so sánh việc tiêu thụ thủy sản của các hộ gia đình theo nhóm dân tộc ở hai tỉnh sóc trăng và an giang - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

QUÁCH THẬN

SO SÁNH VIỆC TIÊU THỤ THỦY SẢN CỦA CÁC HỘ GIA
ĐÌNH THEO NHÓM DÂN TỘC Ở HAI TỈNH SÓC TRĂNG
VÀ AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2011


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

QUÁCH THẬN

SO SÁNH VIỆC TIÊU THỤ THỦY SẢN CỦA CÁC HỘ GIA
ĐÌNH THEO NHÓM DÂN TỘC Ở HAI TỈNH SÓC TRĂNG
VÀ AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
LÊ XUÂN SINH

2011

nghề. Thu nhập từ kinh doanh mua bán các loại trung bình/năm của hộ gia
đình trên 130 triệu đồng, làm lúa thu nhập là chiếm 11,18% nguồn thu nhập,
nuôi trồng thủy sản nguồn thu nhập chiếm 7,49%. Người dân thích tiêu dùng
thủy sản thường xuyên hơn là thực phẩm khác. Người dân thích tiêu dùng
thực phẩm tươi sống hơn là chế biến và ưa thích nguồn thủy sản tự nhiên hơn
là thủy sản nuôi trồng. Lượng mua thủy sản bình quân/lần là 0,69 kg, số tiền
mua/lần của hộ gia đình là 30,85 ngìn đồng. Sản lượng mua thủy sản bình
quân/người/năm của các nhóm dân tộc trên hai địa bàn khảo sát là người Kinh
50,50 kg/người/năm, người Khmer 41,92 kg/người/năm, người Hoa 50,46
kg/người/năm, người Chăm 58,64 kg/người/năm. Không có sự khác biệt lớn
giữa hai tỉnh về lượng tiêu dùng thủy sản và các nhóm dân tộc trên hai địa bàn
khảo sát cũng vậy.
Thuận lợi nhất trong mua tiêu dùng thủy sản thực phẩm là giá thấp hơn
các loại thực phẩm khác, dễ chọn mua, dễ chế biến, đa dạng về loài. Khó khăn
nhất trong tiêu dùng thủy sản thực phẩm là giá cả không ổn định, khó bảo
quản, dư lượng kháng sinh hóa chất trong thủy sản, nguồn thủy sản tự nhiên
giảm. Nhu cầu mong đợi nhất của người dân là nên ổn định giá cả của các sản
phẩm thủy sản, nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

ii


MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ ......................................................................................................... i
TÓM TẮT .............................................................................................................. ii
MỤC LỤC ............................................................................................................iii
DANH SÁCH BẢNG ............................................................................................ v
DANH SÁCH HÌNH ............................................................................................ vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................. vii

3.2. Các biến chủ yếu trong nghiên cứu ......................................................... 19
3.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu................................................... 20
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................... 22
4.1. Thông tin về nông hộ .............................................................................. 22
4.1.1. Dân số và lao động ......................................................................... 22
4.1.2. Hoạt động sản xuất của nông hộ và cơ cấu thu nhập ..................... 23
4.1.3. Chi tiêu của hộ gia đình .................................................................. 24
4.2. Hiện trạng tiêu dùng thủy sản ................................................................. 27
4.2.1. Thực phẩm tự cung cấp của hộ gia đình ......................................... 28
4.2.2. Thực phẩm mua cho tiêu dùng ....................................................... 28
4.2.3. Mức tiêu dùng thủy sản giữa các nhóm dân tộc ............................. 32
4.2.4. Tính thuận tiện và mức độ tiếp cận thông tin trong tiêu dùng
thủy sản của hộ gia đình ................................................................ 35
4.2.5. Những tháng nhu cầu tiêu dùng thủy sản tăng và tỷ lệ tăng........... 37
4.2.6. Loài thủy sản được người tiêu dùng ưa thích ................................. 37
4.3. Xu hướng tiêu dùng thủy sản của hộ gia đình......................................... 38
4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mua thủy sản của người tiêu dùng. 41
4.5. Thuận lợi và khó khăn trong tiêu dùng của hộ gia đình.......................... 41
4.5.1. Thuận lợi ......................................................................................... 41
4.5.2. Khó khăn ......................................................................................... 42
4.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng thủy sản bình quân/người/năm
của hộ gia đình ....................................................................................... 43
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .......................................................... 46
5.1. Kết luận ................................................................................................... 46
5.2. Đề xuất .................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 48
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 50

iv


Hình 4.2: Nguồn thực phẩm tự sản xuất, cung cấp chủ yếu của hộ gia đình ở
Sóc Trăng (a) và An Giang (b)............................................................ 28
Hình 4.3: Nguồn cung cấp chủ yếu của người tiêu dùng ở Sóc Trăng (a) và An
Giang (b) ............................................................................................. 31
Hình 4.4: Cơ cấu tiêu dùng thủy sản của hộ gia đình .......................................... 32

vi


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATVSTP:

An toàn vệ sinh thực phẩm

ĐBSCL:

Đồng bằng sông Cửu Long

EEZ:

Vùng đặc quyền kinh tế biển

FAO:

Tổ chức Nông – Lương thực quốc tế

HS:

Hải sản


Xuất khẩu thủy sản

WTO:

Tổ chức thương mại thế giới

vii


Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước có đường bờ biển dài 3.260 km với vùng đặc
quyền kinh tế biển (EEZ) rộng hơn 1.000.000 km2. Điều kiện địa lý vùng biển và
các mặt nước nội địa của Việt Nam đã tạo nên những vùng sinh thái khác nhau.
Có thể chia thành 4 dạng môi trường sống cơ bản đối với các loài thủy sinh vật:
vùng nội địa (vùng nước ngọt), vùng nước mặn xa bờ, vùng nước mặn gần bờ và
vùng nước lợ. Các thủy vực rộng lớn, hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng, khí
hậu nhiệt đới mưa nhiều luôn bổ sung nước cho các thủy vực, khí hậu ấm áp làm
cho các giống loài sinh vật có thể phát triển quanh năm mà thiên nhiên đã ban
tăng cho nghề thủy sản Việt Nam.
Thủy sản có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống con người như cung
cấp sản phẩm thiết yếu phục vụ cho đời sống, cung cấp nguyên liệu cho ngành
chế biến, tạo thêm nguồn ngoại tệ cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho lực
lượng lao động ngày một gia tăng, là thị trường cho nhiều ngành sản xuất và dịch
vụ khác, đặc biệt thủy sản là nguồn thực phẩm quan trọng không thể thiếu trong
bữa ăn của gia đình người Việt cũng như mỗi gia đình các dân tộc anh em trên
toàn quốc.
Thủy sản là một ngành mang tính truyền thống của Việt Nam. Trong quá
trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành thủy sản

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Phân tích và đánh giá tình hình tiêu thụ thủy sản của nông hộ ở tỉnh Sóc
Trăng và An Giang nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các bên có liên quan đối
với cung cấp và tiêu thụ thủy sản trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và An Giang nói
riêng và thị trường nội địa nói chung.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Khái quát các hoạt động tiêu thụ thủy của các hộ gia đình, trong đó có các
hộ gia đình người dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer.
(2) Tìm hiểu và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ thủy sản
của hộ gia đình.
(3) Phân tích được những thuận lợi, khó khăn mà các hộ gia đình tiêu thụ thủy
sản gặp phải nhất là ở các nhóm dân tộc và đề xuất những giải pháp giúp
cải thiện việc tiêu thụ thủy sản của hộ gia đình.
1.3 . Nội dung nghiên cứu
(1) Khảo sát hiện trạng tiêu thụ thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng và An Giang.
(2) So sánh mức tiêu dùng thủy sản ở nông thôn và thành thị.

2


(3) Phân tích nhận thức của người tiêu dùng thủy sản.
(4) So sánh việc tiêu thụ thủy sản trên địa bàn nghiên cứu và giữa các nhóm
dân tộc.
(5) Xác định yếu tố ưu tiên trong tiêu dùng thủy sản
1.4 . Phạm vi và giới hạn của đề tài
(1) Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 12/2010 đến tháng 7/2011.
(2) Địa bàn nghiên cứu chỉ khảo sát các tỉnh Sóc Trăng và An Giang.
(3) Giới hạn nội dung: Tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu
thụ thủy sản của hộ gia đình thuộc các nhóm dân tộc trên địa bàn hai tỉnh

Việt Nam
Châu Á
Nam Á
Đông Nam Á
Châu Âu
Tây Âu
Đông Âu
Thế Giới

1985
7
7
3
13
69
14
33
20
12
10
3
21
18
21
8
12

1990
7
11

6
15

(Nguồn: VASEP, 2010)

4

2000
11
25
4
20
67
18
29
30
19
17
5
25
19
25
7
16

2003
11
25
4
20

33


Trung Quốc đạt mức tăng trưởng mạnh nhất và trở thành nước sản xuất
thuỷ sản lớn nhất thế giới. Trong khi đó, tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu
người tại các nước khác trên thế giới lại giảm từ 14,4kg năm 1990 xuống còn
13,1kg năm 1999. Tiêu thụ thuỷ sản nước ngọt bình quân theo đầu người tại Châu
Á và Châu Âu đều thấp hơn so với thuỷ sản nước mặn (gồm cả thuỷ sản nước lợ).
Phần lớn các loài nuôi biển có giá trị cao và phụ thuộc vào nguồn thức ăn đầy đủ
dinh dưỡng.
Ngoài ra, quá trình đô thị hoá, nếp sống và thói quen ăn uống cũng sẽ tác
động đến hành vi người tiêu dùng và đẩy nhu cầu đối với các loại thuỷ sản và thịt
tăng. Tuy nhiên những tác động này ở các nước đang phát triển và các nước phát
triển có sự khác nhau. Tại các nước đang phát triển, thu nhập tăng và quá trình đô
thị hoá diễn ra nhanh chóng là những nhân tố hàng đầu khiến nhu cầu thuỷ sản và
thịt đến năm 2010 tăng. Còn tại các nước phát triển, nhu cầu tăng là do nhận thức
của người tiêu dùng về sức khoẻ và những lợi ích của thuỷ sản tăng cùng với quá
trình đô thị hoá cũng diễn ra nhanh, giá thuỷ sản lại rẻ hơn só với các thực phẩm
khác, nên việc chọn mua thủy sản làm thực phẩm ngày càng gia tăng.
Dự báo đến năm 2030, dân số thế giới sẽ tăng thêm 1,7 tỉ người, tập trung
chủ yếu tại khu vực thành thị thuộc các nước kém phát triển. Các nước phát triển
đã đạt được tốc độ đô thị hoá cao vào năm 1950 và dự kiến các nước đang phát
triển sẽ đạt được mức tương tự. Từ năm 2000 – 2030, dân số thành thị tại Châu Á
sẽ tăng từ 1,36 tỉ người lên 2,64 tỉ người, tại Châu Phi: từ 294 triệu người lên 742
triệu người, tại Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê: từ 394 triệu người lên 609 triệu
người. Như vậy, Châu Phi và Châu Á sẽ chiếm 7/10 dân cư thành thị trên thế
giới. Do đó áp lực về lương thực, thực phẩm là rất quan trọng, việc chọn mua loại
thực phẩm giá rẻ lại càng cần thiết hơn trong quá trình phát triển.
Người tiêu dùng đang dần thay đổi thói quen tiêu dùng đối với các sản
phẩm thuỷ sản. Nhu cầu thuỷ sản, chủ yếu là các loài có giá trị cao tại các nước

vực nuôi trồng các loại động, thực vật thủy sinh (nuôi thủy sản nước ngọt, nuôi
thủy sản nước lợ, mặn); lĩnh vực chế biến thủy sản (chế biến phục vụ tiêu dùng
nội địa, chế biến sản phẩm xuất khẩu); các lĩnh vực hoạt động khác… (hoạt động
dịch vụ phục vụ khai thác hải sản, các dịch vụ cho người NTTS); thương mại
thủy sản; phát triển nguồn nhân lực. Trong đó phải nói đến 2 lĩnh vực phát triển
nhất hiện nay là nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu.
Nuôi trồng thủy sản đã từng bước trở thành một trong những ngành sản
xuất hàng hoá chủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến
đến xây dựng các vùng sản xuất tập trung. Các đối tượng có giá trị cao có khả
năng xuất khẩu đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, hiểu quả tốt.
Phát huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong
doanh nghiệp và ngư dân, đồng thời góp phần hết sức quan trọng cho chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp cũng như cho xoá đói giảm nghèo.

6


Mỹ
17%

ASEAN
23%

EU
24%

Thị trương
khác
5%


USD, đưa nước ta nằm trong tóp 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới.
Qua hơn 10 năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản (XKTS) của Việt Nam liên tục
tăng trưởng vững chắc, hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 100 nước và vùng
7


lạnh thổ trên thế giới, đặc biệt là các thị trường lớn như Nhật, Mỹ, EU, nhiều
doanh nghiệp của Việt Nam đã chứng tỏ được bản lĩnh trên thương trường quốc
tế và vững vàng vượt qua mọi thử thách.
2.3. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng

Hình 2.2: Bản đồ tỉnh Sóc Trăng
(Nguồn: baocantho.com)

Vị trí địa lý: Tỉnh Sóc Trăng nằm ở tọa độ địa lý 9028' đến 90 59' vĩ độ
Bắc, 160034' đến 106017' kinh độ Ðông, cách thủ đô Hà Nội 1.930 km đường bộ.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.223,3 km2, chiếm 0,98% tổng diện tích tự nhiên
của cả nước. Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh như quốc lộ 1,
sân bay Sóc Trăng có đường bay nối liền cả nước và quốc tế, có đường biển nối
liền quốc tế. Hệ thống sông ngòi tỉnh Sóc Trăng nhiều, chằng chịt tới các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long và hai nước Campuchia và Lào.

8


Ðịa hình: Tương đối bằng phẳng, vùng đồng bằng chiếm 100% diện tích
tự nhiên toàn tỉnh.
Khí hậu: Mưa bão tập trung từ tháng 7 đến tháng 9; tuần xuất lũ có thể
xảy ra vào tháng 8, các hiện tượng gió lốc thường xẩy ra vào tháng 7. Lượng mưa
trung bình hàng năm là 2.000 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 240 C đến 370

2006 là 66.384 ha. Các mặt hàng thủy sản chủ yếu ở Sóc Trăng là: tôm sú, tôm
càng xanh, cá nước ngọt, nhuyễn thể…Những mặt hàng rất hấp dẫn người tiêu
dùng. Mặt khác, tỉnh còn có một đội ngũ đông đảo lao động nghề thủy sản cần cù,
chịu khó học hỏi, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật trong hoạt
động ngư nghiệp, nhạy bén trong tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất. Xuất phát từ những thuận lợi cơ bản trên, nghề nuôi trồng và khai thác thủy
hải sản có bước phát triển đi lên.
Về chế biến thuỷ sản: Sóc Trăng hiện có 07 nhà máy chế biến thủy sản,
tổng công suất 100.000 tấn/năm. Chuyên chế biến sản phẩm thủy sản đông lạnh
xuất khẩu, hiện nay các công ty tập trung xây dựng nhà xưởng và đầu tư trang
thiết bị, công nghệ hiện đại để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường ngày càng
cao và trong 07 công ty chế biến thủy sản của tỉnh đều có đủ tiêu chuẩn để xuất
hàng hoá thủy sản sang thị trường các nước Nhật, EU, Mỹ,…Tổng kim ngạch
xuất khẩu thủy sản năm 2006 đạt 327,39 triệu USD.
Sóc Trăng định hướng phát triển kinh tế ngành ngư nghiệp của tỉnh từ nay
đến năm 2010 là: Ổn định diện tích nuôi thủy sản ở mức 80.000 ha; trong đó, diện
tích nuôi tôm 50.000 ha, quan tâm phát triển nuôi thủy sản vùng ngọt, gắn chặt
chẽ với sản xuất nông nghiệp, xây dựng vùng nuôi trồng thủy sản “sạch”, trồng
rừng, thủy lợi và bảo vệ môi trường. Đảm bảo sản lượng nuôi và khai thác thủy
hải sản đến năm 2010 đạt 275.000 tấn, chế biến thủy sản đạt 95.000 tấn, trong đó
tôm đông 80.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 680 triệu USD.
Có thể nói thiên nhiên đã ban tặng dành riêng cho Sóc Trăng một vùng đất
có vị trí thuận lợi để phát triển ngành ngư nghiệp. Nó vừa là tiền đề và là nguồn
lực kinh tế để góp phần đưa Sóc Trăng tiến nhanh lên công nghiệp hóa – hiện đại
hóa sánh cùng với các tỉnh bạn và quốc tế.
2.3.3. Khái quát đặc điểm các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng
Dân số: Sóc Trăng là tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số đông nhất khu vực
đồng bằng sông Cửu Long. Dân số năm 2008 là 1.295.064 người; trong đó, dân
tộc Kinh chiếm 65,16%, dân tộc thiểu số khoảng 454.000 người (chiếm 34,83%
dân số), chủ yếu là dân tộc Khmer chiếm 28,93%, Hoa chiếm 5,88% và dân tộc

chấp hành Đảng bộ xã 169 đồng chí (chiếm tỷ lệ 10,92%). Tham gia các tổ chức
đoàn thể có 104.708 hội viên là người Khmer (Lê Văn Cần, 2009).
+ Đời sống văn hóa giáo dục
Các thiết chế văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm
đầu tư xây dựng. Toàn tỉnh hiện có 65 tụ điểm văn hoá chùa Khmer, 01 đoàn
nghệ thuật Khmer chuyên nghiệp, có 02 di sản di tích lịch sử cấp quốc gia, 05 di
tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh (03 chùa Khmer, 02 chùa Hoa), 01 nhà trưng bày
đang lưu giữ trên 462 hiện vật văn hoá truyền thống có giá trị về văn hoá lịch sử
của đồng bào Khmer (Lê Văn Cần, 2009).

11


Các lễ hội theo phong tục tập quán và lễ hội tôn giáo của đồng bào, sư sãi
Khmer, Hoa được tổ chức theo nghi thức cổ truyền, phù hợp với điều kiện kinh tế
và đúng quy định pháp luật. Đặc biệt, lễ hội Ooc om Bóc - Đua ghe Ngo được Bộ
Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào danh sách 15 lễ hội thuộc chương trình
quốc gia về du lịch Việt Nam. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá” được đông đảo đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực hưởng ứng và
mang lại những kết quả thiết thực (Lê Văn Cần, 2009).
Theo Lê Văn Cần (2009), tỉnh hiện có 158 trường dạy song ngữ Việt Khmer, có 2.586 giáo viên Khmer (chiếm 18,62% giáo viên toàn tỉnh) và 69.446
học sinh Khmer từ mầm non đến trung học phổ thông, trong đó có 40.126 em
đang học ở các lớp có chương trình tiếng Khmer (chiếm 57,78% so với tổng số
học sinh Khmer tiểu học và trung học); hàng năm, xét cử tuyển và dự bị gần 200
học sinh Khmer vào học ở trường đại học, cao đẳng.
- Đối với đồng bào Hoa
Người Hoa ở Sóc Trăng có nguồn gốc từ những di dân người Hán ở duyên
hải phía Nam Trung Quốc nhập cư vào miền Nam Việt Nam qua nhiều thời kỳ và
kéo dài trong nhiều thế kỷ. Đó là những nông dân, thợ thủ công, binh lính, thương
nhân và một số quan lại, ... mà đa số là do nghèo đói và loạn lạc, đã rời bỏ đất

+ Vị trí xã hội
Tổng số cán bộ, công chức người Hoa có 782 người (chiếm 3,02% so với
tổng số cán bộ, công chức, viên chức); trong đó, có 726 đảng viên người Hoa
(chiếm 2,9% số đảng viên). Tổng số cán bộ người Hoa giữ chức danh lãnh đạo
trong bộ máy tổ chức của các cơ quan, đơn vị: 25 người, trong đó khối chính
quyền 09 người, khối đoàn thể 16 người. Cán bộ người Hoa là đại biểu HĐND
các cấp (nhiệm kỳ 2004 - 2009) là 111 đại biểu; trong đó, cấp tỉnh 02 đại biểu,
cấp huyện 08 đại biểu và cấp xã 101 đại biểu. Tham gia các tổ chức đoàn thể có
15.078 hội viên là người Hoa (Lê Văn Cần, 2009).
+ Đời sống văn hóa giáo dục
Người Hoa coi trọng các dịp lễ tết, hội hè trong năm, nhất là các ngày Tết
Nguyên Đáng, Nguyên Tiêu, rằm tháng bảy, rằm tháng tám... Đó là dịp mọi
người vui chơi, giải trí, hỏi thăm lẫn nhau. Múa rồng, múa lân, biểu diễn sân khấu
hát Tiều, hát Quảng... là các hoạt động dân gian của người Hoa. Những dịp lễ tết
của người Hoa không chỉ có người Hoa, mà ở Sóc Trăng, cả người Việt, người
Khmer cũng tham gia, chia vui cùng người Hoa. Ngược lại, người Hoa ở Sóc
Trăng cũng lên các chùa Khmer cúng Phật, tham dự các ngày lễ Chol thnăm
thmei, Dolta, Ok ang bok... Sóc Trăng đã trở thành nơi hội tụ và giao lưu văn hóa
rất điển hình của bà con dân tộc Việt, Hoa, Khmer (Phan An, 2005).
Theo Lê Văn Cần (2005) trong 10 năm qua hoạt động văn hóa, văn nghệ
luôn được giữ gìn và phát huy. Ngành Văn hóa thường xuyên tổ chức các hoạt
động văn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí lành mạnh trong đồng bào Hoa thông
qua ngày hội văn hóa - thể thao các dân tộc, các ngày lễ, Tết Nguyên đán, tổ chức
Liên quan văn nghệ quần chúng người Hoa, tham gia hội thi trang phục của ba
dân tộc nhân dịp lễ hội Óoc Om Bóc - Đua ghe Ngo. Toàn tỉnh có 10 đội múa lân,
19 đội trống, 03 đội văn nghệ nghiệp dư, 10 đội bóng rổ, 08 đội bóng bàn, 05 đội
cầu lông.

13


và trật tự an toàn xã hội tiếp tục được đảm bảo.
Đặc biệt về khai thác thủy sản, đạt sản lượng cao do đang vào cao điểm
mùa nước lũ bắt đầu rút, ước đạt khoảng 9.500 tấn. Tuy nhiên, về thủy sản nuôi
trồng (cá tra) do ảnh hưởng việc giá cá nguyên liệu ở mức thấp trong thời gian
dài, người nuôi bị lỗ nên diện tích nuôi cá có chiều hướng giảm. Vụ Tôm càng
xanh năm 2008 toàn tỉnh thả nuôi được 690 ha, đã thu hoạch được khoảng 212
ha, năng xuất đạt từ 1-1,2 tấn/ha, hiện giá tôm đang ở mức thấp, người nuôi
không lãi nhiều.
2.4.2. Tình hình ngành thủy sản tỉnh An Giang
Khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngành Thủy sản Việt
Nam nói chung, và An Giang nói riêng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách
thức. Gia nhập WTO, bên cạnh việc phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại
quốc tế về thuế quan (thuế phần trăm; thuế hạn ngạch, thuế đối kháng, thuế chống
bán phá giá, thuế thời vụ, thuế bổ sung...), ngành Thủy sản cả nước nói chung và
ngành Thủy sản An Giang nói riêng sẽ phải đương đầu với những khó khăn,
thách thức từ rào cản phi thuế quan và các xu hướng, yêu cầu về kỹ thuật của thị
trường thủy sản thế giới ngày càng khắt khe về chất lượng và an toàn vệ sinh thực
phẩm; đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường; phù hợp những quy định về nhãn
mác sản phẩm; kiểm soát được các hành động về thương mại; tuân theo các tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các quy định về xuất xứ sản phẩm.
Tỉnh An Giang có 11.755 hộ đang nuôi thủy sản với tổng diện tích nuôi là
1.748 ha, 2.810 lồng bè với sản lượng ước năm 2006 là 181.137 tấn, chủ yếu là
nuôi cá tra, basa và tôm càng xanh. Toàn tỉnh có 16 nhà máy chế biến thủy sản
(13 doanh nghiệp), hiện có 13 nhà máy đang hoạt động với tổng công suất
15


khoảng 120.000 tấn/năm. Thị trường tiêu thụ thủy sản chế biến chủ yếu của tỉnh
là xuất khẩu, tiêu thụ trong nước chỉ chiếm 5%. Sản phẩm thủy sản của An Giang
hiện đã có mặt tại 49 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó thị trường châu Âu

nhiều nguồn lực về sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, có núi rừng, tài nguyên
16


Trích đoạn Lý thuyết cung cầu và thị trường sản phẩm thủy sản nội địa Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Dân số và lao động Tính thuận tiện và mức độ tiếp cận thông tin trong tiêu dùng Xu hướng tiêu dùng thủy sản của hộ gia đình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status