TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
PHẠM ĐỨC HIẾN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUỒN LÂN
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
LÚA OM5464 TRỒNG TRONG CHẬU
VỤ HÈ THU 2014
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NÔNG HỌC
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NÔNG HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUỒN LÂN
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
LÚA OM5464 TRỒNG TRONG CHẬU
VỤ HÈ THU 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực hiện:
Ảnh hưởng của các nguồn lân đến sinh trưởng và năng suất lúa OM5464
trồng trong chậu vụ hè thu 2014
Do sinh viên Phạm Đức Hiến thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
ngày ........tháng ........năm 2014
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ……………………
Cần Thơ, ngày ……..tháng ……năm 2014
Thành viên Hội đồng
-------------------------
-----------------------DUYỆT KHOA
ii
------------------------
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu , kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
Phạm Đức Hiến
đỡ con trong suốt thời gian qua.
Xin tỏ lòng biết ơn xâu sắc đến
Thầy Nguyễn Thành Hối, Thầy Mai Vũ Duy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
và động viên em trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Thầy cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền, cùng toàn thể thầy cô khoa Nông
nghiệp và Sinh học Ứng dụng, khoa Thủy Sản đã truyền dạy những kiến thức
quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường. Đây sẽ là hành trang
vững chắc giúp em bước vào đời.
Xin chân thành biết ơn đến
Các bạn Nông học khóa 37 đã đóng góp, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và thực hiện đề tài.
Và gởi những lời chúc tốt đẹp nhất đến toàn thể các bạn sinh viên khoa Nông
nghiệp và Sinh học Ứng dụng.
v
PHẠM ĐỨC HIẾN, 2014 “Ảnh hưởng của các nguồn lân đến sinh trưởng
và năng suất lúa OM5464 trồng trong chậu vụ hè thu 2014” luận văn tốt
nghiệp kỹ sư ngành Nông học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,
Trường Đại học Cần Thơ. 25 trang. Cán bộ hướng dẫn: TS Nguyễn Thành
Hối.
TÓM LƯỢC
Lân là nguyên tố đa lượng thiết yếu cho cây trồng, tuy nhiên đa số lân tồn tại
trong đất ở thể khó tan. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu chứng minh vi khuẩn
hòa tan lân Pseudomonas stutzeri có khả năng phân giải lân khó tiêu thành lân
dể tiêu chính vì vậy đề tài được tiến hành nhằm tìm ra nguồn lân thích hợp
đến sinh trưởng và năng suất cây lúa, góp phần tăng hiệu quả sản xuất, tiết
kiệm chi phí qua đó giúp nông dân nâng cao lợi nhuận. Thí nghiệm được thực
1.2.1.1 Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng ...........................................................3
1.2.1.2 Thời kỳ sinh trưởng sinh thực ..............................................................3
1.2.1.3 Thời kỳ hình thành hạt và chín.............................................................3
1.2.2 Những yếu tố cấu thành năng suất lúa.....................................................3
1.2.2.1 Số bông trên đơn vị diện tích ...............................................................3
1.2.2.2 Số hạt trên bông ...................................................................................4
1.2.2.3 Tỷ lệ hạt chắc ......................................................................................4
1.2.2.4 Khối lượng 1000 hạt ............................................................................4
1.2.2.5 Hệ số kinh tế (HI) ................................................................................4
1.3 LÂN TRONG ĐẤT LÚA ..........................................................................5
1.3.1 Vai trò của lân đối với cây lúa ................................................................5
1.3.2 Nhu cầu lân của cây lúa ..........................................................................5
1.3.3 Các dạng lân trong đất ............................................................................5
1.3.3.1 Lân tổng số ..........................................................................................5
1.3.3.2 Lân dễ tiêu ...........................................................................................6
1.3.3.3 Các phản ứng của lân trong đất ............................................................6
1.4 VI KHUẨN HÒA TAN LÂN ....................................................................6
1.5 HỢP CHẤT AVAIL ..................................................................................8
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP .........................................9
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM ................................................................9
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm ...........................................................9
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm .................................................................................9
2.1.2.1 Giống OM5464 ....................................................................................9
2.1.2.2 Đất và chậu thí nghiệm ........................................................................9
2.1.2.3 Phâm bón, thuốc bảo vệ thực vật và các dụng cụ khác .........................9
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM ............................................................. 10
2.2.1 Bố trí thí nghiệm................................................................................... 10
vii
Tên hình
Trang
1
Các dạng khuẩn lạc của vi khuẩn Pseudomonas stutzeri
7
ix
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Chiều cao (cm) của giống lúa OM 5464 theo các nguồn lân ở
các thời điểm sinh trưởng trồng trong chậu vụ Hè Thu năm
2014
14
3.2
46P+ (phân lân đã được xử lý avail) giúp tiết kiệm 25% lân. Theo Dela Cruz
(2008) phân lân có xử lý avail giúp tăng năng suất lúa 12,3%. Bên cạnh đó, đã
có nhiều công trình nghiên cứu áp dụng phân bón vi sinh nhằm sử dụng lượng
lân khó tiêu tồn tại trong đất và tăng hiệu quả sử dụng phân bón (Glick, 1995;
Sheng et al., 2002; Deng et al., 2003). Ở Việt Nam vi khuẩn hòa tan lân
Pseudomonas stutzeri đã được ứng dụng trong sản phẩm phân bón vi sinh bón
cho lúa cao sản và đạt hiệu quả cao (Cao Ngọc Điệp và ctv., 2010; Cao Ngọc
Điệp và Phan Văn Tùng, 2010). Theo Lê Thị Diễm Ái (2010) và Nguyễn Văn
Măng (2010) sử dụng vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri trên lúa cho
hiệu quả giúp giảm được 50% lượng phân lân.
Hiện nay giống lúa OM5464 chất lượng cao, chống chịu tốt với một số
sâu, bệnh hại đang được trồng nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng
những nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và tăng năng
suất đối với giống lúa trên còn hạn chế. Vì vậy, đề tài được thực hiện với mục
tiêu tìm ra nguồn lân thích hợp đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa
OM5464, góp phần tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm chi phí qua đó giúp nông
dân nâng cao lợi nhuận.
1
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY LÚA
1.1.1 Rễ
Bao gồm 2 loại rễ là rễ mầm và rễ phụ (Chang and Bardenas, 1965). Rễ
mầm là rễ mọc ra đầu tiên khi hạt lúa nẩy mầm, từ mắt thấp hơn và chết sau
khoảng 1 tháng. Thường mỗi hạt lúa chỉ có một rễ mầm. Rễ mầm không ăn
sâu, ít phân nhánh, chỉ có lông ngắn, thường dài khoảng 10-15 cm (Arraudeau
and Vergara, 1988). Rễ phụ mọc ra từ các mắt (đốt) trên thân lúa. Mỗi mắt có
tượng cổ bông đến lúc trổ hoàn toàn khoảng 35 ngày, mất 7 ngày để toàn bộ
hoa trên một bông lúa trổ hết, các hoa trên cùng nở đầu tiên và các hoa thấp
hơn nở cuối cùng (Arraudeau and Vergara, 1988). Hoa lúa là hoa lưỡng tính tự
2
thụ rất nghiêm ngặt, cấu tạo gồm hai mảnh vỏ, mảnh trấu lớn ở phía dưới và
mảnh trấu nhỏ ở phía trên, gồm sáu nhị đực và một nhụy cái chứa noản (De
Datta, 1981). Khi vỏ trấu vừa hé mở từ 0-4 phút thì bao phấn vỡ ra, tung hạt
phấn rơi lên đầu nhụy cái và sau đó vỏ trấu khép lại (khoảng 45-60 phút). Thời
gian thụ tinh kéo dài 8 giờ sau thụ phấn. Sau đó bầu noãn lớn dần lên thành
hạt lúa (Nguyễn Đăng Nghĩa và Nguyễn Mạnh Chinh, 2008).
1.2 SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA
1.2.1 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Chu kì sinh trưởng và phát triển của cây lúa tính từ lúc nảy mầm cho khi
lúa chín có thể chia làm 3 thời kỳ chính: thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, thời
kỳ sinh trưởng sinh thực và thời kỳ hình thành hạt và chín (Đinh Thế Lộc,
2006).
1.2.1.1 Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng bắt đầu từ khi nảy mầm đến khi cây lúa
kết thúc đẻ nhánh. Trong thời kỳ này cây hình thành và phát triển nhánh, lá và
một phần thân. Cần có sự cân đối giữa sinh trưởng nhánh và sinh trưởng lá sao
cho số nhánh sinh ra đều có khả năng sinh ra đủ số lá để trở thành nhánh hữu
hiệu. Các nhánh hữu hiệu sẽ cho bông và các nhánh ra muộn, số lá ít sẽ trở
thành nhánh vô hiệu và không cho bông. Việc đẻ nhánh của cây phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: đều kiện ngoại cảnh , môi trường, kỹ thuật canh tác và có
mối quan hệ chặt chẻ với sự ra lá. Bên cạnh quá trình đẻ nhánh cây lúa còn
xảy ra quá trình ra lá của cây mẹ và các nhánh. Cây lúa kết thúc đẻ nhánh khi
bước vào thời kỳ làm đốt (lóng) để phát triển thân (Đinh Thế Lộc, 2006).
với lúa cấy là tốt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.2.2.3 Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kì phân hóa đòng đến khi lúa
và chắc nhưng quan trọng nhất là thời kì phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi
màu, thụ phấn, thụ tinh và vào chắc (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Mỗi giống lúa
yêu cầu một lượng phân bón nhất định để sinh trưởng và hình thành năng suất.
Vượt quá giới hạn yêu cầu một số giống có tỷ lệ hạt chắc thấp (Nguyễn Đình
Giao và ctv., 1997). Theo Hoshikawa (1990) lúa bị đổ ngã thì sự hấp thu
dưỡng chất và quang hợp không bình thường, sự vận chuyển cacbonhydrate về
hạt bị trở ngại, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ dẩn đến hạt lép nhiều,
giảm năng suất. Trong điều kiện bức sạ mặt trời thấp hoặc cây đổ ngã nhiều
khiến cây nhận được ít ánh sáng mặt trời cung cấp cho quá trình quang hợp thì
số hạt lép tăng lên (Matsushima, 1976).
1.2.2.4 Khối lượng 1000 hạt
Theo Bùi Huy Đáp (1980) khối lượng 1000 hạt được quyết định bởi yếu
tố di truyền của giống, và bị thay đổi bởi điều kiện ngoại cảnh một phần. Khối
lượng 1000 hạt của một giống có đặc tính không đổi không có nghĩa từng hạt
có cùng khối lượng. Khối lượng từng hạt thay đổi ở vài trường hợp nhưng giá
trị trung bình không đổi. Đặc tính khối lượng 1000 hạt rất ít chịu tác động của
điều kiện môi trường và có hệ số di truyền cao (Bùi Chí Bửu, 2002). Nghiên
cứu của Matsushima (1976) cho biết cây lúa bị che mát trước khi trổ bông làm
thay đổi kích thước vỏ hạt và làm giảm khối lượng 1000 hạt khoảng 4-5 g.
1.2.2.5 Hệ số kinh tế (HI)
Hệ số kinh tế là một trong những đặc tính chủ yếu đáp ứng việc gia tăng
năng suất. Gia tăng hệ số kinh tế làm cho lúa ít rơm rạ hơn hoặc các phần
không quang hợp của cây ít hơn và chiều cao cây giảm giúp cây tăng cường
khả năng chống đỗ ngã (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Hệ số kinh tế HI (Harvest Index) được tính bằng công thức:
Năng suất kinh tế
hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm. Lúa trổ và chín muộn hơn, hạt
không no đầy và giảm phẩm chất hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Do trỗ bông
muộn nên hạt lép nhiều, độ dinh dưỡng hạt gạo thấp. Thiếu Lân ở thời kì làm
đòng thì năng suất giảm một cách rõ rệt (Nguyễn Đình Giao và ctv, 1997).
1.3.2 Nhu cầu lân của cây lúa
Theo Nguyễn Như Hà (2006) nhu cầu lân của cây lúa cần để tạ ra 1 tấn
lúa là khoảng 7,1 kg P2O5, trong đó tích lũy chủ yếu vào hạt (6kg). Cây lúa
hấp thu lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng nhưng xét về
cường độ thì cây hấp thu lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh.
1.3.3 Các dạng lân trong đất
Lân trong đất thường tồn tại ở hai dạng là hữu cơ và vô cơ, những người
ta thường phân biệt lân trong đất có hai dạng là lân tổng số và lân dễ tiêu.
1.3.3.1 Lân tổng số
Lân tổng số của đất là tổng các hợp chất lân trong đất, dù kết hợp với
cation nào, ở dạng vô cơ hay hữu cơ, thể hiện bằng hàm lượng tổng số P2O5 ().
Do đó, lân tổng số chỉ cho chúng ta biết được tổng lượng lân có trong đất mà
không cho biết khả năng cung cấp lân cho cây trồng, vì lân trong đất được
kiểm soát bởi nhiều yếu tố môi trường, có thể bị giữ lại bởi các hợp hợp chất
khó tan như phosphate sắt, phosphate nhôm. Mặt khác, các loại cây trồng khác
nhau thì khả năng sự dụng lân cũng khác nhau. Các đất khác nhau thì hàm
lượng lân tổng số khác nhau. Lân tổng số trong đất phụ thuộc vào thành phần
khoáng của đất. Lân hữu cơ được tìm thấy nhiều trong các vùng đất có nhiều
mùn, lá cây, các xác bã thực vật và động vật và chủ yếu tồn tại ở lớp đất mặt.
Dạng lân hữu cơ trong đất biến động từ 10 – 15% lân tổng số bao gồm các
5
phytin, nucleoprotein, lectin, hợp chất mùn và các acid hữu cơ chứa lân. Dạng
lân vô cơ chiếm khoảng 80% lân tổng số bao gồm phosphate K, Na, NH4, Ca,
Butyric, acid Monolic, và acid 2-ketogluconic thành lân dễ tan (Yahya and
Azwi, 1989). Tùy theo loại đất mà có số lượng vi khuẩn hòa tan lân hiện diện
khác nhau (Khan and Bhatnagar,1997). Vi khuẩn hòa tan lân sống tập trung ở
vùng rễ (Sperber, 1985) và ảnh hưởng đến sự phát triển của cây (Grick, 1995).
Vi khuẩn Pseudomonas stutzeri lần đầu tiên được phân lập bởi Burri và
Stutzer (1985), có tên gọi là Bacillus denitrificans II, sau đó được Allen và
Niel (1952) đổi tên thành Pseudomonas stutzeri do có sự tương đồng về trình
tự của rRNAs với giống Pseudomonas. Bây giờ Pseudomonas stutzeri được
nhận diện thuộc lớp Gamma protobacteria (Lalucat et al., 2006).
Pseudomonas stutzeri là vi khuẩn gram âm, hình que, dài từ 1 – 3 µm, rộng
0,5 µm (Guasp et al., 2000). Chúng là loài có khả năng khử nitrat không sắc
tố, khử nitrat thành khí nitơ, có khả năng tạo amylase, không có khả năng tạo
6
gelatinase, và có thể tăng trưởng trong maltose và tinh bột (Bennasar et al.,
1998; Sikorski et al., 1999). Pseudomonas stutzeri là loài không có sắc tố
huỳnh quang. Đây là đặc điểm phân biệt Pseudomonas stutzeri với những loài
khác của giống Pseudomonas (Lalucat et al., 2006). Khuẩn lạc của
Pseudomonas stutzeri (Hình 1) có màu hơi đỏ, nâu, không vàng, nhăn nheo.
Đặc tính điển hình là cứng, khô và dính chặt (Rius et al., 2001). Hình dạng
không đồng nhất và không ổn định theo thời gian. Sau nhiều lần cấy truyền
trong môi trường phòng thí nghiệm, các khuẩn lạc trở nên trơn, láng và màu
tái đi (Lalucat et al., 2006). Pseudomonas stutzeri hòa tan lân khó tiêu (Ca-Ps)
bằng cách tiết ra proton H+. Các proton H+ này được sinh ra từ quá trình đồng
hóa-hoán vị NH4+ (Beever and Burns, 1980) hoặc từ sản phẩm hô hấp H2CO3
(Jurinak et al., 1986).
Hình 1: Các dạng khuẩn lạc của vi khuẩn Pseudomonas stutzeri
(Lalucat et al., 2006)
những cation kim loại đa hóa trị trong dung dịch đất nơi mà hạt phân lân hòa
tan sẽ phá vỡ hoặc làm chậm lại những phản ứng cố định lân bình thường đưa
tới kết quả làm tăng số lượng các hợp chất lân dễ tan trong nước.
8
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thời gian thực hiện: Vụ lúa Hè Thu năm 2014 từ tháng 3/2014 đến tháng
6/2014
Địa điểm thực hiện: Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới Bộ môn
Khoa học Cây trồng, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại
học Cần Thơ.
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
2.1.2.1 Giống OM5464
Giống lúa OM5464 được chọn từ tổ hợp lai OM3432/OM2490. Giống
OM5464 thời gian sinh trưởng ngắn, lúa sạ 85-88 ngày trong vụ Đông Xuân
và vụ Hè Thu 90-93 ngày. Đây là giống lúa thấp cây 80-90 cm, dạng hình đẹp,
đẻ nhánh khá, tỉ lệ chắc cao, khối lượng 1000 hạt trung bình 25-26 g, hạt gạo
dài, trong, ít bạc bụng, cơm khô khi nguội. Giống OM5464 chống chịu Rầy
nâu và bệnh đạo ôn tốt, chống chịu bệnh Vàng lùn, lùn xoắn lá khá. Đây là
giống lúa dễ canh tác, thích hợp trên nhiều loại đất, tiềm năng năng suất khá
cao và ổn định trong cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu từ 5 đến 8 tấn/ha.
2.1.2.2 Đất và chậu thí nghiệm
Đất thí nghiệm: lấy từ nhà lưới Bộ môn Khoa học Cây trồng, Khoa Nông
nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ.
Chậu thí nghiệm: chậu đất nung thí nghiệm có đường kính mặt là 30 cm
tương đương 100 kg/ha (đã trừ lượng đạm có trong phân lân 46P+ và phân lân
DAP) và kali (0,075 g K2O/chậu) tương đương 30 kg/ha.
2.2.2 Kỹ thuật canh tác
Chuẩn bị đất: đất được cuốc lên để khô tự nhiên, băm nhỏ đất trước khi
cân, cân 5kg/chậu, cho nước vào chậu 2 ngày trước khi gieo, sau đó tiến hành
gieo giống.
Gieo giống: Giống ngâm 24 giờ và ủ 48 giờ rồi trộn với phân vi sinh
Dasvila theo tỷ lệ 1 lít/15 kg hạt giống ủ lại 3 giờ sau đó đem gieo 15-20
hạt/chậu.
Đất giữ ẩm khi mới gieo 3-5 ngày , sau đó giữ nước 2-3 cm đến trước thu
hoạch 7-10 ngày thì ngưng tưới.
Bón phân: Sử dụng công thức phân 100N-60P2O5-30K2O kg/ha (2 triệu
kg đất khô). Bón 4 đợt: lót trước khi gieo 1 ngày 100%P, 25%N + 50%K lúc
10 ngày sau khi gieo(NSKG),50% N lúc 20 NSKG và 25%N + 50%K lúc 40
NSKG.
10
2.3 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI VÀ THU THẬP
2.3.1 Chỉ tiêu nông học
Chiều cao cây (cm): từ mặt đất đến chóp lá cao nhất (hoặc chóp bông lúc
thu hoạch). Đo vào lúc 10, 20, 40, 60,90 NSKG.
Số chồi/chậu: đếm tổng số chồi có từ 2 lá thật (cao khoảng 2-4 cm) trong
chậu. Đếm vào lúc 20, 40, 60, 90 NSKG.
2.3.2 Năng suất và các thành phần năng suất
Số bông/chậu (chồi hữu hiệu/chậu): Đếm số bông trên chậu.
Số hạt/bông:
Tổng số hạt thu được
Số hạt/bông =
khối lượng toàn cây ở cùng ẩm độ (14%)
Khối lượng hạt chắc
HI =
Khối lượng cả cây lúc thu hoạch
2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỐNG KÊ
Sử dụng phần mềm Excel để tính toán số liệu, Xử lý thống kê bằng phần
mềm SPSS 16.0 để tìm ra sự khác biệt ý nghĩa thống kê. Phân tích phương sai
ANOVA so sánh số liệu trung bình bằng kiểm định Duncan ở mức ý nghĩa
5%.
12
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUAN
Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, thời tiết tương đối thuận lợi. Cây
lúa phát triển tốt, chiều cao cây phát triển nhanh đến giai đoạn 60 NSKG sau
đó thì tăng chậm lại. Lúa bắt đầu đẻ nhánh từ khoảng 14 NSKG, giai đoạn
20 – 40 NSKG cây lúa đẻ nhánh đạt số nhánh tối đa, sau giai đoạn 40 ngày số
nhánh bắt đầu giảm dần cho đến thu hoạch. Giai đoạn 60 NSKG lúa bắt đầu
trổ và trổ hoàn toàn lúa 70 NSKG. Thu hoạch khi lúa chín 80 – 90 % lúc 95
NSKG. Trong quá trình làm thí nghiệm có xuất hiện bệnh cháy bìa lá giai
đoạn 20 – 40 NSKG, bên cạnh đó khi lúa trổ có xuất hiện bệnh lem lép hạt do
trời mưa. Tuy nhiên, lúa được phòng trị kịp thời nên ít gây ảnh hưởng đến sinh
trưởng và năng suất của cây.
3.2 ĐĂC TÍNH SINH HỌC
3.2.1 Chiều cao cây
Qua kết quả thí nghiệm Bảng 3.1 cho thấy vào giai đoạn cây lúa 10