tỷ giá và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá - Pdf 31

Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Lời Mở Đầu
Tỷ giá là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh tế,
đặc biệt là trong nền kinh tế của các nước đang phát triển, đang từng bước hoà
nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia vào phân công lao động quốc tế như
Việt Nam. Bởi hoạt động thương mại quốc tế của nước ta này ngày càng phát
triển và đòi hỏi phải có sự tính toán so sánh về giá cả, tiền tệ với các nước đối
tác. Chính tỷ giá là một công cụ quan trọng được sử dụng trong tính toán
này.Trong nền kinh tế thị trường, giá cả nói chung và tỷ giá nói riêng thường
xuyên biến động. Sự biến động tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của một
nước nói chung và các tổ chức tài chính nói riêng,nó có thể đem lại cho các tổ
chức tài chính một khoản lợi nhuận khổng lồ, nhưng cũng chính nó có thể đưa
các tổ chức tài chính đến bờ vực phá sản.Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện
nay,việc nghiên cứu tỷ giá lại càng cấp bách để từ đó có thể đề ra các chiến lược
kinh doanh phù hợp nhằm kiểm soát và phòng ngừa rủi ro hối đoái .Trong quá
trình được học tập ở trường ĐH công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi
đã rất hứng thú với tỷ giá và nhận thấy tầm quan trọng của nó nên chúng tôi đã
lựa chọn đề tài này.

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

A.CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.Tỷ giá
Tỷ giá hối đoái (gọi tắt là tỷ giá) là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai
nước; hay nói cách khác là giá của một đồng tiền này tính bằng một đồng tiền
(quốc gia) khác. Tỷ giá có thể được xác định bởi thị trường trong chế độ tỷ giá
hối đoái thả nổi, được gọi là tỷ giá thị trường. Tỷ giá cũng có thể được xác định

hàng thương mại có tính thêm phí dịch vụ. Còn tỷ giá đổi tiền tại các cửa hàng
kinh doanh vàng bạc ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trong nhân dân chính
là tỷ giá hối đoái song song.
Tỷ giá hối đoái đóng vai trò chính trong thương mại quốc tế. Chính vì vậy, tỷ
giá hối đoái được sử dụng để điều tiết chính sách khuyến khích xuất khẩu hay
nhập khẩu hàng hóa của một nước.
2.Các loại tỷ giá
2.1.Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và Tỷ giá hối đoái thực tế
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá hối đoái không xét đến tương quan giá cả
hay tương quan lạm phát giữa hai nước.
Tỷ giá hối đoái thực tế là tỷ giá hối đoái có xét đến tương quan giá cả giữa hai
nước hoặc tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước.
Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau:
Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá nước ngoài / Giá nội
địa = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Tỷ lệ lạm phát nước ngoài / Tỷ lệ lạm phát
trong nước.
2.2.Tỷ giá hối đoái song phương và Tỷ giá hối đoái hiệu lực
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được gọi là tỷ giá hối đoái song phương.
Tỷ giá hối đoái hiệu lực là tỷ lệ trao đổi giữa một đồng tiền X với nhiều đồng
tiền khác cùng lúc (thông thường là đồng tiền của các bạn hàng thương mại
lớn). Tỷ giá này được tính dựa trên giá trị bình quân gia quyền của các tỷ giá
song phương giữa đồng tiền X với từng đồng tiền kia. Tỷ giá hối đoái hiệu lực
cũng có loại danh nghĩa và loại thực tế.
3.Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá.
Cho đến nay có rất nhiều lý thuyết tiếp cận giải thích sự hình thành và biến
động của tỷ giá.có thế nêu ra 3 lý thuyết cơ bản sau:

27



∆P − ∆P *
1 + ∆P *

∆E là tỷ lệ % thay đổi của tỷ giá sau một năm;

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

∆P là tỷ lệ lạm phát/năm trong nước;
∆P * là tỷ lệ lạm phát/năm ở nước ngoài;
Hay mức tỷ giá sau một thời gian (t) được xác định theo lý thuyết ngang giá
sức mua theo công thức:

CPI i
i =1 CPI *
i
t

E1 = E 0 Π

Eo là tỷ giá thời kì cơ sở;
E1 là tỷ giá thời kì t;
CPIi là chỉ số giá tiêu dùng trong nước;
CPIi* là chỉ số giá tiêu dùng nước ngoài;
t là thời kì ( t = 1, 2, 3,…,t).
Vì ∆P và ∆P* là tỷ lệ lạm phát nên thường ít thay đổi trong ngắn hạn, và chỉ
thay đổi từ từ trong dài hạn, chính vì vậy, tương quan lạm phát giữa hai đồng
tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn.

hàng nhập khẩu giảm => cầu hàng ngoại tăng => cầu ngoại tệ tăng => tỷ giá
tăng => đồng nội tệ giảm giá.
Mặc dù, thuế quan và hạn ngạch tác động tới tỷ giá là cùng chiều nhưng thuế
quan tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng; trong khi đó hạn ngạch tạo ra sự
phân biệt đối xử, môi trường cạnh tranh không bình đẳng, là nguyên nhân chính
tạo ra khe hở trong quản lý và môi trường cho tiêu cực.
b.Thuế quan và hạn ngạch (QUOTA) ở nước ngoài:
Nếu nước ngoài (Mỹ) tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với
hàng nhập khẩu vào nước này thì làm tăng giá của hàng hóa đó => nhu cầu về
hàng nhập khẩu tại Mỹ giảm => nhu cầu đổi tiền từ đồng ngoại tệ ( USD) sang
đồng nội tệ của nước XK giảm làm cho cung ngoại tệ tại nước XK giảm => tỷ
giá tại nước này tăng => đồng nội tệ mất giá.
Ngược lại nếu một quốc gia giảm mức thuế quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối
với hàng nhập khẩu thì làm giảm giá của hàng nhập khẩu => nhu cầu đổi tiền
từ đồng ngoại tệ ( USD) sang đồng tiền nước xuất khẩu tăng cho nên cung
ngoại tệ tại nước XK tăng => tỷ giá tại nước đó tăng => đồng nội tệ lên giá.
Giả dụ: Việt Nam áp đặt một loại thuế hoặc hạn ngạch đối với ô tô của Nhật
những hàng rào này làm tăng cầu về ô tô Việt Nam, và đồng Việt Nam có xu
hướng tăng giá.

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Thuế quan và hạn ngạch về lâu dài làm cho đồng tiền của một nước tăng
giá.
3.3.Thu nhập
a.Thu nhập (thực) của người cư trú và người không cư trú:
Thu nhập của người cư trú tăng tương đối so với thu nhập của người không

Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền tác động ngắn hạn đến tỷ giá.
Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để
phản ánh tương quan lãi suất giữa chúng, theo công thức:
∆E =

R − R*
× 100%
1 + R*

Trong đó:
∆E: tỷ lệ % thay đổi tỷ giá sau một năm,
R : mức lãi suất/năm của nội tệ;
R*: mức lãi suất/năm của ngoại tệ.
Vì R và R* là mức lãi suất nên tần số thay đổi phụ thuộc vào chính sách tiền
tệ của NHTW.
Các luồng tiền sẽ chảy từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao theo
nguyên lý nước chảy chỗ trũng. Khi mặt bằng lãi suất của Việt Nam cao hơn so
với thị trường quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển tiền vào Việt Nam để
thu được lãi lớn hơn, làm tăng cung ngoại tệ. Điều này đẩy đường cung ngọai tệ
dịch chuyển sang phải, kết quả là đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ. Điều này
diễn ra ngược lại khi mặt bằng lãi suất Việt Nam thấp hơn thị trường bên ngoài.
Trong nền kinh tế tiền tệ, NHTW thường xuyên thay đổi lãi suất để tác động
tích cực lên nền kinh tế, tần số thay đổi lãi suất càng nhiều làm tỷ giá biến động
càng nhanh, chính vì vậy, tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền quyết định xu
hướng vận động của tỷ giá trong ngắn hạn.
3.5.Sự vận động của luồng vốn quốc tế
Ngày nay, hoạt động vay và cho vay quốc tế diễn ra rất mạnh mẽ (Cụ thể,
chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm 2008, Việt Nam đã thu hút 7,598 tỷ USD vốn

ngoại tệ trong hiện tại sẽ được đẩy lên cao, làm đường cầu ngoại tệ dịch sang
phải. Kết quả là đồng ngoại tệ sẽ tăng giá một cách tương đối so với tiền Việt
Nam. Ngược lại, nếu mọi người cho rằng việc giữ tiền đồng có lợi hơn, thì việc
sở hữu ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn và cầu ngoại tệ đi xuống, khiến cho đồng
ngoại tệ sẽ giảm giá so với đồng Việt Nam ngay trong hiện tại.
Ngoài ra những yếu tố quyết định về dài hạn của tỷ giá chỉ ra những nhân tố
ảnh hưởng đến tỷ giá tương lai dự tính: mức giá cả tương đối, thuế quan tương
đối và quota, năng suất lao động.
3.7. Giá thế giới của hàng hóa xuất nhập khẩu:
Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu tạo ra sự biến động của cung cầu
ngoại tệ.

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Gọi x là giá thế giới của hàng xuất khẩu, y là giá thế giới của hàng nhập
khẩu.
Trường hợp 1: x giảm hoặc y tăng thì cung ngoại tệ giảm, cầu ngoại tệ
tăng=> tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ giảm giá.
Sự tăng giá của hàng xuất khẩu:
Khi giá của dệt may xuất khẩu tăng lên (trong điều kiện nhiều nước khác
cũng có bán sản phẩm tương tự trên thị trường Mỹ) thì người Mỹ sẽ chi ít tiền
hơn để mua hàng dệt may Việt Nam. Do đó sẽ có ít đồng USD được cung ứng
để chuyển sang tiền đồng Việt Nam. Cho nên cung USD sẽ giảm => tỷ giá tăng
=> đồng Việt Nam giảm giá.
Trường hợp 2: x tăng hoặc y giảm thì cung ngoại tệ tăng, cầu ngoại tệ
giảm=> tỷ giá hối đoái giảm, đồng nội tệ lên giá.
Sự tăng giá quốc tế của hàng nhập khẩu:

năng sinh lời của đồng tiền, thậm chí lo sợ cho sự mất giá của nó. Điều này
buộc họ chuyển hướng đầu tư sang những đồng tiền ổn định hơn, làm cho cầu
về loại tiền đó tăng lên, từ đó tác động ngay đến tỷ giá.
d.Sự can thiệp của Ngân Hàng TW:
Mua ngoại tệ làm tăng cầu ngoại tệ, làm tăng tỷ giá; bán ngoại tệ làm tăng
cung ngoại tệ, giảm tỷ giá;
Thay đổi lãi suất tái chiết khấu, từ đó tác động đến mặt bằng lãi suất thị
trường, chuyển hướng các luồng tiền và do đó làm thay đổi tỷ giá; điều chỉnh tỷ
lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, ảnh hưởng đến lượng cung ngoại tệ trên thị
trường…

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

B.THỰC TIỄN
1.Diễn biến tỷ giá tại Việt Nam
Tỷ giá rất được quan tâm đối với các nước đang từng bước hòa nhập vào xu
hướng thế giới như Việt Nam.
Vậy diễn biến tỷ giá tại Việt Nam thời gian qua như thế nào, và dự đoán xu
hướng trong thời gian tới ra sao?
Khi mới chuyển đổi, mở cửa, hội nhập, tỷ giá VND/USD khá cao, có thời gian đã lên đến
16.000 VDN/USD (vào cuối năm 1991), năm 1992 đã giảm mạnh và sau đó chỉ tăng, giảm
nhẹ. Chỉ trừ năm 1997- 1998, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở khu vực
mà tỷ giá tăng cao, còn các năm từ đó cho đến quý 1 2007 chỉ tăng nhẹ.
Bước sang năm 2007, tháng 1 giảm 0,12%, tháng 2 giảm 0,21%, tính chung 2 tháng
giảm 0,33%. Tháng 2/2007 sản phẩm với tháng 12/2001, giá USD chỉ tăng 6,4%. Trong thời
gian tương ứng, giá tiêu dùng tăng 38,5%, còn giá vàng tăng 144%.
Nếu so xa hơn, tức là tháng 2/2007 so với tháng 12/1991, trong khi giá tiêu dùng tăng

khoảng 4 tỷ USD, chiếm khoảng 28,6% tổng giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán của Việt
Nam.
Khi có lượng ngoại tệ lớn chảy mạnh vào trong nước, thì đó vừa là kết quả, vừa tạo
tiền đề để tỷ giá khó tăng lên.

Thứ ba, đồng USD giảm giá so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới, như 1 USD hiện chỉ
đổi được dưới 0,76 Eur, 0,51 Bảng Anh; giảm giá so với một số đồng bản tệ của các nước,
như 1 USD hiện chỉ đổi được 7,72 CNY (Nhân dân tệ), 9,35 Won Hàn Quốc, 35,6 Baht Thái
Lan,...

Thứ tư, có một nguyên nhân quan trọng nhưng khá trừu tượng mà không phải ai
cũng để ý đến, đó là “cánh kéo tỷ giá” giữa tỷ giá hối đoái và tỷ giá sức mua tương đương. 1
USD tại Việt Nam có sức mua vào khoảng 4,3 USD tại Mỹ.
Điều này lý giải tại sao GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2006 tính theo
tỷ giá hối đoái chỉ đạt 725,3 USD, nhưng nếu tính theo tỷ giá sức mua tương đương đạt
khoảng 3.118 USD. Điều đó cũng giải thích tại sao nước Mỹ nhập siêu lớn từ các nước đang
phát triển, trong khi lại đầu tư (cả trực tiếp và gián tiếp) vào các nước này.

Tỷ giá VND/USD 6 tháng cuối năm 2007 đã diễn biến như sau: tháng 7 tăng
0,22%, tháng 8 tăng 0,16%, tháng 9 tăng 0,57%, tháng 10 giảm 0,6%, tháng 11
giảm 0,28%, tháng 12 giảm 0,19%.
Tính chung 6 tháng cuối năm 2007, tỷ giá VND/USD đã giảm 0,12%.
Như vậy trước đây, giá trên thị trường tự do đã “kéo” giá trên thị trường
chính thức lên và bây giờ giá trên thị trường tự do lại có tác động “kéo” giá trên
thị trường chính thức xuống. Đó là do các yếu tố sau đây:


Do sự can thiệp, chấn chỉnh và kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước đối

với các đại lý thu đổi ngoại tệ, làm cho các đại lý này mang tính chuyên nghiệp

sự biến động khác với các năm trước. Sự khác nhau thể hiện ở một số điểm sau
đây:


Biến động nhiều hơn: giảm liên tục trong 3 tháng đầu, tăng liên tục

trong 3 tháng sau. Nếu trong 3 tháng đầu, người có USD muốn bán cũng rất khó
bán, thì trong 3 tháng sau, đặc biệt là tháng 6, người muốn mua USD cũng rất
khó mua vì giá cao.


Chênh lệch giữa giá USD trên thị trường tự do và ở các ngân hàng

thương mại lúc mang dấu âm, lúc mang dấu dương và chênh lệch khá lớn.


Tỷ giá VND/USD tính theo năm thì từ tháng 1 đến tháng 4 bị giảm,

tháng 5, tháng 6 tăng, đặc biệt tháng 6 tăng cao. Đó là diễn biến tỷ giá
VND/USD thời gian qua.

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

NHNN nhấn mạnh rằng, trong năm 2008, tình hình kinh tế quốc tế có
những diễn biến phức tạp. Cuộc khủng khoảng của Mỹ ngày càng trầm trọng và
lan rộng khiến cho hệ thống tài chính quốc tế đứng trước nguy cơ khủng hoảng
và ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Người mua rất ít, trong khi người bán có xu hướng đẩy hàng nhiều hơn.
Tại các ngân hàng thương mại, như Vietcombank, Eximbank, ACB, DongA
Bank..., tỷ giá niêm yết cũng suy yếu dần, giảm khoảng 50 VND/USD. Tỷ giá
hối đoái niêm yết trong ngày 31/10 tại Vietcombank và Eximbank là 16.780 16.830 VND/USD.
Trước đó, vào những ngày giữa tháng 10, khi tỷ giá hối đoái trên thị
trường nhích dần, nhiều người đã tỏ ra lo ngại, nhất là khi lãi suất cơ bản được
điều chỉnh giảm từ 14% xuống 13%. Một số nhà đầu tư đã chuyển vốn sang
ngoại tệ. Có ý kiến khi đó cho rằng, diễn biến của thị trường hiện tại là cơ hội
để giữ USD, vì xuất khẩu gặp phải khó khăn khi giá hàng hóa hạ, nên nhiều khả
năng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ nâng tỷ giá để bù đắp phần nào chi phí
cho doanh nghiệp.
Vào thời điểm cuối tháng 5 và những ngày đầu tháng 6, trên thị trường
ngoại hối (thị trường tự do), tỷ giá tăng hàng ngày, có những ngày tỷ giá lên tới
mức 19.400 VND/USD, chênh lệch giữa tỷ giá bình quân trên thị trường liên
ngân hàng với tỷ giá thị trường tự do ngày càng lớn, thị trường ngoại hối có dấu
hiệu bất ổn.
Đối với nhiều ngân hàng, đây là mảng kinh doanh mang lại nguồn thu đáng kể,
tuy nhiên sự biến động của thị trường đã có tác động không nhỏ.
2.Sự can thiệp của Ngân hàng nhà nước
Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHNN đã thực hiện hàng loạt biện pháp,
như nới rộng biên độ tỷ giá từ 1% lên mức +/-2%, tạo sự linh hoạt tỷ giá sát với
cung cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho NHTM, việc
can thiệp dựa vào trạng thái ngoại tệ của NHTM trong ngày; thực hiện minh
bạch thông tin về dự trữ ngoại hối. Các biện pháp này đã đáp ứng được kỳ vọng
của thị trường, trên cơ sở đó tạo dựng lòng tin của thị trường với NHNN.
Bên cạnh đó, NHNN còn thực hiện giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh
ngoại tệ, cấm tổ chức tín dụng không được mua bán USD thông qua ngoại tệ
khác, phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và xử lý các hoạt

càng cao đối với lạm phát. Tỷ lệ lạm phát trung bình hằng năm từ 3,1% năm
2003 lên tới 7,8% năm 2004 và duy trì mức cao này trong những năm tiếp theo,
cao hơn trung bình khu vực. Trong khi đó, vào thời điểm năm 2000, tỷ lệ lạm
phát của Việt Nam thấp hơn khu vực, và là thiểu phát.

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Giá lương thực tăng nhanh hơn so với mức tăng của cả rổ hàng hóa. Việc
tăng giá, đặc biệt giá lương thực ảnh hưởng đến người nghèo, những người sử
dụng phần lớn thu nhập cho mua hàng hóa thực phẩm mà không phải cho giáo
dục hay y tế và không có cơ hội tiếp cận lương thực.
Tỷ lệ lạm phát tăng cũng làm suy yếu năng lực cạnh tranh của Việt Nam.
Lạm phát của Việt Nam tương đối cao hơn so với lạm phát ở Mỹ, dẫn đến giảm
tỷ giá thực.
Vào thời điểm tháng 7/ 2008, giá dầu trên thế giới đã đạt mức kỷ lục:
147USD/thùng. Sự tăng giá này đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến cung cầu
ngoại tệ ở nước ta. Nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu xăng dầu gia tăng khi
giá năng lượng trên thế giới tăng mạnh như vậy, làm cho tỷ giá VNĐ/USD tăng
cao.
Thu nhập là nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới tỷ giá,để có thể dự báo GDP bình
quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái năm 2008, cần điểm lại kết
quả thực hiện qua một số năm.
GDP năm 2007 tính theo giá thực tế đạt 1.144 nghìn tỉ đồng, dân số trung
bình đạt 85.154.900 người, GDP bình quân đầu người tính theo giá thực tế đạt
13.435.000 đồng, với tỷ giá bình quân đạt 16.090 VND/USD, GDP bình quân
đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái đạt 835 USD và tổng GDP đạt
71,1 tỉ USD.

chiếm tới 500 triệu USD.
Tính đến nay, Việt Nam hiện có 317 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực
với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 2,5 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 1 tỷ
USD. Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 7,8 triệu USD/dự án.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã có mặt tại 41 quốc gia và vùng lãnh thổ ở cả
5 châu lục. Nhưng phần lớn vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tập
trung tại khu vực châu Á, trong đó đứng đầu là thị trường Lào với 123 dự án,
chiếm gần 39% về số dự án và hơn 50% về vốn đầu tư. Các doanh nghiệp Việt
Nam cũng có mặt tại một số nước có tiềm năng về dầu mỏ như Angiêri có 1 dự
án 243 triệu USD, Madagascar có 1 dự án 117,36 triệu USD, hoặc tại một số
nước có quan hệ hợp tác truyền thống như LB Nga có 14 dự án tổng vốn đầu tư
là 198,3 triệu USD…

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Cục Đầu tư Nước ngoài dự báo, trong năm 2008, vốn đầu tư ra nước ngoài
của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đạt trên 500 triệu USD, tăng 20% so với năm
2007. Đây cũng sẽ là mức bình quân đầu tư ra nước ngoài hàng năm của doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 đến 2010./.
Hiện tại, Việt Nam đã thực hiện các chương trình cắt giảm thuế theo yêu
cầu của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thực hiện tự do hóa thương mại
và đầu tư vào APEC đến năm 2020. Ngay sau khi chính thức gia nhập WTO,
nước ta đã chủ động cắt giảm các dòng thuế theo đúng cam kết. Từ ngày
11/1/2007 nước ta đã chủ động thực hiện các cam kết ràng buộc toàn bộ Biểu
thuế nhập khẩu gồm 10.689 dòng thuế, mức giảm bình quân từ 17,4% xuống
còn 13,4% với lộ trình thực hiện sau 5 đến 7 năm và công bố cắt giảm 1.812
dòng thuế nhập khẩu với mức thuế suất giảm bình quân là 14,5%. Từ 1/1/2008,

Về năng suất lao động
Năng suất lao động của Việt Nam đang từng bước được nâng cao, tuy nhiên
hiện thời chỉ đạt xấp xỉ 1.700USD/lao động/năm. Chỉ số nói trên của Việt Nam
mới bằng khoảng 50% của những nước thuộc tốp trung bình trong khu vực như
Indonesia, Philippin. So với Thái Lan, năng suất lao động của Việt Nam chỉ
bằng khoảng 30%. Trong khi năng suất lao động của Việt Nam chưa vượt qua
con số 2.000 USD/lao động/năm, chỉ số này của Brunei hơn 60.000USD,
Singapo hơn 50.000USD, Malaysia hơn 14.000USD. Về lý thuyết (cách tính
năng suất lao động) các nước trong khu vực cũng như trên thế giới có chung
công thức: Tổng GDP chia cho tổng số lao động đang làm việc. Chỉ số năng
suất lao động trên đây tự nó chứng tỏ khoảng cách không nhỏ giữa các nước
trong khu vực và chỉ ra Việt Nam đang đứng ở tốp cuối, thua xa nhiều nước
trong khu vực. Như vậy mức giá cả hàng hoá của nước ta còn cao hơn so với
các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, có ảnh hưởng làm đồng VNĐ
giảm giá.
Tập đoàn truyền thông hàng đầu thế giới Grey Group vừa công bố kết quả
điều tra cho thấy người Việt mình “sính ngoại nhất châu Á” (so với 16 nước
châu Á)
Với những nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Grey
Group chắn chắn làm cho họ nghĩ sâu thêm về những khó khăn chồng chất
trước mặt.

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Lạm phát trên 20%, vay vốn ngân hàng khó chưa từng thấy, nguyên liệu đầu
vào tăng, phí vận chuyển và mọi khoản phí khác tăng, lương công nhân tăng mà
sức mua giảm và dãy hàng được chọn mua trong lực lượng người tiêu dùng


Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển hiện đang gặp phải tình thế
tiến thoái lưỡng nan trong việc lựa chọn các mục tiêu cơ bản của chính sách
kinh tế vĩ mô. Có ba mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô mà chúng ta theo đuổi
và hướng đến là


Tự do hóa các giao dịch vốn



Thực thi một chính sách tiền tệ độc lập



Ổn định tỷ giá.

Tuy nhiên, do tính loại trừ lẫn nhau nên sẽ không có bất kỳ một quốc gia nào
thỏa mãn được cùng lúc 3 mục tiêu. Các quốc gia chỉ có thể đạt được 2 trong số
3 mục tiêu mà thôi. Để thực hiện 2 trong số 3 các mục tiêu lựa chọn, có 1 trong
3 công cụ để thực thi là


Lựa chọn cơ chế tỷ giá có quản lý



Lựa chọn cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn



trước đây. Kết quả là chi phí giao dịch từ cuối năm 2000 cho đến 2004 ngày
càng có xu hướng hẹp dần, dao động nhẹ với mức bình quân khoảng 0,1%
(nhưng luôn cao hơn so với biên độ dao động của chi phí giao dịch trên thị
trường chuẩn).
Trong thời gian qua FED liên tiếp cắt giảm lãi suất là nhằm để chống đỡ cho
thị trường nhà đất ở Mỹ khỏi bị sụp đổ. Khi FED cắt giảm lãi suất, lợi ích của
việc giữ tiền USD sẽ giảm do vậy các nhà đầu tư sẽ chuyển sang giữ các tài sản
khác ví dụ đồng Euro hay vàng. Một phần tiền USD sẽ bị bán ra khiến giá trị
đồng USD giảm.
Khi FED cắt giảm lãi suất, các ngân hàng VN sẽ có nhu cầu cắt giảm lãi suất
theo, tuy nhiên việc điều chỉnh này cũng mất khá nhiều thời gian, và độ lệch
pha về thời gian sẽ khiến giá trị VNĐ tăng so với USD. Ngoài ra hiện nay ở VN
đang thừa khá nhiều ngoại tệ không được các ngân hàng mua vào, do chính sách
của ngân hàng nhà nước là tạm ngưng mua USD để chống lạm phát, nên giá trị
VNĐ vẫn sẽ tăng liên tục so với USD, và còn tăng mạnh hơn trong thời gian tới
với việc ngân hàng nhà nước vừa mở rộng biên độ giao dịch hàng ngày của
đồng VN từ 0,5 % lên 0,75%.

27


Tỷ giá và các nhân tố tác động đến tỷ giá

Danh mục tài liệu tham khảo:
1.Tài chính quốc tế_ PGS.TS.Nguyễn Văn Tiến
2.Kinh doanh ngoại hối và xác định tỷ giá_PGS.TS.Lê Văn Tề
3.Quản trị tài chánh quốc tế trong thị trường toàn cầu_PGS.TS.Dương Hữu
Hạnh
4.Tài chính quốc tế_PGS.TS.Đinh Trọng Thịnh
5.Thị trường hối đoái_GS.TS.Lê Văn Tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status