QUỐC TỊCH CỦA TÀU THUYỀN VÀ THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN BIỂN - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
===============

NGUYỄN THỊ HẠNH

QUỐC TỊCH CỦA TÀU THUYỀN VÀ THẨM QUYỀN
TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN BIỂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

HÀ NỘI – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HẠNH

QUỐC TỊCH CỦA TÀU THUYỀN VÀ
THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA
TRÊN BIỂN
Chuyên ngành: Công pháp Quốc tế

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

sự ủng hộ của gia đình trong suốt thời gian qua để việc thực hiện đạt được kết quả
tốt nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2013
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hạnh


MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................5
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA
QUỐC GIA TRÊN BIỂN.............................................................................................1
Phan Tấn Thiện, Công ước quốc tế về Luật biển và quyền tài phán của quốc gia
trên vùng đặc quyền kinh tế, đăng ngày 6/8/2012, http://www.lamhong.org...........24
2.3Thẩm quyền tài phán trên biển của quốc gia khác.................................................................28
2.3.1Ngăn ngừa và trừng trị tội cướp biển..............................................................................28
2.3.2Ngăn ngừa và trừng trị tội buôn bán và vận chuyển nô lệ...............................................29
2.3.3Đấu tranh chống các hành vi phát sóng bất hợp pháp từ biển cả....................................30
2.3.4Trấn áp việc buôn bán trái phép các chất ma túy và các chất kích thích..........................30
3.1Khái quát về Biển Đông...........................................................................................................31
3.2Quá trình nội luật hóa các quy định của UNCLOS...................................................................31
3.3Thực trạng thực thi thẩm quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông................................33

KẾT LUẬN.................................................................................................................37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................38


PHẦN MỞ ĐẦU
Biển và đại dương chiếm 71% diện tích trái đất, chứa đựng nguồn tài nguyên

Với mong muốn sẽ đi sâu nghiên cứu, phân tích thẩm quyền tài phán của các
quốc gia ven biển, quốc gia mà tàu mang cờ và các quốc gia khác trên biển để tạo
tiền đề pháp lý trong quan hệ quốc tế, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Quốc tịch của


tàu thuyền và thẩm quyền tài phán của quốc gia trên biển” làm đề tài nghiên
cứu khóa luận của mình.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cốt yếu nhất của
pháp luật quốc tế liên quan đến thẩm quyền tài phán của các quốc gia trên biển và
đối chiếu với thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam. Qua đó tìm hiểu rõ các vấn đề
nổi cộm trong việc bảo vệ chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia, trong đó
có vấn đề Biển Đông, góp phần thiết thực vào quá trình giải quyết các tranh chấp
phát sinh trên biển giữa Việt Nam và các nước có quyền lợi liên quan.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận có sử dụng các phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở của Chủ
nghĩa Mác – Lê nin như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng các
phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, thống kê.
Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu thẩm quyền tài phán của các quốc gia trên biển đối với
tàu thuyền.
Những đóng góp mới về tính khoa học của khóa luận
Khóa luận khái quát được các quy định của pháp luật quốc tế về quyền tài phán
của quốc gia trên biển, phân tích rõ khái niệm “thẩm quyền tài phán” và các khái
niệm liên quan như tàu thuyền, quốc tịch của tàu thuyền. Qua đó phân tích được
tình hình thực tiễn thực hiện quyền tài phán trên biển của một số quốc gia trên thế
giới và của Việt Nam.
Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được
kết cấu thành ba chương.

Luật Biển năm 1958 tại Gionevo đã cho ra đời bốn công ước: Công ước về lãnh hải
và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964, 48 quốc gia là thành viên);
Công ước về biển cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962 59 quốc gia là thành viên); công
ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả (có hiệu lực từ ngày
20/3/1966, 36 quốc gia là thành viên); công ước về thềm lục địa (có hiệu lực từ ngày
10/6/1964, 54 quốc gia là thành viên). Các công ước này đã đưa ra nhiều khái niệm
mới và pháp điển hóa nhiều tập quán quốc tế, là cơ sở pháp lý cho các quốc gia thực
hiện quyền tài phán của mình trên các vùng biển.
Một công ước có tầm quan trọng đặc biệt trong Luật biển quốc tế hiện đại là Công
ước của Liên hợp quốc về Luật biển được kí kết ngày 10/12/1982 – UNCLOS.
UNCLOS có hiệu lực từ năm 1994 và đến nay, 154 quốc gia và Cộng đồng châu Âu
1
2

TS. Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về Luật biển (1997), NXB.CAND, tr.13
TS. Lê Mai Anh, Luật biển quốc tế hiện đại (2005), NXB Lao động xã hội, tr.49


2

đã tham gia công ước này. UNCLOS có 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục với
hàng nghìn quy định, hiện nay vẫn đang được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. UNCLOS
được ví như bản hiến pháp đại dương, tạo dựng được một khung pháp lý hiện đại về
biển, và là một trong những thành tựu quan trọng nhất lĩnh vực luật quốc tế của thế kỉ
XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, UNCLOS đưa ra các quy định tổng thể cá tính chất
bao trùm trong hầu hết các lĩnh vực biển: cách xác định các vùng biển, chế độ pháp lý
của các vùng biển; các quy định về hàng hải và hàng không; sử dụng, khai thác và
quản lý các tài nguyên biển, sinh vật và không sinh vật; bảo vệ môi trường biển;
nghiên cứu khoa học biển; an ninh trật tự trên biển, đấu tranh chống các tội phạm trên
biển; vấn đề phân định biển và giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến biển.

tàu thuyền không có lượng chiếm nước, tàu đệm khí có cánh – WIG crafl và thủy phi
cơ”.
Nhìn chung, tàu thuyền được hiểu theo 2 nghĩa khác nhau với hai thuật ngữ
“vessel” và “ship”. Tàu thuyền (vessel) là cấu trúc nổi di động được thiết kế để hoạt
động trên biển và các vùng nước liên quan, với chức năng chuyên chở người và hàng
hóa3. Tàu thuyền (ship) là loại cấu trúc nổi có kích cỡ lớn và có khả năng vượt qua
những vùng biển rộng4. Có thể thấy, “vessel” mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm cả
“ship”, dù vậy, “ship” vẫn là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi là tên gọi chung cho tàu
biển5.
Mặc dù có nhiều cách hiểu và tiếp cận song nhìn chung thuật ngữ “tàu thuyền”
được giải thích gắn liền với các phương tiện tham gia hoạt động trên biển. Khái niệm
chung về “tàu thuyền” có thể được hiểu như sau: Tàu là bất cứ phương tiện hay công
trình nổi nào tự hành hay có thể di chuyển một cách tự lực được hoặc với sự giúp đỡ
của tàu khác, có khả năng hàng hải và tham gia vào các hoạt động trong môi
trường biển.
1.2.2 Quốc tịch của tàu thuyền
Theo quy định tại Điều 90 UNCLOS, “Mỗi quốc gia quy định các điều kiện cho
phép tàu thuyền mang quốc tịch của nước mình, các điều kiện đăng ký các tàu thuyền
trên lãnh thổ của mình và các điều kiện cần phải có để cho tàu thuyền được quyền
treo cờ của nước mình”. Như vậy, tất cả các quốc gia có biển hay không có biển, đều
có quyền cho tàu thuyền treo cờ nước mình đi trên biển. Lá cờ là dấu hiệu để xác
định quốc tịch của tàu thuyền “…các tàu thuyền mang quốc tịch của quốc gia mà
chúng được phép treo cờ” (Điều 91 UNCLOS).
Về phương diện pháp luật quốc tế, quốc tịch tàu thuyền là sự ràng buộc về pháp lý
của tàu thuyền vào quốc gia mà tàu mang quốc tịch, thể hiện qua việc thực hiện
quyền tài phán cũng như sự kiểm soát hành chính, kĩ thuật… Các ràng buộc pháp lý
này được thiết lập bởi việc tàu thuyền đăng kí tại một quốc gia và treo cờ quốc gia
đó. Tàu thuyền đăng kí tại quốc gia nào thì quốc gia đó có quyền tài phán đối với các
hành vi vi phạm trên thuyền theo quy định của Luật biển quốc tế.
Tàu thuyền chỉ được hoạt động dưới cờ của một quốc gia. Trong trường hợp tàu

- Thẩm quyền cảnh sát đảm bảo việc thực hiện (executive jurisdiction)
- Thẩm quyền xét xử của tòa cho một lĩnh vực cụ thể (judicial jurisdiction)
Theo nghĩa hẹp, quyền tài phán chỉ thẩm quyền pháp định của tòa án để xét xử
một người hay một việc9.
Như vậy, có thể hiểu rằng quyền tài phán (jurisdiction) là quyền của các cơ quan
hành chính và tư pháp của quốc gia thực hiện để giải quyết các vụ việc vi phạm pháp
luật theo thẩm quyền luật định. Theo nghĩa thông thường, quyền tài phán là quyền xử
lý, xét xử đối với các hành vi vi phạm.
1.3.2 Nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán
Trong quan hệ quốc tế, các nguyên tắc và quy tắc pháp lý liên quan đến thẩm
quyền tài phán đóng vai trò là nên tảng cơ sở, hầu hết các hệ thống pháp luật nội địa
đều hoạt động dựa trên các nguyên tắc pháp lý này. Sở dĩ như vậy vì trong quan hệ
quốc tế, các mối quan hệ được xây dựng dựa trên việc phân bổ quyền lực giữa các
quốc gia. Trong luật quốc tế cũng có sự phân chia về các vùng biển với những vị trí
cũng như quy chế pháp lý khác nhau; các quốc gia cũng phân bổ việc thực hiện thẩm
quyền tài phán với những mức độ và giới hạn khác nhau. Vì vậy, việc xác lập được
các nguyên tắc cơ bản trong việc xác định thẩm quyền tài phán của các quốc gia trên
biển là rất quan trọng.
6

O’Connell & Shearer, The International Law of the Sea (1984), quyển 2, tr.748
PGS.TS. Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam (2005), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr
678
8
Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân (2004), tr.851
9
TS. Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về luật biển (1997), NXB. CAND, tr.127
7



quyền tài phán của quốc gia được xác lập dựa trên chủ quyền lãnh thổ của các quốc
gia ven biển, và Liên hợp quốc không được phép can thiệp vào những công việc thực
chất thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia nào hoặc đòi hỏi các thành viên phải đưa
những công việc loại này ra giải quyết theo qui định của Hiến chương Liên Hợp quốc
12

. Tuy nhiên trên thực tế, quyền tài phán của quốc gia vẫn phải chịu sự ràng buộc bởi

luật pháp quốc tế trong các vấn đề về nhân quyền, an ninh, môi trường… Và trong
một số điều ước quốc tế và các tổ chức quốc tế như Liên minh châu Âu (EU), dựa
10

Maria Gavounneli, “Functional jurisdiction in the law of the sea”, 2007, tr.7
TS. Nguyễn Toàn Thắng, Thẩm quyền tài phán hình sự trên vùng biển Việt Nam, Tạp chí Luật học – Đặc san
8/2012, tr.118
12
Khoản 7, điều 2, Hiến chương Liên Hợp quốc
11


6

trên việc linh hoạt chia sẻ thẩm quyền tài phán thì một quốc gia thành viên vẫn có thể
được áp dụng thẩm quyền tài phán của mình trên lãnh thổ của quốc gia thành viên
trong một số trường hợp cụ thể.
Nguyên tắc quốc tịch
Liên kết giữa giữa quốc gia và công dân là một trong những mối quan hệ pháp lý
lâu đời nhất có thể tìm thấy, theo đó quốc gia có quyền tài phán dựa trên quốc tịch
của cá nhân13. Quốc gia có thể thực hiện thẩm quyền tài phán đối với công dân mang
quốc tịch nước mình khi công dân đó đang ở ngoài vùng thuộc chủ quyền và phạm vi


Maria Gavounneli, “Functional jurisdiction in the law of the sea”, 2007, tr.13
Điều 94 UNCLOS


7

gia đó, hoặc đối với các vấn đề liên quan đến tội phạm quốc tế như cướp biển, khủng
bố… Và vì vậy, nguyên tắc phổ cập được xác lập để xác định thẩm quyền tài phán
đối với hành vi vi phạm không dựa trên địa điểm phạm tội hay quốc tịch trong một số
lĩnh vực cụ thể15. Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của “crimennes
jure gentium” – các quy chế mang tính chất quốc tế, được áp dụng đối với một số tội
phạm có tính chất quốc tế, đòi hỏi sự hợp tác của tất cả các quốc gia mới có thể trấn
áp một cách có hiệu quả.
1.3.3 Sự khác nhau giữa “thẩm quyền tài phán” và “quyền chủ quyền”
Chủ quyền quốc gia theo luật quốc tế bao gồm quyền lực của nhà nước thể hiện
đầy đủ ở khắp lãnh thổ đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời của quốc gia đó.
Trên thực tế, chủ quyền là quyền lực tối cao, bao gồm các quyền cụ thể như quyền
xác định chế độ chính trị - kinh tế - xã hội của mình; quyền sở hữu đối với tài nguyên
thiên nhiên; quyền tài phán đối với mọi người và mọi tổ chức; quyền được bất khả
xâm phạm lãnh thổ.
Quyền chủ quyền (sovereign right) là những bộ phận cụ thể để cấu thành chủ
quyền. Là các quyền mà chỉ có quốc gia hoặc một số các cơ quan chính phủ của nó
có thể có và sự sở hữu quyền có tính chất chủ quyền này là do lợi ích chung và có khả
năng thực hiện các chức năng riêng của mình. Quyền chủ quyền của quốc gia ven
biển được hưởng trên cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động
nhằm thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì
mục đích kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió… 16.
Quyền chủ quyền gắn nhiều tới tính chủ thể, tới tư cách pháp nhân thực hiện trong

thổ. Quốc gia ven biển có quyền ban hành và đảm bảo cho việc thực thi pháp luật trên
các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia mình. Quốc gia ven biển được phép mở
rộng chủ quyền và quyền tài phán quốc gia hướng ra phía biển theo nguyên tắc đất
thống trị biển. Theo đó, thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển được mở rộng ra
ngoài đến các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, bao gồm vùng tiếp giáp
lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Thẩm quyền tài phán của quốc gia có tàu mang cờ mang nhiều tính chất của
nguyên tắc quốc tịch. Theo đó, việc tàu thuyền treo cờ là một hình thức để xác định
quốc gia có quyền tài phán trên tàu thuyền đó hay không. Quốc gia có quyền tài phán
đối với tàu thuyền treo cờ quốc gia mình, trong đó bao gồm các quyền chủ yếu là
kiểm tra, chứng nhận và cấp giấy chứng chỉ về an toàn hàng hải… Việc xâm phạm tới
tàu mang cờ của một quốc gia cũng đồng nghĩa với việc xâm phạm tới quốc gia mà
tàu mang cờ. Ngược lại, các hành vi của tàu thuyền không mặc nhiên quy trách nhiệm
cho quốc gia mà tàu mang cờ, bởi vì tàu thuyền vẫn mang tính chủ thể riêng biệt do
đó các quy tắc thông thường vẫn áp dụng.
Thẩm quyền tài phán của quốc gia khác: Quốc gia khác ở đây bao gồm cả quốc
gia có biển và cả quốc gia không có biển. Trên vùng biển cả thì quốc gia không có
biển tàu thuyền vẫn được phép mang cờ của quốc gia mình, được phép thực hiện một
số quyền tự do biển cả, trong đó phải kể đến quyền tự do hàng hải. Ngoài ra, trong
vùng biển cả, các quốc gia được phép thực hiện quyền tài phán trên cơ sở áp dụng
nguyên tắc phổ cập. Tàu quân sự của bất kì quốc gia nào cũng có quyền khám xét, bắt
giữ tàu khác nếu có các điều kiện được quy định tại UNCLOS.


9

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA
TRÊN BIỂN
2.1 Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển
2.1.1 Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển trên vùng biển thuộc chủ

UNCLOS “ngoài những ngoại lệ đã nêu...không một quy định nào của Công ước
đụng chạm đến các quyền miễn trừ mà các tàu chiến và các tàu khác của Nhà nước
18
19

Điều 2 UNCLOS
Điều 3 UNCLOS


10

dùng vào những mục đích không thương mại được hưởng”. Trong trường hợp có
hành vi vi phạm thì quốc gia nơi tàu đang hoạt động có quyền yêu cầu tàu thuyền vi
phạm rời khỏi vùng biển của mình, đồng thời đề nghị quốc gia mà tàu quân sự hoặc
tàu Nhà nước phi thương mại của nước ngoài mang quốc tịch trừng trị các nhân viên
phạm pháp, đồng thời đền bù mọi thiệt hại phát sinh 20. Nhìn chung trong những
trường hợp này, mọi vấn đề được giải quyết theo con đường ngoại giao, dựa trên nền
tảng quan hệ chính trị quốc tế giữa các nước hữu quan.
Đối với tàu dân sự và thương mại, quốc gia ven biển có thẩm quyền tài phán dân
sự và thẩm quyền tài phán hình sự đối với các hành vi vi phạm xảy ra trong vùng biển
thuộc chủ quyền của mình.
Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng nội thủy
Trong vùng nước nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền tuyệt đối, hoàn toàn
và đầy đủ như trên đất liền. Về nguyên tắc, đối với tàu dân sự, các tòa án của quốc
gia ven biển có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp và các vụ việc vi phạm liên
quan đến tàu thuyền nước ngoài xảy ra trong nội thủy của quốc gia đó.
Trên thực tế, tồn tại hai hệ thống pháp luật khác nhau về thẩm quyền tài phán hình
sự của quốc gia ven biển. Theo hệ thống pháp luật Anh thì quốc gia ven biển không
từ bỏ thẩm quyền tài phán hình sự của mình trước mà xét từng trường hợp cụ thể. Hệ
thống luật của Pháp thì cho rằng quốc gia ven biển sẽ không can thiệp trong trường

gia tàu mang cờ yêu cầu.
- Nếu hậu quả của nó ảnh hưởng tới an ninh trật tự của quốc gia ven biển.
Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển tại lãnh hải
Theo quy định tại Điều 2 UNCLOS, quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh
hải, vùng trời bên trên cũng như lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Tuy nhiên, chủ
quyền này chỉ mang tính chất hoàn toàn, đầy đủ vì chế độ pháp lý của lãnh hải được
xây dựng trên cơ sở cân bằng giữa chủ quyền quốc gia ven biển với các quyền hợp
pháp của quốc gia khác, thể hiện thông qua việc thừa nhận quyền đi qua không gây
hại của tàu thuyền nước ngoài và vấn đề thực thi thẩm quyền tài phán của quốc gia
ven biển.
Thẩm quyền tài phán hình sự của quốc gia ven biển trong vùng lãnh hải: Theo
quy định tại khoản 1, Điều 27 UNCLOS, về nguyên tắc quốc gia ven biển không
được thực hiện quyền tài phán hình sự của mình ở trên một tàu nước ngoài đi qua
lãnh hải để tiến hành bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự
xảy ra trên con tàu trong khi nó đi qua lãnh hải, trừ các trường hợp sau:
- Nếu hậu quả của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển (điểm a).
- Nếu vụ vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự
trong lãnh hải (điểm b).
- Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc một viên chức
lãnh sự của quốc gia tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đương cục
địa phương (điểm c).
- Nếu các biện pháp này là cần thiêt để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy
hay các chất kích thích (điểm d).
Tuy nhiên, quốc gia ven biển không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một
con tàu nước ngoài khi một vụ vi phạm hình sự xảy ra trước khi tàu đi vào lãnh hải
hay chỉ đi qua lãnh hải mà không vào nội thuỷ. Ngược lại, quốc gia ven biển lại có
quyền áp dụng các biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự hay hình sự
trong nước của quốc gia ven biển quy định đối với một tàu thuyền nước ngoài đang
đậu trong lãnh hải hay đi qua lãnh hải sau khi đã rời khỏi nội thuỷ. Tại đây, quốc gia
ven biển được vận dụng quyền truy đuổi ra ngoài ranh giới lãnh hải.

2.1.2
Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển trên vùng biển thuộc
quyền chủ quyền quốc gia
 Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia
Theo UNCLOS, các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia bao gồm vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền lãnh hải, có chiều
rộng không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải25.
Tại vùng biển này, quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt và
hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền lãnh
hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó, các quyền và quyền tài phán của quốc
23

Khoản 3, Điều 27 UNCLOS
Ths. Nguyễn Thị Kim Ngân, Ths. Chu Mạnh Hùng, Giáo trình Luật quốc tế, NXB. Giáo dục Việt Nam, Hà
Nội, 2010, tr. 195.
25
Điều 33 UNCLOS
24


13

gia ven biển và các quyền tự do của quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của
Công ước điều chỉnh 26. Vùng đặc quyền kinh tế thông thường chỉ bao gồm lớp nước
biển trong khoảng cách từ giới hạn bên ngoài của đường ranh giới phía ngoài lãnh hải
(đường biên giới quốc gia trên biển) cho đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều
rộng lãnh hải của quốc gia ven biển trong một khoảng cách không quá 200 hải lý.
Như vậy, trong mối quan hệ với vùng tiếp giáp thì vùng đặc quyền kinh tế sẽ bao

27

Điều 55 UNCLOS
TS. Lê Mai Anh, Luật biển quốc tế hiện đại, đã dẫn, tr. 143


14

Về đặc quyền kiểm tra, kiểm soát đối với tàu thuyền đi ra, đi vào và hoạt động
trong vùng nội thủy, UNCLOS cho phép quốc gia ven biển có quyền yêu cầu tàu
thuyền trước khi đi vào lãnh hải và nội thủy phải dừng lại tại một địa điểm quy định
(thường được pháp luật các quốc gia ven biển quy định là vị trí đón trả hoa tiêu), để
các cơ quan chức năng kiểm tra về y tế, nhập cư, xuất nhập cảnh, thuế quan và hải
quan. Trước khi con tàu đó rời khỏi các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia thì con
tàu đó cũng phải dừng lại tại một điểm do quốc gia ven biển quy định để các lực
lượng chức năng của quốc gia này kiểm tra.
Quốc gia ven biển còn có quyền ngăn ngừa và trừng trị những vụ vi phạm xảy ra
tại nội thủy, lãnh hải và các cảng biển. Quốc gia ven biển có thể áp dụng các biện
pháp cần thiết để đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật của nước mình trên những
vùng biển trên như có quyền kiểm soát việc tuân thủ các thể lệ, quy chế hàng hải của
tàu thuyền nước ngoài28. Nếu có sự vi phạm pháp luật tại các vùng biển này, quốc gia
ven biển vẫn có quyền bắt giữ con tàu khi nó đã ra tới vùng tiếp giáp.
Như đã nói ở trên, vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được hưởng quy chế pháp
lý kép, nên quốc gia ven biển có thể thực thi các quyền chủ quyền và quyền tài phán
áp dụng đối với vùng đặc quyền kinh tế, nghĩa là vùng tiếp giáp lãnh hải còn chịu sự
chi phối hoàn toàn của những nội dung pháp lý đã được quy định cho vùng đặc quyền
kinh tế. Mặt khác, quốc gia ven biển có đặc quyền tuyệt đối đối với các hiện vật lịch
sử và khảo cổ nằm ở đáy biển vùng tiếp giáp. Việc khai thác, mua bán những hiện vật
này mà không được sự cho phép của quốc gia ven biển được coi là sự vi phạm các
luật và quy định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ quốc gia 29.

định quyền và nghĩa vụ của quốc gia khác 30.
Tính đặc quyền của quốc gia ven biển về khai thác tài nguyên sinh vật ở vùng đặc
quyền kinh tế còn được thể hiện thông qua quyền đặt ra các điều kiện và thể thức để
cho nước ngoài tiếp cận tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền kinh tế như điều kiện
về cấp phép, trả các khoản thuế và lệ phí, tuân theo các quy định về khu vực được
phép khai thác. Trong vùng đặc quyền kinh tế, lợi ích của quốc gia ven biển luôn
được xác định hàng đầu, nhất là đối với quốc gia ven biển có nền kinh tế phụ thuộc
quá lớn vào việc khai thác tài nguyên sinh vật trong vùng này. Việc thực thi quyền tài
phán khi có vi phạm của tàu thuyền nước ngoài liên quan đên vấn đề này đều sẽ được
viện dẫn đến tính chất “đặc quyền kinh tế” và lợi thế thuộc về quốc gia ven biển. Các
quốc gia không có biển và các quốc gia bất lợi về mặt địa lý muốn khai thác tài
nguyên sinh vật cần có sự thỏa thuận rõ ràng với các quốc gia ven biển, những quyền
pháp lý mà các quốc gia này được hưởng không có tính đương nhiên và chỉ tồn tại
khi quốc gia ven biển xác định có lượng cá thừa.
Thực tiễn trên thế giới, vấn đề khai thác trái phép thủy sản trong vùng đặc quyền
kinh tế của các quốc gia ven biển đã trở thành một vấn đề hết sức nhức nhối. Đặc
biệt, trong thời gian gần đây, Trung Quốc là quốc gia có nhiều tàu thuyền vi phạm, và
cũng là quốc gia đơn phương áp đặt nhiều lệnh cấm bắt cá ở trên vùng đặc quyền
kinh tế của quốc gia khác.
Theo số liệu chính thức cho thấy Trung Quốc là nước tiêu thụ hải sản lớn nhất thế
giới. Con số thực tế theo ước tính của Ngân hàng đầu tư Rabobank, giá trị hải sản
nhập khẩu của Trung Quốc sẽ đạt 20 tỉ USD vào cuối thập niên này so với khoảng 8
tỉ USD hiện nay. Trung Quốc đã lên nhiều kế hoạch để mở rộng đội tàu cá nhằm đáp
ứng nhu cầu khổng lồ trên, tăng số tàu đánh bắt xa bờ lên khoảng 2300 chiếc vào cuối
năm 2015, tăng 16% so với năm 201031. Tờ Wall Street Journal (Mĩ) nhận định:
“Cơn đói cá ngày càng trầm trọng của Trung Quốc đang thử thách quan hệ với

30
31


quyền nhiều nước không đủ lực để kiểm soát vùng biển của mình. Bộ Nông nghiệp
Trung Quốc cho biết sản lượng đánh bắt ở Tây Phi năm 2011 đã tăng 14% so với
năm 2010. Cảnh sát biển Argentina ngày 26/12/2012 cũng đã thông báo bắt giữ 2 tàu
có số hiệu Lu Rong Yu 6177 và Lu Rong Yu 6178 mang cờ Trung Quốc đánh bắt hải
sản trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia này. Vào thời điểm bắt giữ,
dưới hầm hàng của hai chiếc tàu có khoảng 10 tấn mực đông lạnh và cá tươi 34.
Ngoài những vi phạm của tàu thuyền, Trung Quốc còn đơn phương ra tuyên bố
cấm đánh bắt cá trên các vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác. Trung Quốc
thông báo đơn phương thực hiện lệnh cấm đánh bắt cá ở khi vực từ 12 độ vĩ Bắc đến
32

Hàn Quốc bắt giữ 21 tàu cá Trung Quốc, đăng ngày 28/12/2012, trang tin http://vnexpress.net
Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc, đăng ngày 5/3/2013, trang tin http://news.zing.vn
34
Tàu cá Trung Quốc đánh bắt trái phép ở Argentina, đăng ngày 28/12/2012, trang tin báo Lao động
http://laodong.com.vn
33


17

ranh giới giữa tỉnh Phúc Kiên và Quảng Tây từ 12h ngày 16/5/2012 đến 12h ngày
1/8/2012. Cả Việt Nam và Philippines đều lên tiếng bác bỏ lệnh cấm đánh bắt cá đó
của Trung Quốc vì hành vi này vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền chủ quyền
của Việt Nam và Philippines ở Biển Đông.
Theo UNCLOS, các quốc gia ven Biển Đông, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam
và Philippines có quyền ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong một thời kỳ nhất định
trong năm nhưng với một điều kiện rất rõ ràng là hoạt động đó được thực hiện trong
vùng đặc quyền kinh tế của nước mình.
Các khu vực ở Biển Đông nằm ở phía bắc vĩ tuyến 12 cho đến ranh giới giữa tỉnh

Nam, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), làm cho
tình hình Biển Đông phức tạp thêm”35.
Chính vì trữ lượng tài nguyên sinh vật và sự phụ thuộc của các quốc gia đối với
hoạt động đánh cá trên Biển Đông, vấn đề phân bổ quyền tài phán trên biển Đông
ngày càng trở nên gay gắt. Các mâu thuẫn chủ yếu xoay quanh các vấn đề xác định
giới hạn thẩm quyền tài phán, mà bản chất là sự tranh chấp phân định ranh giới vùng
đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia 36. Vì sự phụ thuộc của thẩm quyền tài phán quốc
gia ven biển với quyền chủ quyền quốc gia, thật sự rất khó để một quốc gia có thể
thực thi quyền tài phán nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của mình nếu như ranh giới các
vùng biển mà quốc gia đó có quyền chủ quyền không được xác định rõ. Giải pháp
được khuyến nghị là tạm thời không tập trung vào việc phân tranh ranh giới quyền tài
phán, thay vào đó thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia.
Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có đặc quyền về thăm dò, khai
thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên không sinh vật. Đối với tài nguyên không sinh
vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác và đặt dưới
quyền kiểm soát của mình. Tài nguyên không sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế
bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước (phục vụ cho kinh tế vận tải biển
hoặc các ngành công nghiệp khác), tài nguyên phục vụ nghiên cứu khoa học về biển
(với việc xây dựng các công trình, các đảo nhân tạo)… Việc luật biển quốc tế ghi
nhận quyền tài phán của quốc gia ven biển về lắp đặt, xây dựng các đảo nhân tạo, các
thiết bị công trình là rất thích hợp. Đây chính là hệ quả của việc hưởng quyền chủ
quyền đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ven biển. Mặt khác, quyền này
gắn liền với các mục đích kinh tế của nước ven biển, và vì có như vậy, quốc gia ven
biển mới chủ động và không bị cản trở trong các hoạt động khai thác sử dụng vùng
đặc quyền kinh tế37.
• Thẩm quyền tài phán trong lĩnh vực nghiên cứu, quản lý và tiến hành các
hoạt động nghiên cứu khoa học biển
Xuất phát từ chủ quyền trong lãnh hải, quốc gia ven biển có đặc quyền quy định,
cho phép và tiến hành công tác nghiên cứu khoa học biển trong lãnh hải của mình, và
chỉ được tiến hành với sự thỏa thuận rõ ràng của các quốc gia ven biển và trong các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status