CÁC PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM - Pdf 31

CÁC PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP
DỤNG Ở VIỆT NAM

I.

Lí luận chung
Thanh toán quốc tế là việc chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ mua bán hàng hoá
hay cung ứng lao vụ... giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân
nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân
hàng của các nước liên quan. Các quan hệ quốc tế được phân chia thành 2 loại: bao gồm
thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch.
• Thanh toán phi mậu dịch:Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng
hoá còng nh cung ứng lao vụ, nó không mang tính thương mại. Đó là những chi phí của
các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại
của các đoàn khách nhà nước, các tổ chức của từng cá nhân...
• Thanh toán mậu dịch:Khác hoàn toàn với thanh toán phi mậu dịch, thanh toán mậu dịch
phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và các dịch vô thương mại, theo giá cả quốc tế.
Thông thường trong nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hóa kèm
theo. Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại hoặc bằng một
hình thức cam kết khác như thư, điện giao dịch... Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ
nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thương mại
phát sinh.
Vai trò của thah toán quốc tế
• Đối với nền kinh tế
 đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước.
 là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.
 làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá
trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các
chủ thể tham gia. Bên cạnh đó, còn làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể
• Đối với doanh nghiệp XNK

nh, hoc vo mt ngy xỏc nh trong tng lai phi tr 1 s tinn ht nh cho ngi ú
hoc theo lnh ca ngi ny tr cho 1 ngi
2.1. Đặc điểm của hối phiếu:
Hối phiếu có ba đặc điểm: trừu tợng, bắt buộc, lu thông.
Trừu tợng: Trên hối phiếu không ghi nguên nhân phát sinh hối phiếu, chỉ ghi rõ số tiền phải
trả.
Bắt buộc: Ngời mắc nợ bắt buộc phải trả tiền, không đợc vịn vào bất kỳ lý do nào để từ chối,
trừ trờng hợp hối phiếu không hợp lệ.
2


Lu thông: Hối phiếu đợc tự do chuyển nhợng một hay nhiều lần trong thời hạn còn hiệu lực.
Do có hai đặc điểm trừu tợng và lu thông, nên hối phiếu mới trở thành phơng tiện lu thông
trên thị trờng hối đoái trong thời hạn hiệu lực của nó.
1.3. Các loại hối phiếu
Căn cứ vào thời hạn trả tiền, phân biệt thành hai loại hối phiếu:
Hối phiếu trả tiền ngay (atsight). Ngời có nghĩa vụ trả tiền ngay cho ngời hởng lợi khi
nhìn thấy hối phiếu.
Hối phiếu có kỳ hạn là loại hối phiếu chỉ đợc thanh tiàn sau một số ngày nhất định kể td
ngày ký phát (hoặc kể từ ngày nhìn thấy hối phiếu).
Căn cứ vào chứng từ kèm theo, phân biệt thành hai loại hối phiếu:
Hối phiếu trơn là loại hối phiếu đợc gửi tới ngời trả tiền không cần kèm theo chứng từ
khác. Ngời trả tiền chỉ cần căn cứ vào từ hối phiếu để trả.
Hối phiếu kèm chứng từ là loại hối phiếu khi đợc gửi đến ngời trả trả tiền có kèm theo
chứng từ hàng hoá và việc trả tiền. ở đây đòi hỏi phải có sự phù hợp giữa các chứng từ và
hối phiếu.
Căn cứ vào tính chất chuyển nhợng, phân biệt ba loại hối phiếu:
Hối phiếu đích danh, ghi rõ tên ngời hởng lợi, loại hối phiếu này không chuyển nhợng.
Hối phiếu vô danh, Trên hối phiếu không ghi tên ngời hởng lợi mà chỉ ghi: trả cho ngời
cầm phiếu. Nh vậy, ai cầm phiếu này thì ngời đó đợc nhận tiền.

Hối phiếu đợc xem là công cụ thanh toán đối với tất cả mọi ngời có liên quan đến nó. Khi có
hối phiếu đã đợc thanh toán vào ngày đến hạn thì món nợ ghi trên hối phiếu coi nh đã đợc trả
xong.
1
Ngời phát hành hối
phiếu (ngời xuất khẩu)

4

Ngời tiếp nhận hối
phiếu (ngời nhập
khẩu)

2

3
6

Ngời giữ hối phiếu

8
Ngân hàng thơng
mại

Ngân hàng Trung ơng

5
7
1) Phát hối phiếu sau khi giao hàng:
Ngời bán phát hành hối phiếu đòi tiền ngời mua. Trong thời gian hối phiếu cha đến hạn, ngời mua đợc quyến sử dụng hàng hoá mà cha phải trả tiền.

có thể đợc chuyển nhợng với thể thức dễ dàng và với sự đảm bảo rất vững chắc về pháp
lý.
Có thể chiết khấu hối phiếu để trả nợ tại ngân hàng.
Nhc im
Đối với hối phiếu thì hầu nh không có nhợc điểm, nếu có thì không đáng kể.
1. Sộc
2.1. Định nghiã về Séc:
Theo công ớc Giơ-ne-vơ năm 1931: Séc là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách
hàng của ngân hàng ký phát cho ngân hàng, yêu cầu trích từ tài khoản của mình một số tiền
nhất định để trả cho ngời cầm séc hoặc cho ngời đợc chỉ định ghi trên séc.
2.2.

c im ca sộc

5


ch cú giỏ tr tin t hoc thanh toỏn nu cũn trong thi hn hiu lc, ni dung theo qui
nh
sộc c ngi ký phỏt phỏt hnh thanh toỏn trong cỏc giao dch mua bỏn hnh húa,
cung ng dch v, cho vay gia cỏc t chc, cỏ nhõn vi nhau;giao dch cho vay ca t chc
tớn dng vi t chc,cỏ nhõn; giao dch thanh toỏn v giao dch tng cho theo quy nh ca
phỏp lut. Tuy nhiờn, khi sộc ó c ký phỏt thỡ quan h trong thanh toỏn sộc s c lp
khụng ph thuc vo giao dch l c s phỏt hnh sộc.
quan h thanh toỏn bng sộc l quan h khỏ phc tp cú nhiu loi ch th tham gia vi t
cỏch khỏc nhau c phỏp lut iu chnh bao gm cỏc quan h gia cỏc t chc, cỏ nhõn
trong vic cung ng, phỏt hnh, bo lónh, chuyn nhng, cm c, nh thu, thanh toỏn, truy
ũi khi kin v sộc.
Th t, cỏc quan h phỏt sinh trong thanh toỏn bng sộc c iu chnh bng Lut cụng c
chuyn nhng v phỏp lut cú liờn quan. Trong quan h thanh toỏn bng sộc cú yu t

hành séc. Trên tờ séc du lịch phải có chữ ký của ngời đợc hởng lợi, ngời này khi lĩnh tiền
phải ký tại chỗ để ngân hàng kiểm tra.
Séc bảo chi: Là tờ sẽ thông thờng đợc ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành đảm bảo khả
năng chi trả bằng cách trích tiền từ tài khoản tiền gửi đa vào một tài khoản riêng (tài
khoản bảo đảm thanh toán séc bảo chi). Ngân hàng sẽ làm thủ tục bảo chi và đánh dấu
báo chi lên tờ séc trớc khi giao tờ séc cho khách hàng. Nh vậy, khả năng thanh toán của
tờ séc bảo chi đợc đảm bảo, không xẩy ra tình trạng phát hành quá số d. Séc bảo chi
thanh toán trong phạm vi các ngân hàng cùng hệ thống, nếu khác hệ thống thì phải tham
gia thanh toán bù trừ.
Đối tợng áp dụng: là thanh toán tiền hàng, dịch vụ yêu cầu của đơn bán hoặc theo quyết
định của ngân hàng đối với chủ tài khoản vi phạm quy định phát hành séc. áp dụng cho các trờng hợp sau:
Ngời phát lệnh và ngời hởng thụ có tài khoản tại một ngân hàng.
Có tài khoản tại hai ngân hàng khác nhau có tham gia thnah toán bù trừ trực tiếp.
Có tài khoản tại hai ngân hàng khác nhau trong cùng một hệ thống không tham gia
thanh toán bù trừ.
Séc định mức: là một hình thức bảo chi toàn bộ số séc, tức là không bảo chi cho từng tờ
séc. Loại séc này đợc áp dụng trong các trờng hợp sau:
Mở tài khoản tại một ngân hàng
Mở tài khoản tại hai ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp và trực tiếp
giao nhận chứng từ cho nhau.
Mở tài khoản tại hai ngân hàng cùng hệ thống.
Séc chuyển khoản là loại séc mà ngời ký phát séc ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài
khoản của mình để chuyển trả sang tài khoản của ngời khác. Loại séc này không đợc
nhận tiền mặt. Séc chuyển khoản đơc áp dụng trong các trờng hợp sau: Một là: Ngời phát
lệnh và ngời hởng lợi có tài khoản tại một ngân hàng. Hai là: Ngời phát lệnh và ngời hởng lợi có tài khoản tại hai ngân hàng, nhng có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp với
nhau.
2.4.

u nhc im:
7

ca ngi hng li tr cho mt ngi khỏc.
3.2 c im

8


Là 1 công cụ hứa trả tiền do 1 hay nhiều người kí phát trước cho người thụ hưởng để cam
kết thanh toán cho 1 hay nhiều người
Chỉ có 1 bản chính do người mua hàng/ người mắc nợ phát hành để chuyển cho người
hưởng lợi kì phiếu
Thường kèm theo yêu cầu bảo lãnh
Là 1 công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ, có thời hạn ngắn, thời gian đáo hạn thường

Chủ nợ lập

Người thiếu nợ lập

5

Người thụ hưởng

Người ký phát hoặc người Là người ghi trên kỳ phiếu hoặc
thứ 3 được người ký phát người thứ 3 được chuyển nhượng.
chuyển nhượng

Người phát hành có nghĩa vụ trả
9


tiền cho người thụ hưởng
6

Số người ký phát

Do một người ký phát tạo Có thể do một người tạo lập hoặc
lập

7

Thời hạn

do nhiều người tạo lập


Thời gian phát hành Phát hành sau khi người Phải phát hành trước khi người
xuất khẩu hoàn thành nghĩa xuất khẩu thực hiện nghĩa vụ của
vụ của hợp đồng cơ sở

910

Phạm vi sử dụng

hợp đồng cơ sở

Chỉ sử dụng trong quan hệ Được sử dụng không chỉ trong
thương mại

quan hệ thương mại mà còn trong
các quan hệ dân sự khác

11

Mối liên hệ

Thường có ba người quan Thường có 2 người liên hệ: người
10


hệ với nhau: Người phát ký phát và người thụ hưởng
hành hối phiếu (người kí
phát), người trả tiền theo
hối phiếu (người bị kí phát)
và người hưởng thụ
4. Thẻ thanh toán


4.3

Phân loại
Phân loại theo công nghệ sản xuất
• Thẻ khắc chữ nổi:Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thôngtin cần thiết.
Ngày nay, người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật của nó quá
thô sơ, dễ bị lợi dụng, làm giả, mà kết hợp với nhữngkỹ thuật mới như băng từ hoặc chip
thông minh.
• Thẻ băng từ:Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật những thông tincủa thẻ và
chủ thẻ được mã hóa trên băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ
biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng có thể bị lợidụng để lấy cắp tiền do có
một số nhược điểm như: thông tin ghi trongthẻ hẹp và mang tính cố định
nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn, có thể đọc được dễ dàng bằng
thiết bị gắn với máy vi tính.
• Thẻ thông minh:Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xửlý tin
học, một “chip” điện tử có cấu trúc hoạt động như một máy tínhđược gắn
vào thẻ khiến cho thẻ có tính an toàn và bảo mật rất cao. Tuyvậy, do là một
công nghệ mới và có nhiều ưu điểm nên giá thành cao, hệ t h ố n g m á y m ó c
c h ấ p n h ậ n l o ạ i t h ẻ n à y c ũ n g đ ắ t n ê n s ử d ụ n g c ò n c h ư a phổ biến như thẻ
từ. Việc phát hành và chấp nhận thanh toán loại thẻ nàym ớ i c h ỉ p h ổ b i ế n ở c á c
n ư ớ c p h á t t r i ể n d ù c á c t ổ c h ứ c t h ẻ q u ố c t ế v ẫ n đang khuyến khích các
ngân hàng thành viên đầu tư để phát hành và chấpnhận loại thẻ này nhằm làm giảm tỷ lệ
rủi ro do giả mạo thẻ
Theo chủ thể phát hành
• Thẻ do ngân hàng phát hành:Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho
khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặcsử dụng số tiền do
ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụngrộng rãi nhất hiện nay, không chỉ
trong phạm vi một quốc gia mà còn trênphạm vi toàn cầu. Ví dụ như: VISA,
MASTERCARD, JCB …

được chuyển đến Ngân hàng phát hành muộn hơn (không có kết nốitrực tiếp vào thời
điểm thanh toán). Giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài khoản của
chủ thẻ sau đó vài ngày.Ngoài 2 loại thẻ phổ biến nhất là thẻ tín dụng và thẻ
ghi nợ, còn một sốloại thẻ cũng được sử dụng rộng rãi cho một số mục đích nhất định
như:
• Thẻ rút tiền mặt:dùng để rút tiền mặt từ tài khoản của chủthẻ tại các máy
rút tiền tự động (ATM) hoặc tại ngân hàng và sửdụng các dịch vụ khác do
máy ATM cung cấp (Ví dụ: kiểm tra số dư, chuyển khoản, chi trả các khoản
vay…). Với chức năng chuyêndùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra với chủ thẻ là
phải ký quỹ tiền vàotài khoản hoặc được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi.
• T h ẻ l ư u t r ữ g i á t r ị : đ ư ợ c p h á t h à n h b ằ n g c á c h n ộ p m ộ t s ố tiền nhất
định để mua một thẻ, mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻbị trừ dần. Thẻ này
thường được sử dụng để mua bán hàng hóa cógiá trị tương đối nhỏ như xăng
dầu ở các trạm bán xăng tự động,gọi điện thoại, thanh toán phí cầu đường...
(thẻ điện thoại ở VN làmột ví dụ điển hình).
Theo phạm vi lãnh thổ
• Thẻ nội địa:Là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia dovậy đồng
tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó. Hoạt động củaloại thẻ này
rất đơn giản, chỉ do một ngân hàng hoặc một tổ chức điều h à n h t ừ v i ệ c
p h á t h à n h , x ử l ý t r u n g g i a n c h o đ ế n t h a n h t o á n . T h ẻ c ó nhược
điểm là việc sử dụng chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia vì vậy việc kinh
doanh sẽ không có hiệu quả nếu số cơ sở chấp nhận thẻ ít.
13


• Thẻ quốc tế:Thẻ sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán,
đ ư ợ c chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Thẻ được hỗ trợ quản lý trên toàn
thếg i ớ i b ở i c á c t ổ c h ứ c t à i c h í n h l ớ n n h ư M A S T E R C A R D , V I S A …
h o ạ t động thống nhất, đồng bộ. Thẻ quốc tế rất được ưa chuộng vì tính an toàntiện lợi
của nó.

• Dịch vụ toàn cầu
• Hiệu quả cao trong thanh toán
• Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ ngân hàng
• Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
• Tăng nguồn vốn cho ngân hàng
Đối với nền kinh tế
14








Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông
Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế
Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước
Thực hiện biện pháp " kích cầu" của nhà nước
Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du lịch và đầutư nước ngoài

II.

Thực trạng
Theo khảo sát của cơ quan chức năng cho thấy thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ
biến trong nền kinh tế. Tại 750 doanh nghiệp Việt Nam ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam thì các
doanh nghiệp tư nhân có trên 500 công nhân có khoảng 63% số giao dịch của họ được tiến
hành qua hệ thống ngân hàng; những doanh nghiệp có ít hơn 25 công nhân thì tỷ lệ này là 47%;
với doanh nghiệp nhà nước mới chỉ hơn 80% giao dịch được thực hiện qua ngân hàng; hầu hết
các doanh nghiệp cả nhà nước lẫn tư nhân đều trả lương bằng tiền mặt. Tại các hộ kinh doanh


137.801

41.936.073

Lệnh chi

29.159.534

7.345.218.954

Nhờ thu

283.911

189.376.237

17.489.226

2.257.675.791

Séc

Phương
khác (*)

tiện

thanh


Lúc này, Hào biết ông Huỳnh Văn Khánh (53 tuổi, quê TP.HCM) và một người phụ nữ tại Đà
Nẵng kêu bán một số tờ hối phiếu mệnh giá 1 triệu USD, nhưng số hối phiếu này chỉ để làm mẫu lưu
niệm, không có giá trị lưu hành.
Sau đó Hào đã tìm mua 140 tờ hối phiếu với mục đích gửi vào ngân hàng dưới dạng hợp đồng gửi
giữ tài sản, để chứng minh tài chính với đối tác nước ngoài để kêu gọi đầu tư.
Tiếp đó, Hào nhờ Thành gặp ông Khả soạn thảo hợp đồng gửi 140 tờ hối phiếu trị giá 1 triệu euro
vào ngân hàng Vietinbank Đồng Nai, do ông Thành đứng tên chủ tài sản.
Qua điều tra, ông Khánh cho biết nguồn gốc phần lớn số hối phiếu đó đã được một người khác
nhờ bán dùm với giá 50 triệu đồng.
Kiểm tra nhà Khánh, công an phát hiện thêm 20 tờ USD (gồm 18 tờ mệnh giá 10.000 USD và 2 tờ
in mệnh giá 1 triệu USD) cùng một số giấy tờ liên quan đến các dự án đầu tư.
Số hối phiếu này bị làm giả, được ông Khánh mua tại Trung Quốc với mục đích bán cho và tặng
cho bạn bè làm… kỷ niệm.
Theo thượng úy Nguyễn Trọng Hòa, cán bộ Phòng ANĐT, trực tiếp điều tra vụ việc, ngoài việc
đưa 140 tờ hối phiếu in mệnh giá 1 triệu euro không có giá trị thanh toán vào ký gửi để thực hiện
hành vi lừa đảo; một số đối tượng trong nhóm còn mua bán các tờ ngoại tệ in mệnh giá 1 triệu và 10
ngàn USD không có giá trị lưu hành cũng với mục đích lừa những người nhẹ dạ cả tin.
Ngoài vụ do Shieh Der Houa cùng đồng bọn thực hiện bị phát giác, trong năm 2011 và 6 tháng
đầu năm 2012, Phòng An ninh kinh tế Công an Đồng Nai còn phát hiện, ngăn chặn 6 vụ lừa đảo liên
quan đến tài chính, tiền tệ trên địa bàn tỉnh với nhiều thủ đoạn khác nhau, như: giả hỗ trợ doanh
nghiệp vay vốn lãi suất thấp, khi kí kết hợp đồng đã đề nghị doanh nghiệp chuyển phí hoa hồng, hứa
17


tài trợ xây dựng các công trình công cộng để yêu cầu Chính phủ kí bảo lãnh, làm giả sổ tiết kiệm lừa
đảo chiếm đoạt tài sản, làm chứng thư bảo lãnh giả, giả bảng lương cao hơn thực tế được nhận để
vay vốn của các tổ chức tín dụng. Trước tình hình trên, thượng tá Hồ Văn Mười - Trưởng phòng An
ninh kinh tế Công an Đồng Nai - khuyến cáo các tổ chức tín dụng nâng cao cảnh giác, khi phát hiện
vụ việc tương tự nên phối hợp với cơ quan công an để kịp thời ngăn chặn.”


đến rủi ro. Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức nếu khách mua và khách bán
không có tài khoản ở cùng một ngân hàng, buộc các NHTM phải thông qua hệ thống thanh
toán bù trừ của NHNN nhưng hiện tại, NHNN chưa có Trung tâm thanh toán bù trừ séc.
Nguyên nhân:
18


Chưa có quy định hạn mức bắt buộc dùng séc
Việc thanh toán séc gặp nhiều phiền phức ( cần có cùng 1 tài khoản ngân hàng, nếu
không, việc thanh toán phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của NHNN mỗin
gày có 2 phiên vào lúc 10h và 15h, kiểm tra séc vẫn chủ yếu là thủ công)
3) Kỳ phiếu
Ở những thị trường của các nền kinh tế phát triển kỳ phiếu đang được sử dụng rộng rãi và
phổ biến như các công cụ thanh toán khác. Tuy nhiên ở Việt Nam, việc sử dụng kỳ phiếu mới
chỉ bắt đầu. Các doanh nghiệp chưa sử dụng kỳ phiếu vào hoạt động thanh toán của mình mà
mới chỉ có các ngân hàng sử dụng kỳ phiếu như một kênh huy động vốn.
Do vậy thực trạng sử dụng kỳ phiếu ở Việt Nam mang những đặc điểm sau: Thứ nhất,
kỳ phiếu chỉ được các ngân hàng thương mại sử dụng như một công cụ để huy động vốn.
Thứ hai, kỳ phiếu chưa được sử dụng rộng rãi trong thanh toán cũng như trong các giao
dich tại Việt Nam.
3.1. Kỳ phiếu đang được các Ngân hàng thương mại sử dụng như một công cụ để huy
động vốn.
Năm 2008:
Các Ngân hàng thương mại liên tục phát hành các đợt kỳ phiếu với lãi suất cao để thu hút
các đối tượng khách hàng là cá nhân hay các tổ chức, bao gồm cả cá nhân nước ngoài và trong
nước. Thực tế là có rất nhiều ngân hàng thương mại đã phát hành các đợt kỳ phiếu với lãi suất
cao, nhằm thu hút các khách hàng, thậm chí có ngân hàng còn phát hành kỳ phiếu với mức siêu
lãi suất lên tới 19.5%/ năm như ngân hàng cổ phần thương mại Thái Bình Dương( Pacific
Bank) từ ngày 25/8 đến ngày 23/10 Ngân hàng Thái Bình Dương bắt đầu phát hành một đợt
kỳ phiếu với lãi suất 19,5% / năm, mệnh giá tối thiểu là 1.000.000 đồng , không hạn chế mức

ưu việt hơn trước.
Không chỉ riêng đối với Ngân hàng TMCP quân đội(MB) mà cả Ngân hàng Công thương
Việt Nam (Vietinbank) đã triển khai phát hành kỳ phiếu ngắn đợt 2 năm 2008. Đây là loại kỳ
phiếu ghi danh trả lãi sau Với mệnh giá tối thiểu 1.000.000đồng với các thời hạn 4 tháng, 5
tháng, 6 tháng và 7 tháng. Khách hàng là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân
nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đều có thể tham gia chương trình này để
20


hưởng mức lãi suất hấp dẫn cao hơn mức lãi suất của Vietinbank từ 0,5-0,7%/năm tuỳ từng kỳ
hạn. Sản phẩm này được chuyển quyền sở hữu, thừa kế vay vốn tại các tổ chức tín dụng. Đến
hạn, nếu không rút tiền, ngân hàng sẽ chuyển sang tiết kiệm có kỳ hạn thông thường trả lãi sau.
Không hề chậm chân so với các ngân hàng khác, ngân hàng Thương mại cổ phần xăng dầu
Petrolimex (PG bank) đã chính thức công bố phát hành 1000 tỷ đồng kỳ phiếu ghi danh thời
hạn 3 tháng, 6 tháng với các mệnh giá5 triệu, 10 triệu và 50 triệu đồng với lãi suất hấp dẫn lên
tới 18,6%/ năm. Để thu hút khách hàng, PG bank con tung ra nhiều chwong trình khuyến mãi
kèm theo và đặc biệt là kế hoạch chi tiêu. PG bank cho biết là nguồn vốn thu hút được sẽ được
sử dụng vào việc tài trợ cho các doanh nghiệp hàng đầu kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu,
xuất khẩu gạo, nông thuỷ sản, nhựa đường…đây là những lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả cao
và chắc chắn mang tính khả thi cao sẽ giúp cho ngân hàng thu hồi vốn nhanh.
Năm 2009:
Từ 01/07/2009, MHB tổ chức phát hành Kỳ phiếu ghi danh bằng VNĐ đợt II/2009 theo
chương trình "Mua kỳ phiếu lãi suất cao-Cào trúng thưởng với E-cash"tổng số tiền phát
hành 2.000 tỷ đồng, kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 364 ngày với nhiều ưu đãi và cơ hội
may mắn cho khách hàng, cụ thể như:
Ngày 10/7/2009, Ngân hàng Đông Á (DongA Bank) chính thức triển khai chương trình
khuyến mại “Mua kỳ phiếu – Nhận quà ngay – Vàng trao tay. Kỳ phiếu DongA Bank được
phát hành với mệnh giá tối thiểu là 10 triệu đồng, lãi suất lên đến 8,8%/năm và kỳ hạn 11 tháng
Từ ngày 18/11 - 18/12/2009, Ngân hàng Sài Gòn Công thương (SaigonBank) tổ chức
phát hành kỳ phiếu năm 2009 với các kỳ hạn là 03 - 06 - 09 tháng với mức lãi suất cao nhất là

chấp hành chức năng phương tiện lưu thông của tiền tệ và nhờ vào vai trò này kỳ phiếu được
sử dụng trong thanh toán quốc nội cũng như là thanh toán quốc tế như là một công cụ cam kết
trả tiền. Song, tại thị trường tín dụng Việt Nam thì phần lớn chỉ sử dụng Kỳ phiếu Ngân hàng
là công cụ để các ngân hàng huy động vốn trong dân. Tại sao kỳ phiếu thương mại lại chưa
được các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng Việt Nam sử dụng như là một công cụ lưu
thông tín dụng?
Nguyên nhân
là tính chất rủi ro cao của việc sử dụng kỳ phiếu. Một doanh nghiệp muốn sử dụng kỳ phiếu
để có thế cam kết trả tiền với các doanh nghiệp khác thì cần phải có bên thứ 3 đứng ra bảo
lãnh cho kỳ phiếu đó. Điều này đôi khi lại gây nên phiền hà và chi phí cao hơn so với việc
sử dụng tiền mặt. Và cũng là nguyên nhân tại sao kỳ phiếu không nhận được sự tin tưởng từ
các doanh nghiệp. Đây là một trở ngại lớn khiến các doanh nghiệp chưa hoàn toàn ưa sử
dụng kỳ phiếu trong hoạt động thanh toán của mình.
Ngân hàng Nhà nước chưa ban hành các biểu mẫu để thực hiện, chưa có trung tâm thanh
toán bù trừ hối phiếu làm cho việc sử dụng kỳ phiếu. Vì thế, tính thanh khoản của kỳ phiếu
là chưa cao, làm kéo dài thời gian quay vòng vốn của doanh nghiệp
22


luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam nhiều điểm còn chưa quy định rõ nên khó thực hiện
trong thực tiễn.
4) Thẻ thanh toán
Sự ra đời và phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam
Việc chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủn g h ĩ a đ ã t h ú c đ ẩ y
m ạ n h m ẽ c á c l o ạ i h ìn h d ị c h vụ m ớ i t r o n g ho ạ t đ ộ n g n gâ n hàng, đáp ứng yêu cầu
về tài chính ngân hàng cho mọi thành phần xã hội. Kinhnghiệm cho thấy, kinh tế xã hội càng
phát triển, tỷ lệ thanh toán dùng tiền mặtsẽ giảm và tỷ lệ sử dụng các công cụ thanh toán
phi tiền mặt, trong đó có thẻthanh toán ngày càng tăng lên. ở Việt Nam, ngay từ
những năm đầu đổi mớihoạt động ngân hàng và thực hiện 2 pháp lệnh ngân hàng,

MasterCard và Visa đã bắt đầu triển khai nghiệpvụ phát hành thẻ tín dụng quốc tế và thực hiện
thanh toán trực tiếp (On-line) vớicác Tổ chức thẻ Quốc tế này. Từ đó ngày càng có nhiều ngân
hàng tham gia vàot h ị t r ư ờ n g n à y. N go à i c á c N H T M V i ệ t Na m cò n có cá c c h i
n há n h N H n ư ớ c ngoài như UOB, Hong Kong Bank, ANZ Bank... Vì là một thị
trường có sứchấp dẫn cao nên sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra rất sôi động.Trong
những năm qua, doanh số thanh toán thẻ tại Việt Nam đã đạt gần 240 triệu USD/năm.
Doanh số sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do các NHTM ViệtNam phát hành khoảng 230 tỷ
VND/năm
Việc phát hành thẻ thanh toán ở Việt Nam ngày càng tăng
 trong năm 2009 đạt 21,6 triệu thẻ, tăng 147% so với 14,7 triệu thẻ năm 2008. Trong
đó, số lượng thẻ nội địa chiếm 94% và thẻ quốc tế chiếm 6%. Sự tiếp tục gia tăng về số
lượng và tốc độ tăng trưởng thẻ thanh toán của các ngân hàng đã khẳng định vai trò và
tính xã hội hóa thẻ thanh toán.
Trong đó, theo thống kê của Hội thẻ ngân hàng Việt Nam, tính đến cuối năm 2009, về thị
phần thẻ nội địa, Ngân hàng Nông nghiệp (Agribank) đã vượt lên trở thành ngân hàng có
số lượng thẻ ATM lớn nhất Việt Nam với gần 4,2 triệu thẻ, chiếm 20,7% thị phần. Tiếp
đến là Ngân hàng cổ phần Đông Á với 4 triệu thẻ, chiếm 19,8% thị phần; đứng thứ ba là
Vietcombank với 3,85 triệu thẻ, chiếm 19% thị phần…
Về lượng máy ATM, tới cuối năm 2009 Agribank cũng giữ vị trí số một với 1.702 máy
(chiếm 17,5% thị phần), tiếp theo là Vietcombank 1.483 máy (15,3%), Vietinbank đứng thứ ba
với 1.042 máy (10,7%). Đi kèm với việc đoạt “ngôi vương” về lượng thẻ phát hành cũng như
số máy ATM, nguồn tin từ một lãnh đạo của Agribank cho biết, tỷ lệ thẻ ATM hoạt động thực
sự của ngân hàng này khoảng từ 85% đến 90%.
 Sang năm 2010, có trên 27 triệu thẻ thanh toán được phát hành.
 Tính đến hết tháng 6/2011 đó có 37 triệu thẻ trên thị trường với 250 thương hiệu và
do 47 tổ chức phát hành thẻ giới thiệu. Trong đó, thẻ nội địa chiếm tới 94% tổng số 37
triệu sản phẩm thẻ, thẻ thanh toán và thẻ tín dụng quốc tế chỉ chiếm 6%. Bởi thế, thị
phần cho lĩnh vực thẻ quốc tế vẫn còn rất lớn
 Nhưng bắt đầu từ năm 2012, các NH tập trung chạy đua phát hành thẻ với nhiều ưu đãi
hấp dẫn.Sang tháng 7 năm 2012 với chương trình khuyến mãi đã thu hút được hơn

ATM của Agribank không thể ở mức thấp như vậy được”, chuyên gia về thẻ này nhận
xét. Trong khi con số công bố của Agribank là 85% đến 90% thì tỷ lệ thẻ hoạt động thực
sự của Vietcombank chỉ chiếm 80% dù đây là ngân hàng có doanh số giao dịch cao hơn
nhiều.
• Thực tế, với 37 triệu thẻ đã được phát hành năm 2011, chủ yếu người sử dụng thẻ mới
dừng ở việc thanh toán trong mua sắm, tiêu dùng, chi trả tiền điện nước…, rút tiền mặt
qua ATM, tuy nhiên, con số này cũng không nhiều. Có những chiếc thẻ từ khi phát hành
mỗi tháng chỉ dùng một vài lần vào việc rút tiền.
• Sang năm 2012
SỐ LIỆU GIAO DỊCH QUA ATM, POS/EFTPOS/EDC
( Quý II năm 2012 )
Thiết bị
ATM

Số lượng thiết
bị(*)
13.920

Số lượng giao
dịch
(Món)
129.895.619

Giá trị giao
dịch
(Triệu đồng)
197.479.040
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status