hiệu quả của phân urea hạt đục cà mau bổ sung dịch chiết thực vật hua trên sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện thí nghiệm nhà lưới - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
________________________________________

BÙI THỊ HỒNG THẤM

Đề tài
HIỆU QUẢ CỦA PHÂN UREA HẠT ĐỤC CÀ MAU
BỔ SUNG DỊCH CHIẾT THỰC VẬT HUA TRÊN
SINH TRƢỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRONG
ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM NHÀ LƢỚI

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: KHOA HỌC ĐẤT

Cần Thơ - 2014


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
_____________________________________

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: KHOA HỌC ĐẤT

Đề tài:

HIỆU QUẢ CỦA PHÂN UREA HẠT ĐỤC CÀ MAU
BỔ SUNG DỊCH CHIẾT THỰC VẬT HUA TRÊN

.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày…..tháng..…năm 2014
Giáo viên hƣớng dẫn

Ts. Nguyễn Minh Đông
i


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
_____________________________________

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chấp nhận đề tài “Hiệu quả của phân
urea hạt đục Cà Mau bổ sung dịch chiết thực vật HUA trên sinh trưởng và năng

nhà lưới” là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và kết quả trình bày
trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ tài liệu
nào nghiên cứu trƣớc đây.
Tác giả luận văn

Bùi Thị Hồng Thấm

iii


LỜI CẢM TẠ
Kính dâng:
Cha mẹ đã suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tƣơng lai của con.
Thành kính biết ơn:
Thầy CVHT Nguyễn Minh Đông đã tận tình hƣớng dẫn, gợi ý và cho những lời
khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành quá trình thực tập.
Quý thầy cô Trƣờng Đại Học Cần Thơ cùng toàn thể quý thầy cô, anh chị thuộc Bộ
môn Khoa học đất đã dìu dắt và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong
suốt các năm học.
Chân thành biết ơn:
Lời cảm ơn chân thành cũng xin gửi đến các bạn Nguyễn Hữu Tuấn, Nguyễn
Phƣơng Thảo Vân, Trần Anh Vũ, Quách Thanh Toán và các bạn lớp Khoa học đất
khóa 37 đã nhiệt tình chia sẽ, động viên và phối hợp trong quá trình thực hiện luận
văn tốt nghiệp.
Em xin chúc tất cả quý Thầy Cô, các anh chị trong Bộ môn Khoa học đất cùng các
bạn lớp Khoa học đất Khóa 37, luôn dồi dào sức khỏe và thành công trên con đƣờng
của mình.
Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến công ty TNHH MTV Phân Bón Dầu
Khí Cà Mau, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi cũng nhƣ các sinh viên khác
hoàn thành tốt đề tài.

Sinh Học Ứng Dụng, Trƣờng Đại Học Cần Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: Ts. Nguyễn
Minh Đông.

TÓM LƢỢC
Giá thành nhập khẩu các loại chế phẩm ức chế enzyme urease ngày càng cao, kéo
theo đó là giá phân bón tăng, nên việc tìm ra một loại chế phẩm bản địa để thay thế
là rất cần thiết. Vì vậy, đề tài đƣợc thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả ức chế urease
của phân urea có bổ sung dịch chiết thực vật HUA trên sinh trƣởng và năng suất
lúa, từ đó đánh giá khả năng thay thế chế phẩm nBTPT nhập ngoại bằng loại dịch
chiết thực vật HUA bản địa. Thí nghiệm nhà lƣới đƣợc bố trí theo kiểu hoàn toàn
ngẫu nhiên (CRD) gồm 4 lần lặp lại và 6 nghiệm thức: (NT0) Không bón N, (1) bón
100%N urea, (2) bón 100%N urea-nBTPT, (3) bón 70%N urea-nBTPT, (4) bón
100%N urea-HUA, (5) bón 70%N urea- HUA và (6) bón 50%N urea- HUA. Kết
quả thí nghiệm cho thấy, bón urea và urea có bổ sung thêm chất ức chế urease
(nBTPT, HUA) ở liều lƣợng 100%N và 70%N đều cho chiều cao, số chồi, số
bông/chậu, số hạt/bông, phần trăm hạt chắc, cao hơn so với nghiệm thức bón 50%N
urea-HUA. Giảm liều lƣợng N bón xuống 70%N urea-HUA và 70%N urea-nBTPT
không làm ảnh hƣởng đến trọng lƣợng hạt (g/chậu), mà còn đạt tƣơng đƣơng
nghiệm thức 100%N urea. Trọng lƣợng hạt (g/chậu) giảm đáng kể khi bón giảm ở
liều lƣợng 50%N urea-HUA. Hiệu quả nông học đạt cao ở dạng phân urea-HUA,
urea-nBTPT ở mức bón 70%N, hiệu quả đạm giảm dần theo thứ tự 70%N ureaHUA > 70%N urea-nBTPT. Qua kết quả cho thấy, có thể thay thế phân urea-nBTPT
với giá thành cao bằng loại phân urea-HUA đƣợc sản xuất bản địa với mức bón
70%N, vừa tiết kiệm đƣợc lƣợng N bón mà vẫn vẫn đảm bảo đƣợc năng suất.

vi


MỤC LỤC
Nội dung


2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.................................................................................... 14
2.2.1 Mô tả thí nghiệm .......................................................................................... 14
2.2.2 Biện pháp canh tác ....................................................................................... 14
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi .................................................................................... 15
vii


2.2.4 Tính toán số liệu năng suất và thành phần năng suất .................................. 15
2.2.5 Phƣơng pháp phân tích và đánh giá số liệu ................................................. 16
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................ 17
3.1. Diễn biến pH nƣớc mặt sau mỗi đợt bón phân .................................................. 17
3.2. Sinh trƣởng và phát triển .................................................................................... 18
3.2.1 Chiều cao lúa qua các giai đoạn sinh trƣởng ............................................... 18
3.2.2 Số chồi lúa qua các giai đoạn sinh trƣởng ................................................... 20
3.3. Thành phần năng suất và năng suất lúa.............................................................. 22
3.3.1 Thành phần năng suất lúa ............................................................................ 22
3.3.2 Năng suất lúa ............................................................................................... 24
3.4. Hiệu quả nông học ............................................................................................. 26
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 28
PHỤ LỤC

viii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Tên từ viết tắt


Phenylphosphorodiamidate

AE

Agronomic Efficiency (Hiệu quả nông học)

CHPT

Cyclohexyl phosphoric triamide

DCD

Dicyan-diamide

ECC

Encapsulated Calcium Carbide

IBDU

Isobutidene Diurea

ĐBSCL

Đồng Bằng Sông Cửu Long

IRRI

International Rice Research Institute (Viện nghiên cứu lúa Quốc tế)


19

Trang

40 NSKS và 55 NSKS.
3.3

Số chồi lúa của các nghiệm thức ở giai đoạn 25 NSKS,

21

40 NSKS và 55 NSKS.
3.4

Trọng lƣợng rơm và trọng lƣợng hạt của các nghiệm thức

24

3.5

Hiệu quả nông học

26

x


DANH SÁCH BẢNG
Bảng



MỞ ĐẦU
Urea là loại phân bón hiện nay đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam.
Đây là loại phân N dạng hạt, có hàm lƣợng N khá cao (46%N) và giá thành thấp
nên đƣợc sử dụng rộng rãi. Urea dễ hòa tan trong nƣớc, nó có thể tồn tại ở hai dạng
là phân urea đơn và phân urea hỗn hợp. Tuy nhiên, phân urea có nhƣợc điểm là dễ
bị mất N do bốc hơi khi bón lên bề mặt đất thông qua các con đƣờng nhƣ rửa trôi,
bốc hơi và thấm sâu. Hiệu quả sử dụng của phân urea khi bón vào đất chỉ đạt 30% 45% và trong đó N mất do bốc thoát ammonia là chủ yếu, chiếm 25 - 45% lƣợng N
mất Zhu (1985).
Có rất nhiều chế phẩm đã đƣợc nghiên cứu để trộn với phân urea, nhằm hạn chế quá
trình mất N nhƣ: urea bọc lƣu huỳnh, phân urea có lớp phủ nhựa hay vật liệu nhiệt
dẻo...Năm 1997 các nhà khoa học đã tiến thêm một bƣớc bằng việc sử dụng chế
phẩm nBTPT–n-Butyl Thiophosphoric Triamide (có tên thƣơng mại là Agrotain) để
ức chế urease làm hạn chế quá trình chuyển hóa phân urea thành ammonia khi bón
xuống ruộng. Nhƣng giá thành của chế phẩm nBTPT cao nên tổng chi phí hầu nhƣ
không giảm so với không sử dụng chế phẩm. Ngoài ra, mặc dù nBTPT rất có hiệu
quả trong việc ức chế urease trên đất trồng màu; tuy nhiên, hiệu quả ức chế urease
của nBTPT trên đất lúa chƣa rõ ràng. Gần đây nhóm nghiên cứu của trƣờng Đại học
nông nghiệp Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu dịch chiết từ những loại thực vật bản
địa Việt Nam để làm giảm sự mất N trên một số ruộng canh tác ngô. Kết quả bƣớc
đầu cho thấy, dịch chiết thực vật có tác dụng ức chế urease thể hiện qua lƣợng phân
N đƣợc sử dụng thấp hơn mà cây vẫn duy trì, thậm chí sinh trƣởng và phát triển tốt
hơn so với đối chứng (Đỗ Thanh Bình, 2010; Bùi Hữu Ngọc, 2010). Tuy nhiên, việc
nghiên cứu ảnh hƣởng của dịch chiết thực vật để hạn chế sự mất N trên đất lúa còn
rất ít. Vì những lý do trên đề tài ―Hiệu quả của phân urea hạt đục Cà Mau bổ sung
dịch chiết thực vật HUA trên sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện thí
nghiệm nhà lưới‖ đƣợc thực hiện nhằm :
- Đánh giá hiệu quả ức chế urease của phân urea có bổ sung dịch chiết thực vật
(HUA) trên sinh trƣởng và năng suất lúa.
- Đánh giá khả năng thay thế chế phẩm nBTPT nhập ngoại bằng loại dịch chiết thực

đƣợc bảo quản kỹ trong túi polyethylene và tránh tiếp xúc với nắng. Bởi vì khi tiếp
xúc với không khí và ánh nắng urea dễ bị phân hủy và bay hơi. Khi gặp nƣớc, urea
sẽ bị thủy phân tạo thành dạng NH4+ đây là dạng cây có thể hấp thu đƣợc. Tuy
nhiên, khi cây trồng hấp thu không kịp, NH4+ nhanh chóng bị enzyme thủy giải
thành NH3. Urea còn bị phản nitrate hóa, tạo thành nitrogen oxide, đây là hai con
đƣờng, gây thất thoát chủ yếu khi sử dụng N. Ngoài ra, còn có các yếu tố ảnh hƣởng
đến việc thất thoát N nhƣ nhiệt độ, pH của đất, pH của nƣớc, mực nƣớc trong
ruộng…Vào thời tiết nắng nóng, lƣợng N bị mất trong một ngày có thể lên đến
50%N (Võ Thị Gƣơng và ctv., 2004).
2


1.1.2 Các tiến trình mất đạm trên đất lúa

Hình 1.1. Các tiến trình mất đạm trên đất lúa

 Mất đạm dạng NH3
Khi urea đƣợc bón vào đất, nó nhanh chóng đƣợc thủy phân do hoạt động xúc
tác của enzyme urease để trở thành NH4+, dạng này dễ đƣợc cây lúa hấp thu. Sự
thủy phân urea đƣợc xúc tác bởi enzyme urease do nhiều vi khuẩn, tảo, nấm,...tổng
hợp nên men này và sử dụng nguồn N cho sự sinh trƣởng.
CO(NH2)2 (urea) + 2 H2O + urease → (NH4)2CO3
(NH4)2CO3 + H2O → NH4HCO3 + NH4OH
Bón phân N chứa ammonium hoặc urea vào đất chúng nhanh chóng bị thủy
phân thành ammonia và bị mất dƣới dạng NH3 (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999). Sự bốc
hơi NH3 trong đất lúa ngập nƣớc là một cơ chế quan trọng gây sự mất N từ 5 – 47%
lƣợng N cung cấp trong điều kiện ngoài đồng. Sự mất N dạng NH3 xảy ra mạnh trên
đất có pH cao, đất khô và đất cát; đất cát có khả năng kiềm giữ NH4+ , đạm bị mất ở
dạng này thƣờng xảy ra trên các loại đất chua nhẹ (Võ Thị Gƣơng, 2004). Sự bốc
thoát cao điểm xảy ra từ hai đến bốn ngày sau khi bón phân N (Võ Tòng Xuân và

N2

Tiến trình này phóng thích nitrous oxide (N2O-), khí nitơ (N2).
Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự bốc thoát N2 là chế độ nƣớc. Đối với đất lúa
ngập nƣớc liên tục, điều kiện yếm khí thƣờng xuyên, thiếu oxy làm hạn chế sự
nitrate hóa. Khi bón N trên mặt ruộng thì N sẽ bị nitrate hóa ở tầng oxy hóa dày (2 3 mm), đạm NH4+ bị oxy hóa thành NO3-, NO2- đi xuống tầng khử thành N2O va N2
bay vào khí quyển (Ngô Ngọc Hƣng và ctv., 2004).
Hiệu quả của phân N khi bón vào đất chỉ đạt 30% - 40% (Zhu, 1985) và trong
đó N mất do khử nitrate là chủ yếu, nó chiếm 25% - 45% lƣợng N mất. Sự ngập
nƣớc không liên tục ở đất lúa, cũng làm gia tăng lƣợng N mất do sự nitrate hóa xảy
ra ở giai đoạn thoáng khí, và tiếp theo đó là sự khử nitrate mãnh liệt trong giai đoạn
đất ngập nƣớc. Đất lúa ngập nƣớc gián đoạn thì sự rút ngắn thời gian của một chu
kỳ ngập nƣớc, sẽ làm gia tăng sự mất N lên 63% tổng lƣợng N bón vào đất (Patrick
và Weyalt, 1964) (Trích bởi Lê Văn Căn, 1978).

4


 Mất đạm do rửa trôi NO3Trong tiến trình khử nitrate, oxy đƣợc tách ra từ nitrate và nitrite. Các dạng
oxide của N đƣợc sử dụng do những vi sinh vật hiếm khí (đóng vai trò là chất nhận
e-) và khử đến N2 hay N2O. Tác động chính đến môi trƣờng là tiến trình rữa trôi và
trực di nitrate vào mực nƣớc ngầm, phóng thích khí hiệu ứng nhà kính. Hiện nay,
phân bón N đã đƣợc các nhà môi trƣờng học đánh giá là một nguồn gây hại cho môi
trƣờng đất, nƣớc, không khí. So với tốc độ phản ứng của sự chuyển hóa N trong đất
thì tốc độ phản ứng xảy ra ở lớp nƣớc mặt, ở giao diện giữa lớp nƣớc và lớp đất mặt
trong đất lúa, thƣờng nhanh hơn ở tại thời điểm bón phân hoặc nồng độ N trong
nƣớc duy trì cao (Ngô Ngọc Hƣng, 2009).
1.1.3 Hiệu quả sử dụng đạm trên đất lúa
Sau khi bón vào đất, dƣới tác dụng của men urease, urea bị phân giải thành
ammonium carbonate. Ở đất trung tính, nhiệt độ tƣơng đối cao và ẩm độ thích hợp,

những giải pháp hiệu quả là nghiên cứu ức chế hoạt động của men urease. Năm
1997, các nhà khoa học đã tiến thêm một bƣớc bằng việc sử dụng chế phẩm nBTPT
– n-Butyl Thiophosphoric Triamide (tên thƣơng mại là Agrotain) để ức chế men
urease làm hạn chế quá trình chuyển hóa phân urea thành ammoniac. Chế phẩm
nBTPT có tác dụng ức chế sự hoạt động của men urease sinh ra bởi các vi sinh vật
amon hóa, nBTPT bám vào vị trí bám của urease và khóa tạm thời enzyme này. Sau
một thời gian nBTPT bị phân hủy, enzyme lại thực hiện chuyển hóa urea thành
NH4+. Cơ chế hoạt động của Agrotain thực chất dƣới dạng n-Butyl Phosphoric
Triamide (nBPTO). Hợp chất nBPTO đƣợc tạo ra bởi sự oxy hóa, kết quả là oxy
thay thế lƣu huỳnh trong phân tử nBTPT. Một đầu của phân tử nBPTO rất giống về
kích thƣớc với phân tử urea, đồng thời chúng cũng có nhóm n-butyl ở đầu kia. Đầu
phân tử nBPTO giống với urea đính với vị trí hoạt động của men urea khóa chặt quá
trình hoạt động chuyển hóa urea và ức chế quá trình thuỷ phân urea. Điều đó có
nghĩa là NH4+ trong phân urea đƣợc giải phóng chậm lại khiến cho cây hấp thụ
đƣợc nhiều hơn và hạn chế đƣợc sự thất thoát đạm qua con đƣờng bay hơi. Tuy
nhiên, nBPTO không bền khi phối trộn với urea nên nBTPT đƣợc chọn trong sản
xuất nguyên liệu phối.

Hình 2: Cơ chế hoạt động của nBTPT

Theo kết quả thí nghiệm của Waston và ctv., (1994) cho thấy, tỷ lệ phối trộn
nBTPT với urea từ 0,1 – 0,5%, thì khoảng 0,1 – 0,2 % là thích hợp nhất. Các tỷ lệ
phối trộn nBTPT với urea lên cao hơn 0,2%, đều không cho gia tăng hiệu quả mà
chỉ tăng thêm chi phí. Việc sử dụng urea-nBTPT đã đƣợc một số nƣớc nhƣ Mỹ,
Canada, Úc, Newzealand sử dụng và mang lại kết quả rất khả quan, do việc hạn chế
6


thêm đƣợc 20% lƣợng N thất thoát do biến thành ammoniac bay vào không khí.
Theo Rawluk và ctv., (2001), thí nghiệm khi bón phân N dạng viên có áo nBTPT

nhiên, điều này lại không làm giảm đƣợc chi phí sản xuất vì giá thành của nBTPT
lại khá cao.
7


Bên cạnh việc sử dụng chất nBTPT, các chất ức chế hoạt động của men urease
đƣợc sử dụng nhƣ: phenylphosphoro-diamidate (PPD), cyclohexyl
phosphorictriamide (CHPT). De Datta (1985) thí nghiệm tại IRRI khi bón phân đạm
kết hợp với chất PPD giảm lƣợng bốc thoát ammonia 12 - 22 kgN/ha. Các nghiên
cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy chất CHPT có hiệu quả hơn nBTPT trong việc
giảm bốc thoát ammonia (Chien và ctv., 2009).
1.2.2 Dùng chất ức chế sự nitrate hoá
Theo Di và Cameron (2002) thử nghiệm trong chậu khi bón phân urea có dùng
chất ức chế sự nitrate hoá là dicyandiamide (DCD) trên loại đất trồng cỏ cho chăn
thả (Udic Haplustept) ở New Zealand cho thấy lƣợng NO3- rửa trôi hàng năm giảm
đến 59%, và ở nghiệm thức không dùng DCD có lƣợng NO3- trong nƣớc là 19,7
mgN/l vƣợt ngƣỡng tiêu chuẩn nƣớc uống. Di và ctv., (2007), cũng bón kết hợp
DCD với phân N trên bốn loại đất kết quả là lƣợng bốc hơi N2O (trong thời gian
hơn 69 - 137 ngày) giảm 61% - 73% so với không có DCD (0,3 - 5,7 kgN2O/ha so
với 1 - 20,9 kgN2O/ha).
Yaseen và ctv., (2005) dùng chất ức chế encapsulated calcium carbide (ECC)
làm tăng năng suất lúa so với bón NPK thông thƣờng. Banerjee và ctv., (1990) thí
nghiệm bón phân urea 120 kg/ha với lô 30 m2 ở New Dehli, Ấn Độ có lƣợng bốc
hơi N2 + N2O (sau khi bón 2 - 10 ngày) là 4,1 gN/ha khi có trộn với ECC 20 kg/ha
và 61,9 gN/ha khi không có trộn.
Gần đây một sản phẩm dạng chuỗi polymer là maleic-itaconicdicaborxyl acid
với tên thƣơng mại là Nutrisphere cho thấy hiệu quả trong việc làm chậm sự thuỷ
phân và giảm lƣợng bốc thoát ammonia (Franzen và ctv., 2011). Nutrisphere-N là
một sản phẩm tƣơng đối mới, là chất ức chế nitrate hóa, khác với những sản phẩm
ổn định N và giảm mất đạm thì Nutrisphere-N là chất bảo vệ và ức chế tất cả 3 hình

loại phân này có lƣợng phóng thích đến 80% lƣợng N trong vòng 40 – 140 ngày,
nên đƣợc bón lúc làm đất và chỉ cần bón một lần, nên ít tốn công và quan trọng hơn
là khi bón phân này trên ruộng cho năng suất lúa cao hơn khi bón urea ở 3 mức N
100, 200 và 300 kg/ha.
Sử dụng phân urea chậm tan từ phản ứng giữa urea với các aldehyde:
dạng phân urea chậm tan từ phản ứng giữa urea với các aldehyde là isobutidene
diurea (IBDU), đây là giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm và thân thiện
với môi trƣờng. Wells và Shockley (1975), nghiên cứu trên hai loại đất trồng lúa:
đất thịt và đất sét ở Hoa Kỳ cho kết quả cho năng suất nhƣ nhau giữa bón phân
IBDU và bón phân urea, nghiên cứu này cũng cho rằng phân IBDU là nguồn cung
cấp N thích hợp trong canh tác lúa nƣớc. Khi bón vùi IBDU ở độ sâu 10 - 12 cm có
lƣợng bốc thoát ammonia rất thấp (dƣới 1% lƣợng N bón) (De Datta, 1981). Kết
quả thí nghiệm của Carreres và ctv., (2003) cho thấy, bón phân IBDU trƣớc khi cho
ngập nƣớc cải thiện N2 cố định sinh học so với sử dụng phân urea và có năng suất
cao hơn (9,0 so với 8,2 tấn/ha) tuy nhiên tổng lƣợng đạm hấp thu và hiệu quả nông
học không khác nhau.

9


1.2.4 Các biện pháp khác
Bón vùi sâu phân đạm viên nén: có các dạng urea viên nén nhƣ urea dạng
hạt, viên urea lớn, và viên siêu urea có đƣờng kính trung bình lần lƣợt là 1,5; 7,0;
11,5 mm. Theo Nguyễn Nhƣ Hà (2006), khi N đƣợc bón sâu 5 – 10 cm vào tầng
khử thì hiệu quả N cao hơn. Bón N vào tầng khử, đƣợc các keo đất giữ dƣới dạng
NH4+, cung cấp dần cho cây, ngăn chặn việc hình thành NO3-, hiệu lực của N có thể
tăng gấp đôi. Bón N sâu còn ngăn chặn việc bốc hơi NH3 vào tầng khí quyển
(Nguyễn Ngọc Nông, 1999). Còn theo Nguyễn Tất Cảnh và ctv., (2006), bón phân
viên nén vùi sâu đã tiết kiệm đƣợc 34% lƣợng N so với bón vãi thông thƣờng, tăng
năng suất lúa trung bình từ 15 – 19%, giảm các chi phí về công cấy, công làm cỏ và

từ Datisca cannabina đã đƣợc công bố là có khả năng ức chế hoạt động của enzyme
chiết xuất từ đậu rựa (Ahmad và ctv., 2008). Dịch chiết từ vỏ táo có chứa quercetin
gần đây đã đƣợc chứng minh là các chất có khả năng ức chế hoạt động của enzyme
urease H. Pylori (Pastene và ctv., 2009). Ngoài ra, dịch chiết thô từ cây hoa trà
(camellia) lại có tác dụng kìm hãm sự sinh trƣởng của quần thể, cũng nhƣ ức chế
quá trình sinh tổng hợp ra men urease của vi khuẩn Helicobacter pylori (Hassani và
ctv., 2009). Theo các tài liệu, hiện đã phát hiện hàng trăm loài thực vật có thể khai
thác làm chất ức chế urease, tuy nhiên khả năng ứng dụng ở quy mô công nghiệp thì
vẫn còn nhiều hạn chế.
1.3.2 Dịch chiết thực vật HUA
Dịch chiết từ thực vật HUA do Nguyễn Tất Cảnh và cộng sự, Bộ môn Canh
tác học, Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội nghiên cứu, năm 2006. Đây là hỗn
hợp dịch chiết từ một số loài thực vật có khả năng ức chế hoạt động của nhóm vi
khuẩn amon hóa, quá đó làm chậm quá trình chuyển phân N dạng amon NH4+ thành
NH3. Ngoài ra dịch chiết cũng chứa thành phần ức chế men urease, giúp làm chậm
lại quá trình chuyển phân đạm dạng amôn NH4+ thành NH3. Dịch chiết từ thực vật
bản địa HUA đƣợc phát triển dựa trên nguồn thực vật bản địa ở Sa Pa Việt Nam.
Nguồn gốc dịch chiết từ thực vật HUA là hỗn hợp đƣợc phối trộn từ dịch chiết
của một số cây nhƣ: cây cỏ sữa (tên khoa học là Euphorbia thymifoblia Burm), cây
chó đẻ hay còn gọi là diệp hạ châu (tên khoa học là Phyllanthus amarus), cây Cứt
lợn hay còn gọi là cây hoa ngũ sắc (tên khoa học Ageratum conyzoides) và cây lƣợc
vàng (tên khoa học là Callificia fragrans); một số loại cây khác và phụ gia.
Dịch chiết cũng đã đƣợc sử dụng kết hợp với bón phân urea cho ruộng trồng
ngô tại một số vùng phía Bắc. Kết quả bƣớc đầu cho thấy một số dịch chiết có tác
dụng ức chế quá trình mất N thể hiện qua lƣợng phân N đƣợc sử dụng thấp hơn mà
cây trồng vẫn duy trì, thậm chí sinh trƣởng và phát triển tốt hơn so với đối chứng
(Bùi Hữu Ngọc, 2010). Theo Trần Thị Đào (2012), thì dịch chiết từ thực vật ức chế
đƣợc hoạt động của 8 chủng vi khuẩn amon hóa, phân lập từ đất phù sa cổ sông
Hồng ở mức cao (tính theo vòng vi khuẩn so với kháng sinh) và ức chế hoạt động
của enzyme urease 60 - 80%. Và dịch chiết từ cây xà đìa pi, đìa sài, tùng dìe, tầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status