BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------------------------------------
TRẦN MINH QUYÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ
MÔI TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ NHÂN IN VITRO 02
GIỐNG MÍA BRAZIL 3280 VÀ QUẾ ĐƯỜNG 93 NHẬP NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------------------------------------
TRẦN MINH QUYÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ
MÔI TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ NHÂN IN VITRO 02
GIỐNG MÍA BRAZIL 3280 VÀ QUẾ ĐƯỜNG 93 NHẬP NỘI
mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Các thầy giáo, cô giáo thuộc Khoa Công Nghệ Sinh Học, Học Viện Nông
Nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giảng dậy và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành
khóa học.
Các cán bộ, kĩ thuật viên Phòng Thí Nghiệm Trọng Điểm CNTBTV, Viện Di
Truyền Nông Nghiệp đã tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm
luận văn.
Những lời động viên, khích lệ từ gia đình, sự chia sẻ, học hỏi, giúp đỡ từ
bạn bè cũng góp phần rất nhiều cho luận văn của tôi được hoàn chỉnh.
Tôi xin chân thành cám ơn.
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2014
Học viên
Trần Minh Quyên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC
Mục đích và yêu cầu của đề tài
2
2.1
Mục đích của đề tài
2
2.2
Yêu cầu của đề tài
2
3.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2
3.1
Ý nghĩa khoa học
2
3.2.
2.2
9
Tình hình nghiên cứu và sản xuất mía trên thế giới
2.2.1 Tình hình sản xuất mía trên thế giới
9
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nhân giống
2.3
10
Tình hình nghiên cứu và sản xuất mía ở Việt Nam
14
2.3.1 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam
14
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
15
2.4
Công nghệ nhân giống mía bằng cấy mô và vấn đề nguyên liệu của
18
3.2
Nội dung nghiên cứu
18
3.3
Phương pháp nghiên cứu
19
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
19
3.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
20
3.3.3 Các hóa chất và thiết bị sử dụng trong nghiên cứu
25
3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
26
33
Nghiên cứu ảnh hưởng của dung tích môi trường lên quá trình nhân
chồi của 02 giống Br 3280, QĐ 93
4.5
36
Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau lên quá
trình kéo dài chồi của 02 giống Br 3280, QĐ 93
4.6
4.7
41
Nghiên cứu ảnh hưởng của NAA ở các nồng độ khác nhau lên quá
trình ra rễ của 02 giống Br 3280, QĐ 93
44
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất nền đến tỷ lệ sống của cây trên vườn ươm
47
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
51
CV % :
Hệ số biến động
Cs :
Cộng sự
NAA :
1-Naphthaleneacetic acid
LSD0,5
:
Gía trị sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa tại mức 0.5.
MT :
Môi trường
QĐ 93:
Quế Đường 93
TB :
Trung Bình
4.7 Ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau lên quá trình kéo dài
chồi của giống Br 3280 ................................................................................. 41
4.8 Ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau lên quá trình kéo dài
chồi của giống QĐ 93 ................................................................................... 42
4.9 Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến quá trình hình thành rễ của giống Br
3280 sau 2 tuần nuôi cấy ................................................................................. 45
4.10 Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến quá trình hình thành rễ của giống
QĐ 93 sau 2 tuần nuôi cấy ............................................................................ 46
4.11 Ảnh hưởng của chất nền đến tỷ lệ sống của giống Br 3280 trên vườn ươm....... 48
4.12 Ảnh hưởng của chất nền đến tỷ lệ sống của giống QĐ 93 trên vườn ươm ......... 49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
Tên biểu đồ
Trang
4.1. Ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau kết hợp với 0,2 mg/l
Kinetin lên quá trình nhân nhanh chồi của 02 giống Br 3280, QĐ 93 .............. 28
4.2. Ảnh hưởng của nước dừa đến quá trình nhân nhanh chồi ở 2 giống Br
3280, QĐ 93 ................................................................................................... 31
4.3. Ảnh hưởng của trạng thái môi trường lên quá trình nhân nhanh chồi của
02 giống Br 3280, QĐ 93 ................................................................................ 34
4.4. Ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau lên quá trình kéo dài chồi
4.10 Giống mía QĐ 93 trên giá thể sau 30 ngày ra cây.......................................... 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
Chương 1. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nhân giống bằng nuôi cấy mô đã trở thành một trong những phương pháp
quan trọng nhất để nhân nhanh, đặc biệt là với cây trồng khó nhân bằng phương
pháp truyền thống. Tốc độ phát triển của công nghệ nuôi cấy mô đã được thúc đẩy
không ngừng nhờ thương mại hóa. Hiện nay nuôi cấy mô được ứng dụng rộng rãi
nhất trên các đối tượng hoa cây cảnh và các cây lâm nghiệp, dược liệu khác nhau.
Hệ thống nuôi cấy mô cũng được xây dựng thành công ở các loại cây thực phẩm,
cây ăn quả, cây công nghiệp đặc biệt là cây mía (Saccharum officinarum L.)(Đỗ
Năng Vịnh, 2006).
Cây mía (Saccharum officinarum L.) là một trong những cây công nghiệp có
giá trị kinh tế cao, là nguyên liệu chính để sản xuất đường trên thế giới và Việt
Nam. Theo các nhà chuyên môn thì triển vọng của ngành trồng mía ở nước ta rất
lớn, do có những điều kiện thuận lợi để nâng cao năng suất và sản lượng mía, đáp
ứng đủ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Tuy nhiên, các nhà máy đường ở Việt Nam không thể tự ý nâng quy mô và
công suất nếu vùng trồng tại đó không có tiềm năng mở rộng tương ứng. Do đó,
việc cung cấp đủ nguyên liệu mía cho nhà máy và việc phát triển vùng trồng mía
phù hợp là việc rất quan trọng.
(Báo cáo tổng kết hiệp hội mía đường Việt Nam, 2013).
Nguyên nhân chính của việc không thể mở rộng các vùng nguyên liệu là do
phương thức thâm canh cây mía sử dụng các hom cây giống sau thu hoạch vụ trước
trồng sang vụ sau kéo dài dẫn đến hiện tượng nhiễm bệnh do nấm, vi khuẩn, virus
2.1 Mục đích của đề tài
- Tìm ra được thành phần môi trường và điều kiện nuôi cấy in vitro thích hợp
nhất cho nhân nhanh 02 giống mía Br 3280 và QĐ 93 mới nhập nội.
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được hàm lượng chất điều tiết sinh trưởng thích hợp cho quá trình
nhân nhanh 02 giống mía Br 3280 và QĐ 93.
- Xác định được chất điều tiết sinh trưởng bổ sung vào môi trường tạo rễ
thích hợp cho chồi invitro.
- Xác định được giá thể thích hợp cho cây con ngoài vườn ươm.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu quy trình nhân nhanh thích hợp nhất với 02 giống mía Br 3280
và QĐ 93 mới nhập nội từ đó tìm ra công nghệ nhân nhanh các giống mía, duy trì
và nhân nhanh các nguồn giống tốt phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra những bằng chứng khoa học làm cơ sở đề xuất quy trình nhân
giống invitro cho cây mía mới nhập nội.
- Đảm bảo an toàn sinh học: Bắt đầu gây dựng một vùng nguyên liệu mía
mới bằng các giống cấy mô sạch bệnh. Nuôi cấy mô là biện pháp an toàn trong cung
cấp giống sạch bệnh, giảm chi phí thuốc hóa học, giúp cho việc nhập nội giống an
toàn sinh học.
- Nuôi cấy mô làm trẻ hóa, sạch bệnh, tăng năng suất mía một cách đáng kể.
- Sau khi làm chủ được công nghệ này, chúng ta có thể chủ động nhân nhanh
một số lượng lớn giống mới thay thế giống cũ, đáp ứng nhu cầu về mía giống của
Chi: Saccharum
Qua nhiều năm tranh luận, ngày nay New Guinea được thừa nhận là nơi
nguyên sản của cây mía. Theo tài liệu nghiên cứu về cấu tạo địa chất, nhiều tác giả
cho rằng cây mía xuất hiện trên trái đất từ khi lục địa Châu Á và Châu Úc còn dính
liền, cách đây hàng vạn năm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước có lịch sử trồng mía lâu đời nhất trên thế
giới. Ở Trung Quốc, căn cứ những tài liệu ghi chép cổ xưa cùng sự phân bố rộng rãi
của mía dại ở nhiều nơi và mức độ phong phú của những giống mía trồng trọt cho
thấy cây mía được trồng rất lâu đời, trước thế kỉ IV trước Công Nguyên (Nguyễn
Viết Hưng, 2012).
Trong thế kỷ XVI, đường mía đã là một nguồn hàng trao đổi quan trọng giữa
các nước Nam Mỹ và Thị trường Châu Âu. Cuối thế kỷ XIX, A.S. Marggraf - giám
đốc viện Hàn Lâm khoa học Berlin, khám phá ra nguồn đường mới: Cây củ cải
đường. Và từ đây đường mía và đường củ cải cùng song song phát triển (Nguyễn
Viết Hưng, 2012).
2.1.2 Đặc điểm thực vật học cơ bản của cây mía
Thân mía: Ở cây mía, thân là đối tượng thu hoạch, là nơi dự trữ đường được
dùng làm nguyên liệu chính để chế biến đường ăn.
Thân cây mía cao trung bình 2 m - 3 m, một số giống có thể cao 4 m – 5 m.
Thân mía được hình thành bởi nhiều dóng (đốt) hợp lại. Chiều dài mỗi dóng từ 15 cm 20 cm, trên mỗi dóng gồm có mắt mía (mắt mầm), đai sinh trưởng, đai rễ, sẹo lá…
Thân mía có màu vàng, đỏ hồng hoặc đỏ tím. Tuỳ theo từng giống mà dóng
mía có nhiều hình dạng khác nhau như: Hình trụ, hình trống, hình ống chỉ… Thân
đơn độc, không có cành nhánh, trừ một số trường hợp bị sâu bệnh.
Rễ mía: Cây mía có 2 loại rễ là rễ sơ sinh và rễ thứ sinh.
+ Rễ sơ sinh mọc ra từ đai rễ của hom trồng, có nhiệm vụ hút nước trong đất
váy nhỏ, hình thoi và nhẵn, dài khoảng 1 mm - 1,2 mm. Trong hạt có phôi và có thể
nảy mầm thành cây mía con, dùng trong công tác lai tạo tuyển chọn giống, không
dùng trong sản xuất. Cây mía từ khi nảy mầm đến thu hoạch kéo dài trong khoảng 8
- 10 tháng tuỳ điều kiện thời tiết và giống mía.
2.1.3 Yêu cầu của cây mía đối với điều kiện ngoại cảnh
2.1.3.1 Yêu cầu đối với ánh sáng
Mía là cây nhạy cảm với ánh sáng và đòi hỏi cao về ánh sáng. Thiếu ánh sáng,
mía phát triển không tốt, hàm lượng đường thấp. Mía cần thời gian tối thiểu là 1200
giờ tốt nhất là trên 2000 giờ (Nguyễn Viết Hưng, 2012). Quang hợp của cây mía tỉ
lệ thuận với cường độ và độ dài chiếu sáng. Thiếu ánh sáng cây hút phân kém do đó
phân đạm, lân, kali chỉ hiệu quả khi ánh sáng đầy đủ. Vì vậy ở vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới mía vươn cao mạnh nhất khi bắt đầu vào mùa hè có độ dài ngày tăng lên.
Chính vì vậy, nó là nhân tố quan trọng quyết định năng suất và sản lượng mía
(Nguyễn Viết Hưng, 2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
2.1.3.2 Yêu cầu với nhiệt độ
Mía là loại cây nhiệt đới nên đòi hỏi điều kiện độ ẩm rất cao. Nhiệt độ bình
quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây mía là 250C - 260C. Giống mía nhiệt đới
sinh trưởng chậm khi nhiệt độ dưới 210C và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ 130C và
dưới 50C thì cây sẽ chết. Những giống mía á nhiệt đới tuy chịu rét tốt hơn nhưng
nhiệt độ thích hợp cũng giống như mía nhiệt đới (Nguyễn Viết Hưng, 2012).
Thời kì nảy mầm mía cần nhiệt độ trên 150C tốt nhất là từ 260C - 330C. Mía nảy
mầm kém ở nhiệt độ dưới 150C và trên 400C. Từ 280C - 350C là nhiệt độ thích hợp
cho mía vươn cao. Sự dao động biên độ nhiệt giữa ngày và đêm liên quan tới tỉ lệ
đường trong mía. Giới hạn nhiệt độ thích hợp cho thời kì mía chín từ 150C - 200C.
trồng mía ở nước ta đều thiếu lân, nhất là vùng Đông Nam Bộ và trung du phía Bắc,
do đó chú ý bón lân đầy đủ. Để có một tấn mía cây cần bón thêm 1,3 kg P2O5.
Kali (K): Là nguyên tố dinh dưỡng cây cần nhiều nhất. Để tạo ra một tấn mía
cây cần 2,75 K2O. Kali có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp tạo ra đường.
Đủ kali, cây mía cứng cáp, không đổ ngã, ít sâu bệnh, chín sớm và tăng tỉ lệ đường.
Canxi (Ca): Canxi làm giảm độ chua trong đất, cải thiện tính chất vật lý đất,
giúp sự phân giải chất hữu cơ và hoạt động của các vi sinh vật đất được tốt hơn, tạo
điều kiện cho cây mía hấp thu chất dinh dưỡng hiệu quả hơn. Các vùng đất trồng
mía của nước ta thường chua nên cần phải bón thêm vôi.
Các chất vi lượng: Bao gồm các nguyên tố như magiê (Mg), sắt (Fe), mangan
(Mn), kẽm (Zn), đồng (Cu)… tuy cần ở số lượng ít nhưng rất quan trọng đối với
quá trình sinh trưởng và phát triển cũng như chất lượng của cây mía. Đất ở nước ta
do trồng lâu đời lại không chú ý bón bổ sung chất vi lượng nên thường bị thiếu.
Nhiều thí nghiệm ở một số vùng cho thấy, nếu bón bổ sung các chất vi lượng đều có
tác dung tăng năng suất và chất lượng mía rõ rệt.
2.1.4 Vấn đề sâu bệnh ở mía
Theo thông báo của FAO gần đây (1993) hàng năm thiệt hại do sâu bệnh gây
ra với cây mía khá lớn, có khi tới 45% sản lượng. Theo kết quả điều tra của ngành
mía đường cho thấy chỉ riêng sâu bệnh hại mía đã làm giảm sản lượng đến 20%.
Sâu bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đối với ngành mía đường như: bệnh
than, bệnhfiji gây hại ở nhiều vùng trồng mía trên thế giới như Ấn Độ, Brazyl,
Indonexia, Đài Loan, Trung Quốc, Philippine... (Heinz, 1987). Các nhà khoa học
đã tổng kết có khoảng 118 bệnh ở mía, nhiều nhất là bệnh do nấm 64 bệnh, do
virus 10 bệnh, vi khuẩn 6 bệnh, còn lại 38 bệnh do một loạt các tác nhân di
truyền, yếu tố môi trường gây ra.
Dựa vào tác nhân gây bệnh có thể chia làm 5 loại chính như sau:
• Bệnh do nấm.
• Bệnh do vi khuẩn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
2010/2011
2011/2012
2012/2013
Tồn
trước
niên vụ
43.650
31.561
29.849
30.558
31.661
Sản
xuất
Nhập
khẩu
143.888
153.517
161.612
170.967
174.453
44.859
51.194
51.921
48.870
49.105
TT
Quốc gia
Sản lượng mía (tấn)
1
Brazil
721.077.287
2
Ấn Độ
347.870.000
3
Trung Quốc
123.460.500
4
Thái Lan
96.500.000
10
Hoa Kỳ
27.900.000
11
Australia
25.957.093
12
Argentina
25.000.000
13
Guatemala
21.800.000
14
Việt Nam
19.040.798
20
Venezuela
9.350.000
Nguồn: Tổ chức Nông - Lương Liên Hiệp Quốc (FAO, 2012)
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nhân giống
Mía bị nhiễm nhiều bệnh hại khác nhau, gây ra bởi khoảng 100 loài nấm
bệnh, 10 loài vi khuẩn, 10 loài virus và khoảng 50 loài tuyến trùng khác nhau trên
toàn thế giới. Các loại bệnh do virus và tác nhân tương tự virus gây ra rất nguy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
hiểm, chúng lây lan nhanh, bệnh truyền theo cây giống (nhân vô tính từ thế hệ này
sang thế hệ khác). Bệnh virus và tương tự virus là nguyên nhân chủ yếu gây thoái
hóa giống và là bệnh dịch khó kiểm soát nhất ở mía (Rao, G. P. và Ford, R. E. 2000;
Xie và cs, 2009).
Nuôi cấy mô mía đã được thực hiện từ năm 1961 ở Hawaii (Nickell,1964).
Kỹ thuật nuôi cấy chồi đỉnh sinh trưởng để làm sạch bệnh khảm do virus ở cây mía
đã được nghiên cứu từ năm 1970 bởi Coleman và Hendre và cs (Coleman, 1970;
Hendre và cs, 1975; Kaiser và Makhdoom, 2004). Mía đã được nghiên cứu nuôi cấy
mô in vitro để tạo đột biến và phục vụ chọn giống (Nickell, 1964; Heinz và Mee,
1969). Phương pháp nhân giống thông qua mô sẹo phôi hóa đã được đưa vào các
chương trình nhân nhanh giống mía thương mại (Alam và cs, 2003).
Nhân nhanh giống mía có thể thực hiện bằng 2 phương thức cấy mô: Nuôi
cấy đỉnh sinh trưởng và tái sinh phôi vô tính từ tế bào mô sẹo phiến lá non. Cây con
tạo được đồng nhất về di truyền và rất ít khi bị biến dị trừ trường hợp nuôi cấy quá
-
Nhân giống thương mại nhằm thiết lập các điền trang trồng mía.
2.2.2.2 Vấn đề giá cây con nhân nhanh in vitro
Đối với việc vi nhân giống phục vụ cho trồng mía quy mô lớn, vấn đề giá
cây con rất quan trọng. Ví dụ ở Úc, cây cấy mô thường có giá thành cao hơn so với
cây nhân bằng các phương pháp truyền thống. Nhưng trong trường hợp nhân nhanh
một giống mới cho sản xuất công nghiệp, giá cây con cấy mô lại có thể thấp hơn.
Thông thường, số lượng nhỏ cây con giống mới được bán cho người trồng để nhân
giống cho đến khi có một lượng giống đủ cho sản xuất. Quá trình này ít nhất phải
kéo dài trong 2 năm, trong khi đó chỉ cần 6 tháng nhân nhanh bằng cấy mô có thể
tạo ra số lượng cây tương tự (Taylor, 1997). Giống mía mới Quế đường 11 với hàm
lượng đường cao đã được nhân nhanh bằng cấy mô, chỉ trong 4 năm giống này đã
phủ kín 32.000 ha mía ở Quảng Tây, Trung Quốc. Trong khi bằng phương pháp
nhân giống truyền thống phải cần 10 năm để có diện tích tương tự (Sasson, 1993).
2.2.2.3 Nhân giống truyền thống thường kèm theo vấn đề sâu bệnh
Cây trồng được nhân giống theo phương pháp truyền thống thường mắc
nhiều về vấn đề sâu bệnh và khó có thể kiểm soát chúng như ở Louisiana Mỹ Mỹ
có 2 loại bệnh là SCMV (Sugarcane cumcumber mosaic virus) và bệnh smut, chúng
rất khó kiểm soát. Do vậy, họ luôn luôn cần đến vi nhân giống để cung cấp nguồn
giống sạch bệnh (Taylor, 1997). Các nhà khoa học Úc đã nghiên cứu để tự động hoá
quá trình vi nhân giống mía. Nhiều thí nghiệm tối ưu hoá điều kiện nuôi cấy như
kích thước chồi, phương pháp cắt mẫu, kích thước cụm chồi, kích thước và kiểu
dáng bình nuôi, lượng agar vv... đã được triển khai để nhân nhanh giống mía. Hệ số
nhân chồi đạt lớn nhất khi 1 cụm chồi có từ 18 - 20 chồi con. Cụm chồi sau đó được
tách ra thành 4 cụm nhỏ hơn với khoảng 5 chồi /cụm chồi và nuôi cấy tiếp 3 tuần
trên môi trường nhân nhanh (Taylor and Dukic, 1993).
2.2.2.4 Bảo quản quỹ gen giống mía in vitro
thường có thể được loại bỏ hay sử dụng ở mức thấp nhất.
- Bổ sung các chất ức chế sinh trưởng vào môi trường nuôi cấy như: Abscisic
acid (ABA) hoặc hỗn hợp các chất điều hoà áp suất thẩm thấu của môi trường
nhưng ít có vai trò trong trao đổi chất như Manitol, Sorbitol (Withers, 1980;
Henshaw et al, 1980).
- Những thí nghiệm ở Ấn Độ cho thấy cây mía con có rễ có thể bảo quản ở
nhiệt độ 25oC trong một năm và cấy chuyển sau 6 tháng (Sinivasan, 1985). Người ta
đã bảo quản 200 dòng, giống mía thời gian 12 tháng ở 18oC và không thấy có sự
thay đổi kiểu hình cây con sau bảo quản (Taylor và Dukic, 1993).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Vấn đề an toàn trong bảo quản in vitro: bảo quản in vitro trong điều kiện sinh
trưởng chậm không tránh khỏi những nguy hại cho cây, trong quá trình bảo quản
các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn vào mẫu cấy
ở nhiệt độ 18oC.
2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất mía ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam
Theo báo cáo của Cục trồng trọt, Bộ NN và PTNT diện tích trồng mía ở
nước ta tăng khá mạnh. Đến cuối vụ 2011/2012 diện tích vùng trồng cả nước đạt
khoảng 283,2 nghìn ha; tăng 4,3% so với vụ trước đó. Năng suất mía bình quân cả
nước đạt 62,4 tấn/ha; sản lượng mía cả nước đạt 17,5 triệu tấn, tăng so với vụ trước
gần 2 tấn/ha. Sản lượng mía ép công nghiệp đạt 14,5 triệu tấn, sản xuất được
1306240 tấn đường. So với vụ trước, lượng mía ép công nghiệp tăng gần 2 triệu tấn,
sản lượng đường tăng 155.780 tấn đường. Đây là vụ mía thắng lợi nhất về năng
suất, sản lượng mía từ trong vòng 5 năm gần đây.
Mía là loại cây công nghiệp phù hợp với thời tiết và điều kiện đất đai trải
61,3
10,8 2.962.506 17,5%
Duyên Hải Miền
51.961 19,2%
52,0
10,0 2.601.503 15,4%
Trung
Tây Nguyên
45.274 16,7%
55,8
10,9 2.630.404 15,6%
3. Miền Nam
93.049 34,3%
79,1
9,3 7.178.990 42,5%
Đông Nam Bộ
34.395 12,7%
66,5
9,3 2.329.435 13,8%
ĐB SCL
58.654 21,6%
87,4
9,4 4.849.555 28,7%
(Nguồn:Bộ NN,PTNT niên vụ 2011/2012.)
Stt
(Ghi chú:chữ đường là khái niệm chỉ lượng đường thương phẩm có thể được chiết
suất từ cây mía).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
trọng Công nghệ nuôi cấy mô tế bào là thích hợp nhất đối với cung cấp vật liệu
giống mới sạch bệnh, khắc phục thiệt hại do bệnh. Bệnh Chồi cỏ do Phytoplasma
bắt đầu thấy lần đầu ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An từ năm 2004 – 2005 vẫn chỉ
có lác đác, năm 2006 đã có 500 ha, năm 2007 trên 2.000 ha, năm 2008 diện tích
mía bị nhiễm bệnh đã lên tới 4.874 ha. Trong đó có 1.968 ha nhiễm bệnh ở mức độ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15