VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC Á
GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng – TS. Trần Quang Minh
(Chủ biên)
ĐỐI SÁCH CỦA CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ
Ở ĐÔNG BẮC Á TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN
ĐỀ NỔI BẬT CỦA KHU VỰC
GIAI ĐOẠN 2011 – 2020
(Sách chuyên khảo)
Hà Nội, 2013
1
Tập thể tác giả
GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng
TS.Trần Quang Minh
TS. Đặng Xuân Thanh
TS. Phạm Quí Long
TS. Trần Thị Nhung
TS. Hoàng Minh Hằng
ThS. Phạm Thị Xuân Mai
ThS. Phan Cao Nhật Anh
2
MỤC LỤC
Trang
5. Về các vấn đề xã hội
II. CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC
3
1. Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng
2. Về thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
3. Về chính trị - ngoại giao
4. Về các vấn đề an ninh phi truyền thống
5. Về các vấn đề môi trường
6. Về ứng phó với biến đổi khí hậu
7. Về các vấn đề xã hội
III. CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC
1. Về điều chỉnh mô hình tăng trưởng
2. Về đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
3. Về chính trị - ngoại giao
4. Về các vấn đề an ninh phi truyền thống
5. Về các vấn đề môi trường
6. Về ứng phó với biến đổi khí hậu
7. Về các vấn đề xã hội
IV. CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐÀI LOAN
1. Về sự thay đổi mô hình tăng trưởng
2. Về đẩy mạnh hội nhập kinh tế
3. Về chính trị - ngoại giao
4. Về các vấn đề môi trường
5. Về ứng phó với biến đổi khí hậu
Chương 3: NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
I. NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ
1. Về những điểm chung trong đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở
Đông Bắc Á trong việc ứng phó với các vấn đề nổi bật của khu vực
Hiệp định thương mại tự do Đông Á
EAS
Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
EIU
Cơ quan phân tích, đánh giá, và dự báo kinh tế
EU
Liên minh châu Âu
FTA
Hiệp định tự do thương mại
FTAAP
Khu vực Mậu dịch tự do châu Á - Thái Bình Dương
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF
Quỹ Tiền tệ quốc tế
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, Đông Bắc Á vẫn được coi là
khu vực năng động nhất trong nền kinh tế thế giới, với đầu tầu tăng trưởng là
kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, khu vực này cũng tiềm ẩn khá nhiều rủi ro về
bất ổn chính trị và an ninh, với sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc và sự
gia tăng vai trò và sự hiện diện của Mỹ ở châu Á. Các điểm nóng tiềm tàng như
vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan, và
tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa các nước trong khu vực như Nhật – Trung,
Nhật – Hàn, Nhật – Nga... vẫn ở trong trình trạng bấp bênh, lúc thăng lúc trầm...
Và nhiều vấn đề khác như các vấn đề an ninh phi truyền thống, môi trường và
những hệ lụy của biến đổi khí hậu, được dự báo sẽ tiếp tục là những vấn đề nổi
bật của khu vực Đông Bắc Á trong thập kỷ tới. Tất cả những thách thức nói trên
đã, đang và sẽ tiếp tục có những tác động không nhỏ đến sự phát triển của mỗi
quốc gia nói riêng và đến cả khu vực nói chung. Các nước trong khu vực không
thể không có những phản ứng chính sách nhằm ứng phó với những thách thức
này.
Đối với Việt Nam, thứ nhất, những vấn đề nổi bật trong các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội, môi trường… có tác động và ảnh hưởng
quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải theo dõi sát sao, phân tích thấu đáo, đánh giá
khoa học, và dự báo một cách chính xác. Thứ hai, đối sách của các quốc gia và
vùng lãnh thổ trong khu vực trong việc xử lý các vấn đề, thách thức nổi bật trên
sẽ cung cấp những hiểu biết quý báu cho giai đoạn gấp rút hoàn thành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thập niên tới của Việt Nam. Thứ ba, trên cơ sở
tổng hợp các phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và xu thế biến chuyển của
Đông Bắc Á, cũng như các bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực,
kiến nghị các đối sách và giải pháp kịp thời, hiệu quả để thực hiện thắng lợi kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 và Chiến lược xây dựng đất nước
2011-2020.
Với những lý do trên, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á – Viện KHXH Việt
Nam cho ra mắt bạn đọc cuốn sách “Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ
ở Đông Bắc Á trong việc giải quyết các vấn đề nổi bật của khu vực giai đoạn
qua do các doanh nghiệp là động lực chính. Cho đến nay đã hình thành các
chuỗi giá trị và mạng sản xuất xuyên quốc gia, từng bước kết nối hạ tầng giao
thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng, v.v. Tuy nhiên, do tiến trình này
diễn ra không đồng đều, nên đã hình thành một nhóm các nền kinh tế vượt lên
trước trong hội nhập theo chiều từ dưới lên gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
Bản và Đài Loan, trong khi vùng Viễn Đông của Nga, Mông Cổ và nhất là Triều
Tiền lại tụt hậu khá xa. Thương mại ba bên Trung-Nhật-Hàn đã tăng hơn 4 lần
từ 130 tỷ USD, tương đương khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại của ba
nền kinh tế này vào năm 1999 - năm khởi đầu quan hệ tay ba, lên 690 tỷ USD
tức là vượt 35% tổng kim ngạch thương mại của ba nền kinh tế này vào năm
2011. Trung Quốc đã thay thế Mỹ và EU trong vai trò đối tác thương mại số 1
của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, trong khi ba nền kinh tế này lần lượt là
đối tác thương mại thứ 4, 6 và 10 của Trung Quốc. Đài Loan, Nhật Bản, Hàn
Quốc là ba nhà đầu tư hàng đầu vào Thị trường Trung Quốc với tổng vốn FDI
tích lũy tương ứng lần lượt vượt 200 tỷ, 80 tỷ USD và 50 tỷ USD vào cuối 20112.
Bốn nền kinh tế này còn thúc đẩy hợp tác sâu rộng trong các lĩnh vực vận tải và
logistic, thông tin liên lạc, hải quan, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khoa học-công
1
. Chi tiết xem Báo cáo tổng hợp đề tài mũ Chương trình cấp Bộ 2009-2010 của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
“Một số vấn đề nổi bật về chính trị-kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á giai đoạn 2011-2020” do GS. TS. Nguyễn
Xuân Thắng làm Chủ nhiệm
2
China’s MOFA. China-Japan-ROK Cooperation (1999-2012).
8
nghệ, văn hóa-xã hội, riêng Trung-Nhật-Hàn còn đẩy mạnh hợp tác về tài chínhtiền tệ. Đây cũng là những nền kinh tế có mức độ tham gia vào phân công lao
động quốc tế khá sâu với sự liên kết rất chặt chẽ và dày đặc của các mạng sản
ASEAN làm trung tâm. Sự thật là việc “đi nhờ xe” này mặc dù đã giúp các nước
Đông Bắc Á ít nhiều xích lại gần nhau, nhưng ngày càng không đáp ứng những
nhu cầu mới của các nước này, chẳng hạn như nhu cầu hợp tác về tài chính-tiền
tệ, phát triển thị trường vốn khu vực, xây dựng cơ chế hỗ trợ cán cân thanh toán,
kiểm soát rủi ro và phòng chống khủng hoảng tài chính, tái cấu trúc kinh tế,
quản trị rủi ro tranh chấp thương mại, tỷ giá, v.v. Điều này đã thúc đẩy hội nhập
kinh tế Đông Bắc Á có những bước tiến quan trọng như ký kết Hiệp định đầu tư
Nhật-Hàn, Sáng kiến Chiang Mai đa phương hóa (CMIM).
9
Tiến trình hội nhập Đông Bắc Á có thể sẽ vẫn chỉ quanh quẩn ở việc “đi
nhờ xe” hội nhập của Đông Nam Á nếu không xuất hiện từ cuối năm 2007 một
“sức ép bên ngoài” mới – đó là việc Mỹ thúc đẩy TPP nhằm lôi kéo các nước
Đông Á3. Trung Quốc cảm nhận được sức ép này rõ hơn cả. Vì vậy, gần như
ngay lập tức hàng loạt bước đột phá chưa từng có đã được thực hiện như thiết
lập cơ chế hội nghị thượng đỉnh tay ba Trung-Nhật-Hàn (2008), ký kết Hiệp
định khung về hợp tác kinh tế Trung-Đài (2010), Hiệp định đầu tư Trung-NhậtHàn (2012), Thỏa thuận Trung-Hàn (tháng 12/2008) và Trung-Nhật (tháng
1/2012) về bước đầu thực hiện hoán đổi ngoại tệ và thanh toán một số hạng mục
thương mại song phương bằng các đồng nội tệ mà không thông qua trung gian là
đồng đôla Mỹ, thành lập Ban thư ký ba bên thúc đẩy FTA Trung-Nhật-Hàn, khả
năng tái khởi động đàm phán FTA song phương Nhật-Hàn. Để duy trì vai trò
trung tâm của mình trong hội nhập khu vực Đông Á, tiến trình hợp nhất các
FTA đã ký giữa ASEAN với từng đối tác riêng rẽ trong khuôn khổ ASEAN+6
cũng có động thái mới – khởi động thảo luận Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện
khu vực (RCEP) từ đầu năm 2013.
Thứ ba, đó là tác động của quá trình toàn cầu hóa. Các cuộc khủng hoảng
tài chính Châu Á 1997-1998 và khủng hoảng tài chính thế giới kéo theo suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009 chính là những cú huých quan trọng đối với
tiến trình hội nhập kinh tế ở Đông Bắc Á. Bất chấp việc có sự năng động vượt
kinh tế5.
Cần lưu ý rằng, chỉ trong vòng 10 năm vừa qua, Trung Quốc đã từ vị thế
thụ động, đi sau trong tiến trình hội nhập Đông Bắc Á ngày càng trở thành nhân
tố đi đầu thúc đẩy tiến trình này. Một là trong tầm nhìn đến năm 2020, do sự
giảm tốc của toàn cầu hóa, tăng trưởng trì trệ kéo dài của các thị trường chủ chốt
là Mỹ, EU và Nhật Bản, Trung Quốc có vị thế cực kỳ thuận lợi để trở thành
động lực cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực.Với mức tăng trưởng hàng năm
được dự báo khoảng 7% - 8% trong thập kỷ này, vượt xa mức tăng trưởng trung
bình 5,5% của toàn khu vực, Trung Quốc có địa vị gần như duy nhất trong việc
hỗ trợ tăng trưởng cho tất cả các nền kinh tế Đông Bắc Á, điều sẽ đẩy mức độ
phụ thuộc của các nền kinh tế này vào Trung Quốc lên một cấp độ cao hơn. Hai
là, mặc dù có lợi thế so sánh thấp nhất so với hai đối tác Nhật Bản và Hàn Quốc
trong lĩnh vực đầu tư, và do đó ở thế yếu hơn trong Hiệp định đầu tư TrungNhật-Hàn6, nhưng Trung Quốc lại có lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực thương
mại, do đó có thể trở thành lực đẩy quan trọng cho tiến trình xây dựng hiệp định
thương mại tự do Đông Bắc Á. Trên thực tế, Trung Quốc đã trở thành mắt xích
sản xuất và xuất khẩu trung tâm của mạng sản xuất khu vực. Các dòng thương
mại, đầu tư, năng lượng, du lịch, lao động giữa Trung Quốc và các nền kinh tế
xung quanh đang tăng nhanh. Việc Ôxtralia bán khoáng sản ồ ạt cho Trung
Quốc, Nga xây dựng các tuyến ống cung cấp dầu khí cho Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc và Đài Loan tiếp tục đổ FDI vào Trung Quốc, đồng thời nhập khẩu
hàng tiêu dùng nhiều hơn từ thị trường này, trong khi kinh tế Mông Cổ, Triều
Tiên và vùng Viễn Đông của Nga sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào dòng đầu tư
từ Trung Quốc là những bằng chứng rõ ràng. Trung Quốc cũng trở thành mắt
xích kết nối mạng lưới các thể chế hội nhập kinh tế với FTA với ASEAN, các
hiệp định hợp tác kinh tế (CEPA) với Hồng Công và Macao, ECFA với Đài
Loan, hiệp định đầu tư ba bên với Nhật Bản, Hàn Quốc, đang đàm phán CJK
FTA, cũng như FTA song phương với Ôxtralia và New Zealand. Ba là sự nổi
lên của đồng Nhân dân tệ như một đồng tiền quốc tế mới, chỉ trong vòng hai
năm 2009-2011 đã tăng từ 0% lên 9% tổng giao dịch thương mại của Trung
Quốc. Năm 2011 Trung Quốc cho phép phát hành trái phiếu công ty và hoạt
nơi7, trong đó Nga, Mông Cổ, Triều Tiên là những địa chỉ chủ yếu tại khu vực.
Việc Mỹ bất ngờ nắm quyền chủ đạo trong đàm phán TPP vào năm 2008,
hơn 3 năm sau khi bốn nền kinh tế là Chile, Singapore, Brunei và New Zealand
khởi xướng tiến trình hội nhập xuyên Thái Bình Dương này, đã gây cú huých rất
mạnh cho tiến trình hội nhập kinh tế ở Đông Bắc Á nói riêng và Đông Á nói
chung8. Hàng loạt các chuyển động sau đó như việc ký kết Hiệp định khung về
hợp tác kinh tế Trung-Đài (ECFA), Hiệp định đầu tư Trung-Nhật-Hàn, khởi
động đàm phán FTA Trung-Hàn và Trung-Nhật-Hàn, khai mạc thảo luận Hiệp
định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác trong
khuôn khổ ASEAN+6 dự định sẽ ký kết vào năm 2015 cho thấy rõ tác động này.
Ngay cả những nền kinh tế hiện còn kém hội nhập như vùng Viễn Đông của
Nga, Mông Cổ, và cả Triều Tiên nếu nước này tiến hành cải cách kinh tế, cũng
có những động thái hưởng ứng xu thế này. Mặc dù định hướng chiến lược chính
vẫn hướng về Châu Âu9, LB Nga sẽ thúc đẩy việc thực hiện Chương trình phát
triển vùng Đông Siberi và Viễn Đông đến 2025 nhằm dựa vào tiềm năng của khu
vực rộng lớn này để hội nhập sâu hơn vào Châu Á-Thái Bình Dương, thu hút
đầu tư từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, … chứ không phải một mình Trung
Quốc như hiện nay. Việc Nga trở thành thành viên thứ 156 của WTO sau gần
hai thập niên đàm phán cũng sẽ thúc đẩy xu hướng hội nhập trên. Đặc biệt, Nga
sẽ sử dụng chính trị khí đốt và chính trị đường ống (pipeline politics)10 như đòn
bẩy chiến lược để phát triển mạng lưới các tuyến ống dầu khí kết nối khu vực
Viễn Đông của nước này với các thị trường Châu Á chủ chốt như Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc. Chương trình khí đốt phía Đông công bố năm 2007 và
Chiến lược năng lượng của Nga đến năm 2030 công bố năm 2009 đề ra mục
7
Abraham Denmark, Nirow Patel (Ed.). A Strategic Framework for Global Relationship. Center for a New
American Security, Sep. 2009.
8
Guoyou Song, Wen Jin Yuan. China’s Free Trade Agreement Strategies// The Washington Quarterly, 35:4,
Châu Á mở rộng” tiếp tục mạnh lên có thể thúc đẩy việc hình thành ở giai đoạn
đầu một khối kinh tế lớn Đông Á (quasi-block) cạnh tranh với khối Bắc Mỹ và
Châu Âu. Tuy nhiên, việc thiếu vắng cơ chế hợp tác vững chắc tại khu vực này
sẽ kích thích cạnh tranh giữa 3 cường quốc khu vực là Trung Quốc, Nhật Bản và
Ấn Độ về thị trường và tài nguyên, đặc biệt là các nguồn cung năng lượng14.
Điều đáng lo ngại là xu thế hội nhập địa kinh tế tại Đông Bắc Á lại diễn ra
trái chiều với xu thế cạnh tranh, chia cắt khu vực về địa chính trị. Một là, tăng
cường cạnh tranh Mỹ-Trung về chính trị và an ninh không tránh khỏi gây hiệu
ứng lan tràn (spillover effect) sang cả lĩnh vực kinh tế. Từ quan điểm của Mỹ,
một Châu Á gắn kết hơn có thể chấp nhận được nếu điều đó có tính ràng buộc
hơn đối với các thế lực lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ – tức là một
khuôn khổ đa phương cho trật tự khu vực đa cực không loại trừ sự tham gia của
Mỹ. Hai là, việc Washington bất ngờ sử dụng TPP như công cụ lôi kéo tiến trình
hội nhập khu vực về phía Mỹ. Nhật Bản, Hàn Quốc và thậm chí cả Đài Loan
đang được mời gọi tham gia TPP, trong đó Tokyo đã tuyên bố sẽ tham gia tiến
trình đàm phán, Seoul tuyên bố xem xét khả năng tham gia, còn Đài Bắc mới
11
Russian Federation. The Energy Strategy for a Period up to 2030. Moscow, 2009 (in Russian).
Heo Mane. Toward Northeast Asian Community//The Korea Times, Nov. 19, 2009; Byung-woon Lyou.
Building the Northeast Asian Community//Indiana Journal of Global Legal Studies, Vol. 11, Issue 2, 2004;
13
Andrew Elek. Northeast Asian economic integration: APEC or FTA games?//EastAsiaForum, November 17,
2010.
14
National Intelligent Council. Global Trends 2025: A Tranformed World. November 20, 2008.
12
13
FTA đầu tiên gồm ba nền kinh tế chủ chốt Trung-Nhật-Hàn vào khoảng giữa
thập niên này – cơ chế sẽ đóng vai trò hạt nhân hội nhập, tạo lực hút lôi kéo các
nền kinh tế còn lại như Mông Cổ và Nga cùng tham gia theo kiểu “sẻ hợp bầy”
hơn là “đàn nhạn bay” trong tầm nhìn đến năm 202019. Tuy nhiên, các trở lực về
chính trị, an ninh tăng lên sẽ ngăn quá trình này khó tiến xa hơn, chẳng hạn tới
15
Lori Wallach. NAFTA on Steroids//The Nation, July 16, 2012.
The Brookings Institution, 2010.
17
Min Gyo Koo, Seungjoo Lee, Vinod K. Aggarwal. The Future of Northeast Asia’s Institutional Architecture
18
Chung-in Moon. The Politics of Northeast Asian Regional Integration: Opportunity, Constraints, and
Prospects. Waseda University, August 3-7, 2009.
19
. Chi tiết xem Báo cáo tổng hợp đề tài mũ Chương trình cấp Bộ 2009-2010 của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
“Một số vấn đề nổi bật về chính trị-kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á giai đoạn 2011-2020” do GS. TS. Nguyễn
Xuân Thắng làm Chủ nhiệm
16
14
một liên minh thuế quan hay liên minh tiền tệ theo xếp loại kinh điển của Bela
Balassa20. Một trong những cách để thoát khỏi tình trạng bế tắc đó là xây dựng
cộng đồng kinh tế - cấp độ thứ ba trong phân loại của Chung-in Moon - một mô
hình rất được ưa chuộng ở Đông Á vì dựa trên sự phối hợp không ràng buộc về
chính sách giữa các nền kinh tế khác mô hình thị trường chung hay liên minh
kinh tế được thể chế hóa cao độ theo kiểu Châu Âu.
2. Tái cấu trúc các nền kinh tế
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
“trăm năm một lần” mới chính là chấn động chưa từng có, làm đảo lộn trật tự
kinh tế hiện hành, thay đổi lợi thế so sánh của các nền kinh tế, mức giá tương
20
Bela Balassa. The Theory of Economic Integration. R.D. Irwin, 1961.
15
đối giữa các hàng hóa và dịch vụ, buộc tất cả phải tái cấu trúc. Hậu quả của cuộc
khủng hoảng như xu hướng toàn cầu hóa giảm tốc, triển vọng chưa rõ ràng về
một làn sóng đổi mới công nghệ tiếp theo, sức cầu trì trệ của các thị trường tiêu
thụ hàng đầu như Mỹ, EU, các rủi ro và nguy cơ bất ổn tăng cao làm lộ rõ hơn
bao giờ hết các mất cân đối, kém hiệu quả, tính chất dễ bị tổn thương ở các nền
kinh tế theo mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu ở Đông Bắc Á, khiến
không thể chần chừ lâu hơn nữa những chuyển đổi căn bản về cơ cấu kinh tế.
Tái cấu trúc kinh tế nhằm ít nhất 3 mục tiêu: i) Khắc phục các bất ổn vĩ mô, lấy
lại cân bằng cho nền kinh tế; ii) Tái tạo động lực tăng trưởng mới dựa trên các
lợi thế so sánh mới, thay thế các động lực cũ đã mất tính cạnh tranh; iii) Nắm bắt
những ngành nghề, lĩnh vực mới sẽ đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng trong tương
lai nhằm chống tụt hậu, nâng cao hơn vị thế của nền kinh tế trong chuỗi giá trị
và mạng sản xuất khu vực và toàn cầu.
Tái cấu trúc các nền kinh tế Đông Bắc Á không đơn thuần là việc phân bổ
lại các nguồn lực phát triển giữa các ngành nghề, lĩnh vực, vùng miền hay tầng
lớp xã hội, mà còn là quá trình cải cách kinh tế-chính trị sâu sắc. Cơ cấu kinh tế
cũ đã tồn tại trong một thời gian dài gắn với những nhóm lợi ích hùng mạnh có
sức cố kết lớn trở thành các lực lượng bảo thủ cố sức duy trì và “tái sản xuất mở
rộng” cơ cấu cũ. Chính vì thế, tái cấu trúc kinh tế đòi hỏi phải thắng được sức ỳ
thể chế, cũng như trở lực của các nhóm lợi ích gắn với chúng.
vào tháng 3/2012, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã giải thích: “Không chắc chắn hàm
ý đầu tư quá nóng cũng như cung tín dụng và thanh khoản quá nhiều, thặng dư
cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế quá lớn. Không cân đối hàm ý
sự phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền
khác nhau và giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Thiếu phối hợp có
nghĩa là thiếu sự cân đối cần thiết giữa các lĩnh vực thứ nhất, thứ hai và thứ ba,
cũng như giữa đầu tư và tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dẫn dắt bởi đầu
tư và xuất khẩu. Phát triển không bền vững hàm ý rằng chúng ta đã không làm
tốt việc tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường”. Theo nhận định của giáo sư
Michael Pettis từ Đại học Bắc Kinh, mô hình tăng trưởng không cân đối
(unbalanced growth model) của Trung Quốc dựa trên “ba cái thấp” là tiền lương
thấp, lãi suất thấp và tỷ giá đồng nội tệ thấp nhằm đảm bảo cung cấp “ba cái rẻ”
là lao động rẻ, vốn rẻ và đất đai, tài nguyên, môi trường rẻ, chuyển tỷ lệ tiết
kiệm rất cao của người dân thành tín dụng giá rẻ cho khu vực doanh nghiệp, đặc
biệt là các nhà xuất khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng và kinh doanh bất động sản, đã
đạt đến ngưỡng tới hạn21.
Thứ nhất, có dấu hiệu cho thấy đang tiến tới “điểm ngoặt Lewis” (Lewis’s
point) tức là khi tiền công bắt đầu tăng nhanh hơn năng suất lao động. Thứ hai,
tỷ lệ dân số giữa thành thị và nông thôn lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 50/50 đòi
hỏi phải thay đổi “mô hình tăng trưởng nhị nguyên” và mô hình quản trị xã hội
tập trung-quan liêu, sang mô hình dựa nhiều hơn vào dịch vụ và vào vai trò tự
chủ của xã hội dân sự. Thứ ba, bất bình đẳng và bất mãn xã hội đã đến mức báo
động, chi ngân sách cho đảm bảo an ninh, trật tự xã hội lần đầu tiên vượt chi tiêu
cho quốc phòng. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chỉ số GINI về bất
bình đẳng thu nhập của Trung Quốc đã tăng nhanh từ 41,5 vào năm 1995 lên
43,8 vào năm 2000 và được dự báo sẽ đạt 47,4 vào năm 202022 - mức báo động
nguy cơ xảy ra động loạn xã hội. Thứ tư, hình thành các nhóm lợi ích hùng
mạnh ngăn cản những bước cải cách tiếp theo. Thứ năm, hình thành các bong
bóng tài chính, bất động sản và nợ công của các chính quyền địa phương với hậu
quả khó lường đối với hệ thống tài chính-ngân hàng và toàn nền kinh tế. Từ góc
cơ cấu ngành với trọng điểm là đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ, chấn hưng
10 ngành như ô tô, thép, điện tử viễn thông, … , và phát triển các ngành mới nổi
mang tính chiến lược như năng lượng mới (điện phong, pin mặt trời, …), hàng
không vũ trụ, y dược sinh học, … Trung Quốc thông báo kế hoạch đầu tư 5 ngàn
tỷ NDT (tương đương 738 tỷ USD) trong giai đoạn 2011-2020 để phát triển
năng lượng sạch nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào các nguồn hydrocarbon ngày
càng khan hiếm như than đá, dầu lửa và khí đốt; 3) Đổi mới cơ cấu khu vực với
trọng điểm là thực hiện chiến lược phát triên cân đối hơn giữa các vùng miền,
ưu tiên phát triển miền Trung, Tây và Đông Bắc; 4) Đẩy nhanh chuyển dịch cơ
cấu thành thị/nông thôn với trọng tâm là thực hiện đô thị hóa bền vững, đổi mới
công tác quản trị xã hội và tăng cường thực hiện tam nông24. Tuy nhiên, theo
báo cáo Trung Quốc năm 2030 của WB, nội dung của cải cách cơ cấu sắp tới
của Trung Quốc sẽ phức tạp hơn nhiều, trong đó ưu tiên trước hết là “xác định
lại vai trò của nhà nước, cải cách và cấu trúc lại các doanh nghiệp và ngân hàng
quốc doanh, phát triển khu vực tư nhân, thúc đẩy cạnh tranh và làm sâu sắc các
cải cách về đất đai, lao động và thị trường tài chính”25.
Cần lưu ý, những chủ trương cụ thể như thay đổi chiến lược thu hút đầu
tư nước ngoài nhấn mạnh vào thu hút công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý
tiên tiến và nhân tài; thúc đẩy các doanh nghiệp Trung Quốc “đi ra ngoài” mở
rộng thị phần, thâu tóm các tài sản chiến lược ở các nước khác, chuyển các khâu
sản xuất đã hết lợi thế cạnh tranh sang các nước kém phát triển hơn; đẩy mạnh
thực hiện chiến lược biển, … sẽ tác động trực tiếp và nhanh chóng đến toàn khu
vực26.
23
Dynkin A.A. (Ed.). Strategic Global Outlook. IMEMO, 2011 (in Russian). P. 106.
Lưu Văn Sơn. Báo cáo đề dẫn đọc tại Hội thảo Lý luận lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng
Cộng sản Trung Quốc. Hạ Long, tháng 6/2012.
25
WB. China 2030. Washington DC, 2012.
2,1% của Mỹ và 7% – 7,5% của Trung Quốc. Sự thực là kinh tế Nhật Bản đang
tiến dần tới ngưỡng khủng hoảng do tiết kiệm của người dân đã giảm từ 25%
vào năm 1990 xuống 16% vào năm 2000 và tiếp tục sụt xuống mức thấp kỷ lục
khoảng 2% – 4% hiện nay. Điều này hàm ý rằng không còn xa đến lúc chính
phủ không chỉ buộc phải tăng lãi suất vay nợ trong nước, mà còn phải vay nợ từ
các nguồn tín dụng bên ngoài kéo theo chi phí vốn vay tăng lên. Trong bối cảnh
đó, thảm họa “3 trong 1” động đất – sóng thần – sự cố hạt nhân Fukushima vào
tháng 3/2011 như giọt nước tràn ly, tạo cú huých cho quá trình tái cấu trúc kinh
tế Nhật Bản. Thứ nhất, do lợi thế cạnh tranh trong sản xuất các sản phẩm tiêu
dùng cuối cùng như TV, máy giặt, điều hòa nhiệt độ, … đang giảm sút nhanh
chóng, cơ cấu sản xuất công nghiệp và cơ cấu xuất khẩu của Nhật Bản sẽ tiếp
tục chuyển dịch mạnh lên phía thượng nguồn của chuỗi cung nhằm bảo vệ vị thế
của nền kinh tế này là trung tâm tài chính lớn nhất Châu Á, đồng thời là mắt
xích trung tâm về công nghệ cao, nơi sản xuất các sản phẩm trung gian tinh vi
nhất của toàn khu vực như linh kiện vi điện tử, vật liệu bán dẫn, sản phẩm hóa
tinh vi, thép đặc chủng, vật liệu từ sợi carbon tổng hợp dùng trong công nghiệp
27
Minxin Pei. Why China Can’t Adjust. Project-Syndicate, October 10, 2012.
People’s Daily Online. Wen says China needs political reform, warns of another Cultural Revolution without
reforms. March 14, 2012.
28
19
hàng không, ô tô chạy điện và hydro, … 29. “Sáng tạo xanh” được cho là một
trong 4 lĩnh vực then chốt của Chiến lược tăng trưởng mới mà Đảng Dân chủ
Với việc thay 14 đời thủ tướng trong hai thập niên và 6 thủ tướng trong 6 năm
gần đây, chưa kể đến nhiều lần thay đổi nội các dưới thời một thủ tướng, cái mà
nước này cần là một cuộc cải cách chính trị căn bản hơn là chỉ tái cơ cấu về kinh
tế.
- Đối với Hàn Quốc
29
Claude Meyer. Post-Tsunami Japan//Politique Internationale, No. 131, 2011.
Ba lĩnh vực còn lại là “sáng tạo cho cuộc sống” (y tế, chăm sóc sức khỏe), “hướng vào kinh tế châu Á” (đưa
Nhật Bản trở thành trung tâm công nghiệp Châu Á, đào tạo nhân lực chất lượng cao, cung cấp kết cấu hạ tầng,
cung cấp ý tưởng, tiêu chuẩn, giá trị cho khu vực), “du lịch và kinh tế địa phương”. Xem Government of Japan.
The New Growth Strategy: Blueprint for Revitalising Japan. Tokyo, 2010.
31
Dunkin A.A. (Ed.). Strategic Global Forcast. IMEMO, 2011 (in Russian). P. 381.
30
20
Như đã trình bày ở mục I.3, trong những năm sau khủng hoảng tài chính
Châu Á 1997-1998, Hàn Quốc đã thực hiện những cải cách kinh tế sâu sắc theo
hướng tự do hóa, đặc biệt là đã tái cấu trúc rất mạnh các tập đoàn chaebol và hệ
thống tài chính-ngân hàng theo hướng minh bạch hóa và áp dụng các chuẩn mực
kinh doanh, kế toán quốc tế. Hàn Quốc đã thực hiện chính sách công nghiệp
theo hướng thúc đẩy chuyển dịch vốn ra khỏi các ngành đã mất lợi thế cạnh
tranh như thép, dệt may, hóa chất, điện tử, … để tập trung vào các ngành mới
như quang học, máy móc chính xác, màn hình tinh thể lỏng, v.v. Năng lực cạnh
tranh tổng thể của nền kinh tế được nâng lên giúp Hàn Quốc xuất siêu, tăng
mạnh dự trữ ngoại hối. Những cải cách kinh tế trên đã không thể thành công nếu
không có các cải cách chính trị quyết liệt theo hướng dân chủ hóa xã hội. Đây
33
Werner Pascha. South Korea’s Economic Policy Response to the Global Economic Crisis – A Comparative
Perspective. Freiburg-Nagoya Joint Seminar: The Aftermath of the Global Financial and Economic Crisis –
Lessons for Asia and Europe. Feiburg, 20-22 Sep. 2010.
34
Aki Fukuchi. South Korea’s Export Competitiveness: Critical to Overcoming the Global Crisis and Issues
Going Forward//Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ. Economic Review, Vol. 5, No. 2, Feb. 2010.
21
mô vừa và nhỏ - khu vực đang bị cạnh tranh ngày càng mạnh từ phía các nhà sản
xuất Đài Loan, Trung Quốc. Đây chính là khu vực cần nâng cấp trong những
năm tới. Về dài hạn, tương tự như Nhật Bản, do lợi thế cạnh tranh trong các
ngành chế tạo giảm dần nên Hàn Quốc sẽ phải cải cách lại hệ thống thuế, chính
sách công nghiệp, thị trường lao động, … để thực hiện bước chuyển dịch mạnh
hơn sang các ngành dịch vụ35. Cũng có những lo ngại nhất định về nguy cơ mô
hình tăng trưởng xanh sẽ không sản sinh đủ động lực cần thiết để đưa kinh tế
Hàn Quốc bước vào một chu kỳ phát triển mới bền vững, mà chỉ dừng lại ở mức
độ một trào lưu thời thượng, nặng tính dân túy, quảng bá hình ảnh, cuối cùng sẽ
đẩy Hàn Quốc vào “bẫy Nhật Bản”.
- Đối với Đài Loan
Cơ cấu kinh tế hiện nay của Đài Loan với 70% là công nghiệp chế biến,
25% là dịch vụ và 5% là nông nghiệp đang đối mặt với một loạt thách thức lớn:
i) Mức độ dễ bị tổn thương cao do phụ thuộc lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là tình
trạng “Chaiwan”, tức là phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc, trong khi
Đài Loan gặp khó khăn khó vượt qua trong việc chủ động mở cửa hơn nữa các
thị trường khác thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, còn đối
thủ kinh tế chủ yếu của Đài Loan là Hàn Quốc lại có lợi thế lớn về hội nhập kinh
tế quốc tế; ii) Sức ép “giải công nghiệp hóa” do việc di chuyển mạnh dòng vốn
EU, Nhật Bản và với các nước ASEAN37.
Các phân tích trên cho thấy, các nền kinh tế Đông Bắc Á sẽ đồng loạt có
những chuyển dịch về cơ cấu trong những năm tới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa
giảm tốc, tự do hóa kinh tế và mở cửa hướng vào xuất khẩu với vai trò là hai
trong số những thành tố chính đã góp phần tạo nên mô hình “sự thần kỳ Đông
Á” trong những thập niên qua không còn mạnh mẽ như trước, nếu không nói là
giảm sút, sẽ rất khó có một đường hướng chung trong chuyển dịch cơ cấu các
nền kinh tế tại khu vực như trước đây. Vì thế, các yếu tố nội sinh như sức cầu
trong nước, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, tiềm lực khoa học-công
nghệ, tài nguyên thiên nhiên, thể chế kinh tế-chính trị, các giá trị văn hóa, …
đang nổi lên như những nhân tố bổ sung, thậm chí là thay thế ở mức độ nhất
định động lực tự do hóa kinh tế. Điều này ủng hộ quan điểm hội nhập khu vực
kiểu “sẻ hợp bầy” chứ không phải “đàn nhạn bay”. Tuy nhiên, do quy mô và
trình độ chênh lệch quá lớn giữa các nền kinh tế Đông Bắc Á, nên quá trình này
có thể dẫn đến những kết quả khác nhau.
II. THAY ĐỔI CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VÀ AN NINH KHU VỰC, TĂNG
CƯỜNG HỢP TÁC VÀ CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC38
1. Xu hướng chuyển dịch cục diện chính trị, an ninh khu vực Đông Bắc Á
Để có thể dự báo xu hướng chuyển dịch cục diện chính trị, an ninh khu vực
Đông Bắc Á trong thập niên tới, trước hết cần xác định những nhân tố chủ yếu chi
phối cục diện này. Không thể phủ nhận rằng, nhân tố Mỹ và Trung Quốc là những
biến số đặc trưng cho hai nguồn cung sức mạnh chủ yếu nhất, cả về kinh tế lẫn chính
trị, an ninh đóng vai trò chi phối, kiến tạo không chỉ diện mạo, kết cấu, mà cả nền tảng
địa chính trị và địa kinh tế của khu vực. Các nguồn cung sức mạnh khác liên quan đến
khu vực như Nga, Ấn Độ hay ASEAN tuy có ảnh hưởng nhất định, nhưng không có
được vai trò dẫn dắt hay thay đổi cuộc chơi, mà thiên về mang tính ứng biến, lợi dụng
cơ hội, nên có mức độ tương liên cao với động thái chiến lược mang tính chủ động của
Trung Quốc và Mỹ, do đó có thể xem như các biến số phụ thuộc. Ngoài ra, cục diện
Đông Bắc Á còn được quyết định bởi khả năng của khu vực trong việc chủ động hấp
thu, thích ứng, tiếp biến hay kháng trở các tác động của hai nhân tố Mỹ và Trung Quốc
buộc phải lựa chọn một trong hai bên, dẫn tới tình trạng “Balkan hóa” (Balkanization)
– chia rẽ, thậm chí phân rã khu vực tương tự như tình trạng bán đảo Balkan sau Chiến
tranh Lạnh39. Các động thái gần đây như việc gia tăng đột biến các cuộc tập trận hải
quân quy mô lớn giữa Mỹ với các đồng minh Nhật, Hàn, Ôxtralia, Philippines và hàng
loạt các đối tác khác, việc Mỹ lôi kéo Nhật Bản, Hàn Quốc tham gia xây dựng lá chắn
tên lửa chung với Mỹ, hay việc Washington tăng cường thăm dò khả năng quay trở lại
các căn cứ quân sự tại Thái Lan, Philippines, Singapore, New Zealand, v.v, trong khi
đó Trung Quốc lại sử dụng đòn bẩy ODA và FDI để lôi kéo rất mạnh các nước như
Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, cho thấy chiều hướng này đang mạnh lên. Nếu
liên kết khu vực không chịu đựng được sự co kéo của Mỹ và Trung Quốc, các nước
trong khu vực sẽ bị phân hóa, cường độ cạnh tranh Mỹ-Trung càng bị đẩy lên cao, thì
theo Amitav Acharya, có thể xảy ra “kịch bản Trung Á thế kỷ 19” – hàm ý sự tranh
giành ảnh hưởng Trung-Mỹ tại Đông Á trở nên quyết liệt tương tự như giữa Nga và
Anh tại Trung Á vào thế kỷ 19 với các xung đột cục bộ xảy ra trên toàn tuyến ranh
giới ảnh hưởng giữa hai bên, đặc biệt là tại các điểm nóng tiềm tàng.
Cục diện chính trị, an ninh khu vực với kịch bản Mỹ “rút khỏi Châu Á”
Nếu Mỹ lún sâu vào khủng hoảng kinh tế đến mức buộc phải rút khỏi Châu Á
hay Đông Á, thì khoảng trống quyền lực này sẽ nhanh chóng biến thành “sân sau” của
Trung Quốc. Amitav Acharya gọi đây là “kịch bản Châu Mỹ thế kỷ 19” với việc Trung
Quốc đẩy các cường quốc bên ngoài ra khỏi Đông Nam Á và Đông Bắc Á tương tự
như việc Mỹ trỗi dậy vào thế kỷ 19 đã đẩy các cường quốc Châu Âu ra khỏi Tây Bán
cầu, làm hình thành một cục diện bá quyền đơn cực tại khu vực sân sau của họ. Kịch
bản này cũng dựa trên kinh nghiệm nửa thế kỷ can dự của Mỹ vào Đông Á từ Chiến
tranh Việt Nam đến nay đã có tới 2 lần Mỹ giảm quan tâm đối với khu vực: lần thứ
nhất vào cuối cuộc Chiến tranh Việt Nam – trên thực tế Mỹ hầu như đã rút khỏi khu
vực; lần thứ hai là trong thời gian Mỹ tiến hành chiến tranh ở Afghanistan và Iraq –
Mỹ cũng lơ là, coi nhẹ khu vực này. Tùy thuộc vào mức độ “rút lui” của Mỹ mà cục
diện khu vực có thể diễn biến theo hai hướng: i) “Phần-Lan hóa” (Finlandization) –
Mỹ rút hẳn khỏi khu vực, còn Trung Quốc áp đặt quyền chi phối đối với các nước
xung quanh theo kiểu “vừa dùng sức mạnh chính trị, quân sự để kiểm soát, vừa lấy lợi
Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia lớn, nhỏ khác đóng vai trò “những cổ đông có trách
nhiệm” của khu vực46 như Robert Zoellick đưa ra vào năm 2005 (lúc ông này đang giữ
chức Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ trước khi làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới). Kịch
bản này hàm ý phải xây dựng một tổ chức khu vực mở, đủ sức giữ chân các nước lớn,
đồng thời thỏa mãn được lợi ích của tất cả các bên có liên quan.
Cục diện chính trị an ninh khu vực với kịch bản Trung Quốc khủng hoảng
Không thể loại trừ khả năng Trung Quốc rơi vào khủng hoảng do các nguyên
nhân kinh tế, chính trị, xã hội hay tôn giáo, sắc tộc bên trong. Chênh lệch phát triển
quá lớn giữa các vùng, miền, giữa các giai tầng xã hội, giữa thành thị và nông thôn,
tình trạng nông dân mất đất, tham nhũng, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên đang trở thành những nhân tố gây bất ổn nghiêm trọng. Vụ Thiên An Môn
năm 1989, Pháp luân công năm 1999, những “sự kiện quần chúng” tức là biểu tình,
bạo loạn nổ ra liên tiếp gần đây như tại Tân Cương, Tây Tạng và nhiều địa phương
40
Chương Địch Vũ. Phương thức giải quyết tranh chấp của Trung Quốc với các nước láng giềng thời Cổ đại//Tri
thức thế giới, Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Bắc Kinh, 7/2012. Bản dịch của TTXVN, 181-TTX, 7/7/2012.
41
Bruce Gilley. Not so Dire Straits. How the Finlandization of Taiwan benefits US Secirity//Foreign Affairs,
Jan/Feb 2010, Vol. 89, Issue 1.
42
Amitav Acharya. China’s Rise and Security in the Asian Century//East Asia Forum, 6 May, 2012.
43
Aaron L. Friedberg. Ripe for Rivalry: Prospects for Peace in a Multipolar Asia//International Security, Vol. 18,
No. 3 (Winter 1993/94), pp. 5-33.
44
Henry Kissinger. Diplomacy. Simon&Schuster, 1995.
45
Alan Dupont. An Asian Security Standoff//The National Interest, May-June, 2012.
46