TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐÀO THANH HOÀNG PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VÀ KHẢO NGHIỆM
CÁC DÒNG VI KHUẨN AZOSPIRILLUM NỘI
SINH TRÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA LÚA CAO SẢN TRỒNG TRÊN ĐẤT
PHÙ SA NGỌT TẠI TỈNH AN GIANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
CẦN THƠ - NĂM 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
TÓM TẮT iv
ABSTRACT v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÂY LÚA 5
2.1.1 Phân loại cây lúa 5
2.1.2 Họ hòa thảo (Poaceae) 5
2.1.3 Chi lúa (Oryza) 5
2.1.4 Các loài lúa trồng 6
2.1.5 Lúa hoang 8
2.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN 8
2.2.1 Tình hình sử dụng phân bón vô cơ 8
2.2.2 Tình hình sử dụng phân bón sinh học 9
2.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.10
2.4 KHÁI QUÁT NÔNG NGHIỆP TỈNH AN GIANG 12
2.5 TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN AZOSPIRILLUM 14
2.5.1 Phân loại vi khuẩn Azospirillum 14
2.5.2 Đặc tính hình thái, sinh lý của vi khuẩn Azospirillum 14
2.5.3 Đặc tính sinh hóa của vi khuẩn Azospirillum 20
2.5.3.1 Đặc tính cố định đạm của vi khuẩn Azospirillum 20
2.5.3.2 Đặc tính sử dụng nguồn carbon của vi khuẩn Azospirillum 25
2.5.3.3 Đặc tính sử dụng acid amin của vi khuẩn Azospirillum 26
3.2.2.2 Xác định kích thước tế bào vi khuẩn Azospirillum 55
3.2.2.3 Xác định Gram của vi khuẩn Azospirillum 57
3.2.2.4 Định danh các dòng vi khuẩn Azospirillum 57
3.2.3 Tuyển chọn Azospirillum trên lúa cao sản trồng ở phòng thí nghiệm 59
3.2.3.1 Môi trường dung dịch trồng cây 59
3.2.3.2 Trồng lúa cao sản ở phòng thí nghiệm 59
3.2.3.3 Thu mẫu lúa và phân tích các chỉ tiêu nông học 60
3.2.4 Trắc nghiệm độ hữu hiệu của Azospirillum trên lúa cao sản trồng trong
nhà lưới 61
3.2.4.1 Trồng lúa cao sản trong nhà lưới 61
3.2.4.2 Thu mẫu lúa và phân tích các chỉ tiêu nông học 61
3.2.5 Trắc nghiệm độ hữu hiệu của Azospirillum trên lúa cao sản trồng ngoài
đồng ruộng 62
3.2.5.1 Trồng lúa cao sản ngoài đồng ruộng 62
3.2.5.2 Thu mẫu lúa và phân tích các chỉ tiêu nông học 62
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 64
4.1 Phân lập vi khuẩn Azospirillum từ lúa cao sản và lúa hoang 64
4.1.1 Nguồn gốc của các mẫu lúa hoang và lúa cao sản 64
4.1.2 Nguồn gốc các dòng vi khuẩn Azospirillum 65
4.1.3 Môi trường nuôi vi khuẩn Azospirillum 67
4.2 Đặc tính hình thái và định danh các dòng vi khuẩn Azospirillum 70
iii
4.2.1 Đặc tính hình thái của vi khuẩn Azospirillum 70
4.2.1.1 Hình dạng và chuyển động của vi khuẩn Azospirillum 70
4.2.1.2 Kích thước khuẩn lạc và tế bào của vi khuẩn Azospirillum 71
4.2.1.3 Xác định Gram của vi khuẩn Azospirillum 73
4.2.2 Định danh các dòng vi khuẩn Azospirillum 73
4.2.2.1 Định danh vi khuẩn Azospirillum bằng kỹ thuật PCR 73
4.2.2.2 Phân tích gel sản phẩm PCR 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
iv
TÓM TẮT
Sáu mươi mẫu lúa (48 mẫu lúa cao sản và 12 mẫu lúa hoang mọc lẫn trong
ruộng lúa cao sản) được thu thập để phân lập vi khuẩn cố định đạm
Azospirillum. Hình thái khuẩn lạc và tế bào của các dòng vi khuẩn
Azospirillum có màu trắng đục, trắng trong, vàng nhạt; hình dạng tròn, bìa
nguyên, độ nổi cao (hay lài); tròn, bìa nguyên, nhầy, độ nổi cao (hay lài); tế
bào dạng que ngắn. Vi khuẩn Azospirillum dùng chủng cho lúa cao sản OM
6976 và OM 4218 trồng tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nhằm xác định
hiệu quả của các dòng vi khuẩn đã phân lập được. Kết quả có 04 dòng vi
khuẩn Azospirillum sp. 6T1, Azospirillum sp. T7, Azospirillum sp. 7R, và
Azospirillum sp. 25HR được định danh trong tổng số 60 dòng vi khuẩn
Azospirillum đã được phân lập. Khi chủng riêng lẻ 04 dòng vi khuẩn
Azospirillum sp. cho lúa cao sản OM 6976 và OM 4218 trồng trong nhà lưới
tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, các dòng vi khuẩn này giúp lúa gia tăng
chiều cao cây (24,5-34,6%, 20,0-21,7%), trọng lượng khô của cây (36,1-
146,4%, 83,5-92,9%), số hạt trên bông (172,0-218,8%, 60,7-61,2%), so với
nghiệm thức đối chứng không chủng vi khuẩn Azospirillum sp. và không bón
đạm. Hàm lượng đạm trong hạt lúa ở những nghiệm thức có chủng vi khuẩn
Azospirillum sp. đều cao hơn 2,5-3,9% so với nghiệm thức đối chứng. Ở các
nghiệm thức có chủng vi khuẩn Azospirillum sp. trọng lượng 1.000 hạt cao
hơn (5,7-6,7%, 21,1-23,2%) so với nghiệm thức đối chứng. Ứng dụng 02 dòng
Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. 25HR khi chủng cho lúa cao sản
(OM 6976 và OM 4218) trồng trên đất phù sa ở điều kiện đồng ruộng tại
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang để xác định hiệu quả cố định đạm của hai
dòng vi khuẩn lên sự phát triển và năng suất lúa. Kết quả thí nghiệm cho thấy,
rice OM 6976 and OM 4218 grown in pots in a greenhouse in Chau Phu
District, An Giang Province, they enabled the rice to increase their height
(24.5-34.6%%, 20.0-21.7%), dry weight (36.1-146.4%, 83.5-92.9%), the
number of full grains on blossoms (172.0-218.8%, 60.7-61.2%), in
comparision to Azospirillum sp. free treatments. The nitrogen content of rice
grains in inoculated Azospirillum sp. treatments was higher 2.5-3.9% than
those of Azospirillum sp. free ones. 1000-seed weight of inoculated
Azospirillum sp. treatments was higher (5.7-6.7%, 21.1-23.2%) than those of
nitrogen and Azospirillum sp. free ones. Azospirillum sp. 6T1 and
Azospirillum sp. 25HR were applied to the high crop yield rice (OM 6976 and
OM 4218) grown in alluvial soil in Chau Phu District, An Giang Province to
determine their effectiveness on the growth and yield of rice. The results
showed that these two bacterial strains Azospirillum sp. enabled the
inoculated rice increased their height (6.6-7.9%, 17.7-20.9%), length of
blossoms (1.3-4.4%, 4.9-13.6%), the number of full grains on blossoms (15.2-
61.2%, 10.2-23.5%), 1,000 grain weight (1.5-5.6%, 8.1-8.5%), dry weight of
plant (2.8-56.9%, 28.6-57.1%) compared to those of Azospirillum sp. free
treatments. The nitrogen content of rice grains in Azospirillum sp. treatments
was higher 6.0-11.0% than those of Azospirillum sp. free ones. Yield of rice
inoculated with Azospirillum sp. treatments was higher than those nitrogen
and Azospirillum sp. free ones (55.0-55.2%, 55.5-55.7%). The experimental
results showed that the combination of two nitrogen-fixing bacterial strains
Azospirillum sp. helped replace nitrogen (50-75 KgN/ha, 50KgN/ha).
Key words: Azospirillum, isolate, nitrogen-fixing bacterium, high yield rice
OM 6976, high yield rice OM 4218, wild rice. vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
vii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới
qua các năm 11
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng lúa trong cả nước qua các năm 12
Bảng 2.3: Đặc tính một số giống lúa cao sản trồng tại tỉnh An Giang 12
Bảng 2.4: Diện tích trồng lúa tại các huyện, thị, thành phố trong
tỉnh An Giang 13
Bảng 2.5: Cơ cấu giống lúa trồng vụ Hè Thu và Đông Xuân tại An Giang 13
Bảng 2.6: Các loài Azospirillum đã được phân lập, định danh theo thời gian.21
Bảng 2.7: Sự hiện diện của Azospirillum trên cây trồng, đất và
hợp chất hữu cơ 22
Bảng 2.8: Môi trường, đặc tính hình thái và điều kiện sinh trưởng của
Azospirillum 23
Bảng 2.9: EPS (Exo-polysaccharide) được tổng hợp bởi A. lipoferum và A.
brasilense trong quá trình tăng trưởng 24
Bảng 4.4: Đặc tính khuẩn lạc của các dòng vi khuẩn Azospirillum 71
Bảng 4.4. Đặc tính khuẩn lạc của các dòng vi khuẩn Azospirillum (tt) 71
Bảng 4.5: Đặc tính tế bào của các dòng vi khuẩn Azospirillum 74
Bảng 4.5: Đặc tính tế bào của các dòng vi khuẩn Azospirillum (tt) 75
Bảng 4.6 Màu diệp lục tố lá lúa theo thời gian tăng trưởng của cây lúa 78
Bảng 4.7 Chiều cao cây lúa 5 tuần sau khi trồng trong phòng thí nghiệm 79
Bảng 4.8 Chiều dài rễ lúa lúc 5 tuần sau khi trồng ở phòng thí nghiệm 80
Bảng 4.9 Hàm lượng đạm của cây lúa trồng ở phòng thí nghiệm (%) 80
Bảng 4.10: Chiều cao cây lúa lúc 30 ngày sau khi trồng và lúc thu hoạch 81
Bảng 4.11: Trọng lượng khô thân lá và trọng lư
ợng 1.000 hạt
lúc thu hoạch lúa 82
Bảng 4.12: Số hạt trên bông và hàm lượng đạm trong hạt lúa lúc thu hoạch 83
Bảng 4.13: Độ hữu hiệu của vi khuẩn Azospirillum khi chủng cho lúa 85
Bảng 4.14: Màu lá và trọng lượng khô thân lá 85
Bảng 4.15: Chiều cao cây lúc 30 ngày sau khi trồng và lúc thu hoạch 88
Bảng 4.16: Số hạt/trên bông lúa và trọng lượng 1.000 hạt lúc thu hoạch lúa 89
Bảng 4.17: Độ hữu hiệu của vi khuẩn Azospirillum khi chủng cho lúa 89
Bảng 4.18: Màu lá và chiều cao cây lúa lúc 45 ng
ày sau khi
trồng ngoài đồng 90
Bảng 4.19: Chiều cao cây, chiều dài bông và số hạt trên bông
lúc thu hoạch lúa 92
ix
Bảng 4.20: Trọng lượng 1.000 hạt, trọng lượng khô thân lá và hàm lượng N
trung bình trong hạt lúc thu hoạch lúa 93
Bảng 4.21: Năng suất lúa lúc thu hoạch ngoài đồng ruộng 93
Bảng 4.22: Màu lá và chiều cao cây lúa
Hình 2.1: Vi khuẩn A. brasilense ATCC 29145 được nuôi cấy trên môi trường
MPSS ở 30
o
C trong 24 giờ với độ phóng đại 15.000 lần 17
Hình 2.2: Vi khuẩn A. lipoferum A28 được phân lập từ rễ lúa MTL 405, được
nuôi cấy trên môi trường NFb ở 30
o
C và ch
ụp bằng kính hiển vi điện tử quét
ở độ phóng đại 20.000 lần 17
Hình 2.3: Vi khuẩn A. amazonense ATCC 35119 được nuôi cấy trên môi
trường LGI ở 30
o
C trong 24 giờ, các hạt PHB hiện diện trong tế bào và chụp
bằng kính hiển vi điện tử quét với độ phóng đại 13.000 lần 18
Hình 2.4: Vi khuẩn A. halopraeferens được chụp bằng kính hiể
n
vi điện tử quét 18
Hình 2.5: Vi khuẩn A. irakense KBC1 phát triển ở 30
o
C trong 20 gi
ờ
trong môi trường dinh dưỡng, tế bào có dạng que cong hoặc chữ S 18
Hình 2.6: Vi khuẩn A. doebereinerae GSF71
T
phân lập từ rễ cỏ Miscanthus,
được nuôi cấy 5 ngày trên môi trường NFb bán đặc (A) và DYGS lỏng (B) với
thước đo 10µm 18
Hình 2.7: Vi khuẩn A. canadense DS2
T
2
H
4
) 30
Hình 2.13: Sự hình thành IAA từ Tryptophan thông qua vi khuẩn
Azospirillum 32
xi
Hình 2.14: Tổ chức các vùng gen trong t
ổng hợp Tryptophan của
A. brasilense 34
Hình 2.15: Chu trình hoạt động của enzyme nitrogenase do Ribosyltransferase
Dinitrogenase Reductase-ADP/Dinitrogenase Reductase kích hoạt
glycohydrolase ở vi khuẩn Azospirillum brasilense 42
Hình 2.16: Cấu trúc của enzyme cố định đạm nitrogenase 43
Hình 2.17: Enzyme nitrogenase xúc tác phản ứng chuyển hoá đạm (trên) và
cấu trúc của phức hợp FeMo trong enzyme nitrogenase (dưới) 43
Hình 2.18: Trình tự các bước thực hiện phản ứng PCR khuyếch đại ADN 41
Hình 3.1. Vật liệu thí nghiệm lúa hoang và lúa cao sản thu hoạch
tại An Giang 50
Hình 3.2: Bản đồ các địa điểm thu mẫu lúa cao sản và lúa h
oang
tại các huyện, thị, thành phố trong tỉnh An Giang 52
Hình 3.3: Quy trình phân lập vi khuẩn Azospirillum từ cây lúa 54
Hình 3.4: Các bước phân lập vi khuẩn Azospirillum từ lúa cao sản và lúa
hoang 55
Hình 4.1: Vi khuẩn Azopirillum dòng 3CR được phân lập từ rễ lúa cao sản
OM4218 và nuôi cấy trong môi trường NFb bán đặc (A) làm môi trường đổi
màu từ xanh lá sang xanh (B) và tạo vòng trắng đục (pellicle) cách mặt môi
trường khoảng 3-6mm sau 1-3 ngày nuôi cấy 68
Hình 4.12: Các thí nghiệm trồng lúa ngoài đồng ruộng được phân lô trước khi
gieo sạ lúa cao sản OM 6976 91
Hình 4.13: Đặc điểm sinh trưởng của lúa cao sản OM 6976 đối chứng (A),
có chủng vi khuẩn (B, C, D và E) lúc 45 ngày sau khi gieo s
ạ
ngoài đồng ruộng 91
Hình 4.14: Đặc điểm sinh trưởng của lúa cao sản OM6976 đối chứng (A),
có chủng vi khuẩn (B, C, D và E) lúc chu
ẩn bị thu hoạch
ngoài đồng ruộng 94
Hình 4.15: Các thí nghiệm trồng lúa ngoài đồng ruộng được phân lô trước khi
gieo sạ lúa cao sản OM 4218 95
Hình 4.16: Đặc điểm sinh trưởng của lúa cao sản OM 4218 đối chứng (A), có
chủng vi khuẩn (B, C, D và E) lúc 45 ngày sau khi gieo s
ạ
ngoài đồng ruộng 95
Hình 4.17: Đặc điểm sinh trưởng của lúa cao sản OM4218 đối chứng (A), có
chủng vi khuẩn (B, C, D và E) lúc chuẩn bị thu hoạch ngoài đồng ruộng 98 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
thống lúa ngập nước trước đây đến hàng trăm ngàn năm, tuy nhiên năng suất
của chúng thấp với sản lượng ít hơn 4 tấn/ha.
Việc giảm lượng phân đạm công nghiệp dùng cho hệ thống nông nghiệp
là mục tiêu quan trọng của những nhà khoa học nông nghiệp (Bohlool et al.,
1992). Trong việc sản xuất lúa lâu dài thì mục tiêu quan trọng là dần dần thay
2
thế đạm công nghiệp bằng cố định đạm sinh học. Tuy nhiên, việc bón phân
đạm sinh học cố định cho cây trồng (như lúa) thì gặp khó khăn. Chẳng hạn
như việc cung cấp đạm sinh học cố định thông qua các vi khuẩn cố định đạm
hay bón phân xanh có một số trở ngại như phân đạm được sản xuất theo quy
mô công nghiệp. Để đáp ứng các nhu cầu đạm của cây trồng thì phải cần đến
lượng lớn các nhóm đạm. Hệ thống phân xanh được dùng như cây điền thanh
nốt sần (Sesbania rostrata), bèo hoa dâu (Azolla) đều cho sản lượng tương
đương với những mẫu ruộng được bón phân hoá học (Diekmann et al., 1996;
Kumarasinghe et al., 1986; Ladha et al., 1992). Tuy nhiên, tỷ lệ đạm từ phân
xanh tương đương với tỷ lệ đạm từ phân hoá học (Kumarasinghe et al., 1986)
vì vậy việc mất đạm ở hệ thống dùng phân xanh có thể tương tự với việc mất
đạm ở hệ thống được bón phân hoá học (Harris et al., 1994). Ở mùa vụ cây họ
Đậu thì vấn đề này có thể tránh được vì mối quan hệ nội-cộng sinh với
Rhizobium cung cấp đạm sinh học cố định trực tiếp cho cây trồng nên không
cần nhiều đạm ở đất và NH
3
được tạo ra sẽ nhanh chóng được cây trồng đồng
hoá một cách hiệu quả.
Ở Việt Nam, tổng diện tích trồng lúa của cả nước năm 2013 là 7,9 triệu
ha với sản lượng 44,1 triệu tấn và năng suất đạt 55,8 tạ/ha. Trong đó, Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm khoảng 626,4 ngìn ha với sản lượng 3,2
triệu tấn và năng suất đạt 51,7 tạ/ha. Theo Viện Nghiên cứu lúa ĐBSCL, với
góp phần tăng sản lượng lúa cao sản xuất khẩu ra quốc tế, hạn chế ô nhiễm
môi trường trong sản xuất nông nghiệp, góp phần cải thiện độ phì nhiêu của
đất, giảm lượng nitrat gây ô nhiễm không khí và nguồn nước, giảm chi phí sản
suất nông nghiệp sau mỗi mùa vụ và góp phần tăng thu nhập cho người nông
dân tại tỉnh An Giang, nhiều vi sinh vật cố định đạm sinh học đã được ứng
dụng để giúp gia tăng năng suất lúa trong các mùa vụ. Mặt khác, An Giang là
tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL có diện tích sản xuất lúa nói chung và diện tích
sản xuất lúa cao sản nói riêng lớn nhất nhì trong vùng ĐBSCL và là tỉnh có trữ
lượng gạo xuất khẩu ra thế giới đứng đầu cả nước.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài Luận án Tiến sĩ Sinh học được
nghiên cứu với tựa đề: “Phân lập, tuyển chọn và khảo nghiệm các dòng vi
khuẩn Azospirillum nội sinh trên sinh trưởng và năng suất của lúa cao sản
trồng trên đất phù sa ngọt tại tỉnh An Giang”.
Mục tiêu tổng quát của luận án: Phân lập, tuyển chọn và khảo nghiệm
các dòng vi khuẩn Azospirillum trên sinh trưởng và năng suất lúa cao sản trồng
tại tỉnh An Giang.
Mục tiêu cụ thể của luận án:
- Phân lập các dòng vi khuẩn Azospirillum từ lúa hoang và lúa cao sản
trồng tại tỉnh An Giang.
- Xác định đặc tính hình thái và định danh các dòng vi khuẩn
Azospirillum đã phân lập bằng các kỹ thuật sinh học phân tử.
- Tuyển chọn các dòng vi khuẩn Azospirillum trên lúa cao sản trồng ở
điều kiện phòng thí nghiệm.
- Trắc nghiệm độ hữu hiệu của các dòng vi khuẩn Azospirillum trên lúa
cao sản trồng ở điều kiện nhà lưới.
- Trắc nghiệm độ hữu hiệu của các dòng vi khuẩn Azospirillum trên lúa
cao sản trồng ở điều kiện đồng ruộng tại tỉnh An Giang.
4
5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÂY LÚA
2.1.1 Phân loại cây lúa
Cây lúa (Oryza spp.) là một trong năm loại cây lương thực hàng đầu thế
giới cùng với ngô (Zea mays L.), lúa mì (Triticum sp.), sắn (Manihot esculenta
Crantz) và khoai tây (Solanum tuberosum L.). Về phân loại thực vật, cây lúa
được phân loại như sau:
Giới (kingdom/regnum): Thực vật (Plantae).
Ngành (phyla): Thực vật có hoa (Angiospermae).
Lớp (class): Thực vật một lá mầm (Monocots).
Bộ (order): Hòa thảo (Poales).
Họ (familia): Hòa thảo (Poaceae).
Chi (genus) : Lúa (Oryza).
Loài (species): Lúa Châu Á (Oryza sativa), lúa Châu Phi (Oryza
glaberima).
2.1.2 Họ hòa thảo (Poaceae)
Họ Hòa thảo hay họ lúa là một họ thực vật một lá mầm (lớp Monocots =
Liliopsida), với danh pháp khoa học là Poaceae, còn được biết dưới danh pháp
khác là Gramineae. Trong họ này có khoảng 668 chi với khoảng 10.035 loài.
Các nhà khoa học ước tính rằng các đồng cỏ chiếm khoảng 20% toàn bộ thảm
thực vật trên trái đất. Họ Hòa thảo là họ thực vật quan trọng nhất đối với toàn
bộ nền kinh tế của loài người, bao gồm cả các bãi cỏ tự nhiên và cỏ trồng cho
Cây lúa non được gọi là mạ. Sau khi ngâm ủ, người ta có thể gieo thẳng các
hạt thóc đã nảy mầm vào ruộng đã được cày, bừa kỹ hoặc qua giai đoạn gieo
mạ trên ruộng riêng để cây lúa non có sức phát triển tốt gọi là ruộng mạ, sau
một khoảng thời gian thì nhổ mạ để cấy trong ruộng lúa chính. Hình thức xôm
lổ bỏ hạt còn phổ biến ở vùng cao. Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc. Sau
khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là
cám, tấm và trấu. Gạo là nguồn lương thực chủ yếu của hơn 50% dân số thế
giới (chủ yếu ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh), điều này làm cho cây
lúa trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ nhiều nhất. Trong tiếng
Anh, từ rice (lúa, gạo) có nguồn gốc từ arisi trong tiếng Tamil.
a) Loài lúa trồng Châu Á (Oryza sativa).
Oryza sativa, thường được gọi là lúa Châu Á, là loài thực vật được
biết đến trong khoa học như là loài ngũ cốc có hệ gen nhỏ nhất gồm 430 Mb
trên 12 nhiễm sắc thể. Nó nổi tiếng là dễ dàng để biến đổi gen và là loại thực
vật mô hình cho sinh học ngũ cốc. Oryza sativa chứa hai phân loài lớn, thứ
(var.) Japonica hoặc Sinica hạt to và ngắn, phát triển ở vùng khí hậu ôn đới và
thứ (var.) indica hạt dài, phát triển ở vùng nhiệt đới Châu Á. Giống O. Sativa
var japonica thường được trồng trong các khu vực khô, vùng Đông Á ôn đới,
các vùng cao của khu vực Đông Nam Á và các sơn nguyên có độ cao ở Nam
Á, trong khi giống O. Sativa var indica chủ yếu là trồng ở vùng đồng bằng.
Lúa phát triển chủ yếu ở ruộng ngập nước, trong suốt vùng nhiệt đới Châu
Á. Gạo có nhiều màu sắc, bao gồm: trắng, nâu, đen, tím và đỏ. Trong đó giống
7
lúa cho gạo trắng được trồng chủ yếu. Một phân loài thứ ba có hạt to và hơi
tròn phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt đới, đã được xác định dựa trên hình
thái học và ban đầu được gọi là O. Sativa var javanica, nhưng ngày nay được
gọi là O. Sativa var japonica nhiệt đới. Hiện còn được trồng ở ruộng bậc
thang trên triền núi Cordillera ở miền bắc đảo Luzon, Philippines.
nguyên cao, ít bạc bụng, cơm mềm, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
8
d) Giống lúa cao sản OM 6976
- Nguồn gốc: Giống lúa cao sản OM 6976 được chọn từ tổ hợp lai
IR68144/OM997/OM2718. Đây là giống có hàm lượng vi chất dinh dưỡng sắt
trong gạo khá cao.
- Đặc tính: Thời gian sinh trưởng từ 100-105 ngày, đẻ nhánh khá, dạng
hình gọn, chiều cao cây 100-105cm, dạng hình đẹp, rất cứng cây, bông to, hơi
kháng rầy nâu và bệnh đạo ôn, chống chịu bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá khá;
năng suất trung bình vụ Đông Xuân từ 7-8 tấn/ ha và Hè Thu từ 5,5-6,5 tấn/ha;
trọng lượng 1.000 hạt từ 25-26g; hạt gạo dài trung bình, trong, ít bạc bụng,
cơm hơi mềm khi nguội; thích nghi rộng trên nhiều loại đất, từ phù sa ngọt đến
phèn nặng.
2.1.5 Lúa hoang
Cây nhất niên cao 50-170 cm. Lá có phiến dài, bìa hơi “cắt”, bẹ dài, có
mép cao trắng, tai cong, có lông. Chùm tụ tán, gié hoa mau trở nên màu vàng,
dĩnh nhỏ, trấu có hoặc không có lông gai, có hoa, tiểu nhụy,… Thời gian sinh
trưởng của cây lúa tính từ lúc nảy mầm cho đến lúc chín dao động trong
khoảng từ 90-180 ngày tùy theo giống, loại đất trồng, khí hậu,… Ở Đồng bằng
sông Cửu Long, nhiều giống lúa địa phương trong các mùa vụ có thời gian
sinh trưởng khoảng 200-240 ngày, đặc biệt có những giống lúa nổi thời gian
sinh trưởng kéo dài đến 270 ngày (Phạm Hoàng Hộ, 2000).
2.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN
2.2.1 Tình hình sử dụng phân bón vô cơ
Tại Việt Nam, mỗi năm nông dân đã sử dụng khoảng 05 triệu tấn phân
bón vô cơ quy chuẩn, không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các
cơ sở tư nhân và công ty sản xuất cung ứng. Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu
thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm, phân lân tăng 13,9%/năm, riêng phân
Trong khi đó, nguồn phế phụ phẩm trong nông nghiệp thải ra trong quá trình
sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản của Việt Nam ước tính trên 50
triệu tấn/năm. Nguồn phế thải trong chăn nuôi gia súc gia cầm lên đến hàng
ngàn tấn. Lượng phế thải này phần lớn là những hợp chất hữu cơ giàu carbon
và các nguyên tố khoáng đa vi lượng. Đây là nguồn nguyên liệu có giá trị lý
tưởng cho sản xuất các dạng chế phẩm sinh học cũng như phân hữu cơ sinh
học chất lượng cao phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL (Võ
Thị Gương et al., 2010).
Lúa là cây lương thực chính và quan trọng của vùng ĐBSCL với diện
tích gieo trồng khoảng 3,86 triệu ha/năm cho sản lượng lúa hàng năm lên đến
hơn 20,5 triệu tấn và khoảng trên 20 triệu tấn rơm rạ được thải ra. Hầu hết rơm
rạ này sau khi thu hoạch được đốt bỏ hoặc chuyển đi nơi khác mà không được
tái sử dụng lại, không trả lại dinh dưỡng cho đất mặc dù cũng có một số ít
nông dân có kinh nghiệm trong việc sử dụng rơm rạ này để vùi vào đất nông
nghiệp (như ở rừng U Minh) hoặc ủ phân trồng hoa màu (như ở Bến Tre). Mặt
khác, rơm rạ sau khi thu hoạch không thể vùi trực tiếp vào trong đất nông
nghiệp bởi vì tỷ số C/N của chúng rất cao, chúng được biết đến là làm giảm
lượng dinh dưỡng hữu dụng quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của
cây trồng thông qua sự bất động ở dạng hữu cơ và cũng sản sinh ra các độc tố
thực vật trong suốt thời gian phân huỷ. Việc lấy đi rơm rạ khỏi đồng ruộng đã
làm giảm lượng carbon hữu cơ một cách đáng kể, nếu hàm lượng carbon hữu
cơ ban đầu là 3,56%, sau 10 năm canh tác 02 vụ lúa/năm, hàm lượng carbon
hữu cơ chỉ còn 3,03%, sau 50 năm canh tác chỉ còn 1,59% và sau 100 năm
canh tác còn lại 0,71%, vì vậy đất đai ngày càng suy giảm độ phì nhiêu dẫn
đến giảm tính ổn định và bền vững trong sản xuất nông nghiệp mặc dù đã có
nhiều nghiên cứu để cải thiện tính bền vững trong sản xuất lúa gạo. Ngoài ra,
10
do điều kiện thâm canh tăng vụ trên đất lúa hằng năm, nông dân thường quá
trước Miến Ðiện. Năng suất lúa bình quân trên thế giới cũng tăng khoảng 1,3
tấn/ha trong vòng 30 năm từ 1955 đến 1985, đặt biệt là từ sau cuộc cách mạng
xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời của các giống lúa
thấp cây, ngắn ngày, tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8. Các giống lúa này có yêu
cầu chăm sóc không cao, tạo điều kiện cho các nước phát triển tăng nhanh sản
lượng lúa bằng con đường tăng năng suất nhanh để có điều kiện phát triển. Do
11
đó, đến những năm 1990 năng suất lúa trên thế giới đạt ở mức cao tại các nước
Triều Tiên, Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) (Bảng 2.1).
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm.
Nguồn: FAO, 2013; http://www.fao.org
Tại Việt Nam, trong hơn hai mươi năm qua, diện tích và sản lượng lúa
trong cả nước tăng đều theo từng năm kể từ năm 1990 (Bảng 2.2). Đặc tính
một số giống lúa cao sản được các ngành chức năng khuyến cáo trồng tại tỉnh
An Giang (Bảng 2.3) (http://www.gso.gov.vn).
Stt Năm Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
1961
1965
1970
1975
1980
1985
1990
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
115,50
124,98
133,10
141,97
3,53
3,66
3,78
3,82
3,82
3,89
3,89
3,94
3,85
3,98
4,06
4,12
4,10
4,18
4,25
4,29
4,32
4,38
3,04
3,19
215,65
254,08
316,38
357,00
396,87
467,95
518,21
547,20