tâm giải quyết,
những nguyện vọng doanh nhân cần phản ảnh, kiến nghị, đề xuất với Nhà nước, các cơ quan
quản lý nhà nước,...Hướng dẫn cho doanh nghiệp những “Tiêu chí”, “Chỉ số”, “Nội dung”cần
phản ảnh. Qua các giai đoạn, thời kỳ phát triển của doanh nghiệp, VINASME có nghiên cứu điều
chỉnh các Chỉ số đó cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước qua từng
thời kỳ để tổng hợp, phân tích, kiến nghị cho chính xác, đạt được hiệu quả cao.
Quan điểm xây dựng Hệ thống là phải có các thành viên, có chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu
rõ ràng, phân công, phân cấp, ban quy chế hoạt động, các thành viên phải có trình độ, hiểu biết
thống nhất để cùng thực hiện nhiệm vụ chung. Vì vậy, khi xây dựng Hệ thống thông tin phải tiến
hành đồng bộ các hoạt động.
Hoạt động 2.1 Rà soát hệ thống các chỉ số theo dõi, đánh giá việc đạt được các mục tiêu phát
triển của các DNNVV trong quá trình hội nhập có tính đến đặc thù các DNNVV ở khu vực nông thôn
Bước này rất quan trọng nhằm xác định chất lượng các chỉ số và việc các DNNVV sử dụng chỉ
số này để đánh giá các mục tiêu phát triển của DNNVV có thực sự phù hợp không? so với thời gian
trước đây và trong tương giai đoạn các năm 2011-2020, thời kỳ đẩy mạnh công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. BQLDA cùng với doanh nghiệp thống nhất lại tính phù
xây dựng một chương trình xử lý thông tin được cài đặt cho máy chủ và các máy tính thành viên ,
các cơ sở thông tin, dữ liệu đủ đáp ứng yêu cầu thực tiễn theo mẫu biểu được tự động nạp và xử lý
tại các máy tính thành viên và được tổng hợp cho cả hệ thống các Văn phòng tư vấn tại các hội thành
viên ở khắp các vùng, miền trên toàn quốc, tự động cập nhật vào Văn phòng tư vấn ở Trung Ương .
Như vậy số liệu sẽ được cập nhật và xử lý theo yêu cầu quản lý.
Hoạt động 2.4 Xây dựng Quy chế thu thập, tổng hợp và công bố thông tin
BQLDA sẽ soạn thảo Quy chế hoạt động của Hệ thống, nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các
thành viên, quy định định kỳ thu thập thông tin, nội dung thu thập (các chỉ số thu thâp), quy trình
nạp và tổng hợp số liệu, phương thức xây dựng báo cáo, nơi tiếp nhận kết quả thu thập thông tin,
…Trước mắt, thành viên của Hệ thống là các Hiệp hội của các tỉnh/thành phố làm thành viên
chính. Khi VINASME mở rộng thêm các Hiệp hội, thì Hệ thống thông tin cũng mở rộng thành
viên tương ứng. Nếu nhận thấy cần thiết, Hệ thống sẽ kết nạp thêm Cộng tác viên ở những
tỉnh/thành phố mà hiện nay chưa có điều kiện thành các Hiệp hội.
Hoạt động 2.5 Xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu điện tử về hội nhập và Trang thông tin hỗ
trợ hội nhập cho các DNNVV tại VINASME , các hội DNNVV tham gia thí điểm
Cơ sở Dữ liệu điện tử về Hội nhập kinh tế quốc tế và trang web là cơ sở cho việc cung cấp
thông tin, ý kiến tư vấn của Văn phòng tư vấn của VINASME và các hội địa phương cho cộng
đồng DNNVV một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Trang web sẽ đăng tải các thông tin liên
quan đến các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế, về WTO, thông tin thị trường xuất khẩu của
các doanh nghiệp và cũng là kênh thông tin để tiếp nhận ý kiến, đề nghị hỗ trợ thông qua hình
thức diễn đàn và tư vấn trực tuyến. CSDL hội nhập kinh tế quốc tế sẽ được xây dựng dưới hình
thức thư viện điện tử các tài liệu, sách, tạp chí thuộc lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế. Thư viện
điện tử sẽ liên kết với trang web và cho phép người đọc có thể tìm và truy xuất tài liệu thông qua
giao diện web, là phương thức phổ biến thông tin thuận lợi với chi phí thấp nhất hiện nay. Đây
cũng là kênh thông tin 2 chiều có sự tương tác giữa người sử dụng tin với các cơ quan chuyên
môn.
Cơ sở dữ liệu gồm 3 module
Module 1: Số hoá và tích hợp vào máy tính những thông tin thu thập được từ doanh
nghiệp sau khi đã xử lý.
Module 2: Tìm kiếm, mua các tài liệu, chọn lọc, xử lý, số hoá, tích hợp vào máy tính các
Kết quả 3: Đề xuất kiến nghị về chính sách hỗ trợ các DNNVV ở khu vực nông thôn được đệ
trình lên cơ quan có thẩm quyền
Hoạt động 3.1. Xây dựng báo cáo kết quả khảo sát thực trạng và phân tích chính sách hỗ
trợ.
Dựa trên báo cáo tổng hợp, phân tích số liệu khảo sát điều tra đánh giá toàn diện thực
trạng hoạt động tư vấn hỗ trợ DNNVV, tình hình, thuận lợi, khó khăn của các DNNVV khu vực
nông thôn ở hoạt động 1.1.7, Chuyên gia tư vấn tổng hợp phân tích kết quả khảo sát thực trạng và
phân tích chính sách hỗ trợ là cơ sở giúpVINASME xây dựng kế hoạch hỗ trợ nâng cao năng lực
của chủ DNNVV thành viên đồng thời đề xuất kiến nghị các cấp có thẩm quyền ban hành các chính
sách hỗ trợ các DNNVV ở khu vực nông thôn.
Hoạt động 3.2 Xây dựng văn bản/báo cáo đề xuất kiến nghị về chính sách hỗ trợ các
DNNVV ở khu vực nông thôn
Báo cáo đề xuất kiến nghị về chính sách hỗ trợ các DNNVV ở khu vực nông thôn sẽ được
VINASME trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Phát triển Doanh nghiệp) làm cơ sở hoàn thiện hệ
thống chính sách, pháp luật nhằm thúc đẩy hoạt động của các DNNVV nông thôn trong quá trình
hội nhập. Mặt khác, những báo cáo này cũng sẽ là cơ sở để VINASME xây dựng kế hoạch hành
động nhằm góp phần thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015
Để xây dựng được bản đề xuất có chất lượng, đáp ứng đòi hỏi của các cấp quản lý,
BQLDA tập hợp đầy đủ những tư liệu: Kết quả điều tra, những tư liệu về những kiến nghị trong
các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, đồng thời tham khảo những kinh nghiệm trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp một số nước tương đồng với Việt Nam, tham
khảo những tài liệu nằm trong hệ thống cơ chế chính sách Nhà nước ban hành liên quan đến các
19
DNNVV. Ngoài ra sẽ tham vấn các chuyên gia chuyên sâu trong quản lý kinh tế và những doanh
nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh phát triển hàng hóa, có thương hiệu
mạnh và hàng hóa chất lượng cao, từ đó tổng hợp thành “những kiến nghị đối với Nhà nước,
Chính phủ và các cấp quản lý, các Hiệp hội ngành hàng, các DNNVV cần triển khai thực hiện
trong thời gian 2011- 2020”.
3. Các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách Nhà nước các cấp có căn cứ khoa học
và thực tiễn để xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật phù hợp, đề xuất các cơ chế, chính
sách nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV phát triển, thực hiện tốt các cam
kết VN - WTO.
4. Các cơ quan nghiên cứu khoa học như viện, trung tâm, các trường đại học, cao
đẳng, cơ quan quản lý chỉ đạo phát triển KT-XH ở Trung ương và địa phương kế thừa,
tham khảo các kết quả thực hiện Dự án làm căn cứ để tiếp tục triển khai nghiên cứu và đề xuất
các giải pháp mang tính tổng thể, bền vững nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh
tế quốc tế của các DNNVV Việt Nam.
IV. TỔ CHỨC QUẢN LÝ, THỰC HIỆN VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG
20
1. Tổ chức quản lý Dự án:
Căn cứ Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ ban hành về Quy
chế quản lý và sử dụng vốn ODA và Cẩm nang hướng dẫn thực hiện chương trình ban hành kèm
theo Quyết định số 12/QĐ-BCĐWTO ngày 14/09/2009 của Ban Chỉ đạo chương trình hỗ trợ kỹ
thuật hậu gia nhập WTO, Dự án sẽ được quản lý theo hình thức thành lập một Ban Quản lý Dự
án.
Ban Quản lý Dự án sẽ được cung cấp nơi làm việc, các trang thiết bị cần thiết và bổ nhiệm
một cán bộ lãnh đạo làm Giám đốc Dự án.
Giám đốc Dự án có một số nhiệm vụ chính sau:
- Là đại diện hợp pháp của Ban Quản lý Dự án trong quan hệ với MDTF, BQL Chương
trình, các đối tác phát triển và các bên liên quan;
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Dự án;
- Đảm bảo đạt được chất lượng và hiệu quả trong triển khai các hoạt động của Dự án;
- Đảm bảo thực hiện đúng tiến độ các hoạt động theo kế hoạch đã được phê duyệt;
- Đảm bảo tuân thủ các quy định về định mức và chế độ tài chính - kế toán theo yêu cầu
của các đối tác phát triển và Chính phủ Việt Nam;
- Thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo cho Ban chỉ đạo Chương trình, Hiệp hội Doanh
BQLDA sẽ xem xét việc ký kết hợp đồng thực hiện một số gói thầu với một số tổ chức
nghiên cứu, triển khai có uy tín, giầu kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý kinh tế, đề xuất chính
sách hỗ trợ DNNVV như Viện Kinh tế Việt Nam( Viện Khoa học và xã hội Việt Nam), Viện
Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Viện Nghiên cứu Thương
mại (Bộ Công Thương), đồng thời sẽ mời và tuyển chọn một số chuyên gia tư vấn công tác tại
các trường, cơ quan kinh tế khác.
- Sự tham gia của các bên có liên quan: Các chuyên gia sẽ được tham vấn ý kiến hoặc phỏng
vấn bằng phiếu hỏi trong các hoạt động điều tra khảo sát, hoạt động xây dựng mô hình văn
phòng tư vấn hỗ trợ DNNVV, hoạt động xây dựng hệ thống thông tin. Trước khi đệ trình bản
báo cáo về chính sách hỗ trợ các DNNVV ở khu vực Nông thôn, BQLDA tổ chức thảo luận, xin
ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV. BQLDA cũng sẽ
tham vấn ý kiến của các nhà tài trợ khi được yêu cầu.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ DỰ ÁN
Ban Chỉ đạo Chương trình hỗ
trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO
Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việt Nam
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN
Giám đốc
Kế toán Dự án
Cán bộ thực hiện
Dự án
Cán bộ
hành chính
việc và hệ thống
kiểm soát nội bộ
2. Kế hoạch và tiến độ thực hiện Dự án: (xem Phụ lục 4 đính kèm)
V. ĐẦU VÀO VÀ CHI PHÍ
1. Nguồn lực tài chính:
22
Nguồn lực tài chính từ Ngân sách Nhà nước và hỗ trợ của Chương trình HTKT hậu gia
nhập WTO giai đoạn II;
a) Nguồn hỗ trợ của Chương trình HTKT hậu gia nhập WTO năm thứ 2 giai đoạn II
Vốn ODA từ Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO: 300.000 USD. Số vốn này
dùng để chi trả cho các hoạt động của Dự án theo quy định của Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu
gia nhập WTO (biểu mẫu ngân sách chi tiết phụ lục 2.1)
b) Đối với vốn đối ứng
Vốn đối ứng của cơ quan đề xuất: 30.000$ tương đương với 600.000.000 VNĐ.
Trong đó: Hiện vật: tương đương 300.000.000 VND (Cơ sở vật chất, phương tiện làm
việc); Tiền mặt: 300.000.000 VND (các chi phí phụ cấp cho cán bộ làm việc tại Ban Quản lý Dự
án, họp, xây dựng quy chế, quyết định thành lập Ban quản lý dự án…).
(Dự toán chi tiết kinh phí đối ứng được kèm theo tại Phụ lục 3 văn kiện Dự án này)
2. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được huy động cho Dự án bao gồm các vị trí trong Ban Quản lý Dự án của
Hiệp hội DNNVV Việt Nam, chuyên gia Hiệp hội DNNVV Việt Nam, chuyên gia của Viện
Khoa học quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyên gia các Bộ, ngành và địa phương có liên
quan; các tổ chức, chuyên gia độc lập trong nước tham gia thực hiện các hoạt động của dự án
theo cơ chế tuyển chọn và ký hợp đồng.
VI. BIỂU MẪU NGÂN SÁCH (Phụ lục 2.1, 2.2 đính kèm)
VII. ĐÁNH GIÁ RỦI RO, TÍNH BỀN VỮNG VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG.
nâng cao nhận thức và năng lực cạnh tranh của các DNNVV Việt Nam.
2. Rủi ro
Rủi ro
Đánh giá mức
rủi ro (thấp,
trung bình, cao)
Biện pháp giảm thiểu rủi ro
Một số Hội doanh nghiệp địa
phương chưa sẵn sàng cho việc
thực hiện thí điểm mô hình Văn
phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV.
Thấp
Tham vấn, chọn lựa các Hội
Doanh nghiệp địa phương lân cận.
Chuyên gia tư vấn không đáp
ứng được yêu cầu.
Trung bình
Ngân sách Dự án không đáp ứng
tiến độ.
Trung bình
Các đánh giá thực hiện dự án được thể hiện trong khung logic, bao gồm cả đánh giá giữa
kỳ và cuối kỳ. Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu của MDTF và BQL Chương trình, việc tiến hành
đánh giá đột xuất cũng có thể được tiến hành.
Ngoài ra, các đánh giá của đại biểu tham dự các hoạt động của Dự án (hội thảo, khóa đào
tạo, tham quan học tập kinh nghiệm,...) cũng sẽ được BQLDA báo cáo về Chương trình làm căn
cứ đánh giá chất lượng Dự án.
BQLDA cũng sẽ tuân thủ các yêu cầu về cơ chế báo cáo, theo dõi và đánh giá theo quy
định tại Quyết định 803/2007/BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về cơ chế báo cáo trong các dự
án ODA. Đồng thời, công tác theo dõi, kiểm điểm và đánh giá Dự án này cũng sẽ được kết hợp
24
với các dự án có liên quan khác, như Dự án tài chính nông thôn III và Dự án hỗ trợ thương mại
đa biên III để tránh trùng lặp và phát huy hiệu quả sử dụng vốn viện trợ từ các đối tác phát triển.
2. Về truyền thông các kết quả của Dự án:
BQLDA tổ chức xây dựng các nội dung bài viết về hoạt động, tiến độ, kết quả của Dự án qua các
giai đoạn: khởi động, 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng.
Chiến lược xây dựng Nội dung truyền thông:
- Bài viết tổng quan giới thiệu giai đoạn khởi động, xuất xứ Dự án, mục tiêu, nội dung hoạt
động, đối tượng hưởng lợi kết quả Dự án, vai trò của Nhà tài trợ, sự hỗ trợ của Chương
trình BWTO đối với Dự án.
- Các bài viết giới thiệu tiến độ thực hiện dự án, kết quả đạt được, sự hỗ trợ của các chuyên
gia thuộc Chương trình BWTO, sự quan tâm của Nhà tài trợ đối với tiến độ thực hiện Dự
án qua các giai đoạn: 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng.
- Các Tin tức & Sự kiện về Dự án.
Chiến lược truyền thông:
Các bài viết &Tin tức –Sự kiện sẽ được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng:
- Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ,
- Cổng Thông tin điện tử của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia,
- VINASME sẽ xây dựng một chuyên mục trên trang web và thường xuyên cập nhật để