MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ là một trong những đơn vị có tầm quan trọng đặc biệt trong ngôn
ngữ. F.de.Xốtxuya, nhà ngôn ngữ học đầu tiên trên thế giới đã từng viết: “Từ
là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung
tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ ”.
Trong tiếng Việt, từ với đặc điểm không biến đổi hình thái và với ý
nghĩa từ vựng của mình đã “đảm nhiệm các phần việc mà ở các ngôn ngữ
khác, những đơn vị ở cấp dưới (hình vị) và trên (cụm từ, câu) đảm nhiệm”.
( Đỗ Hữu Châu,1992, tr 13). Bên cạnh đó, những bản sắc độc đáo trong tiếng
Việt phần lớn cũng là bản sắc của các từ. Chính vì thế, việc nghiên cứu tìm
hiểu từ tiếng Việt nói chung và tìm hiểu hiệu quả những cách dùng từ ngữ
trong tác phẩm văn chương nói riêng là rất cần thiết.
Ở Việt Nam, nội dung dạy học về từ, về cách dùng từ ngữ trong giao
tiếp đóng vai trò then chốt đối với việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Tiếng
Việt ở nhà trường các cấp. Hiện nay, việc dạy học về từ ngữ không chỉ bó hẹp
trong việc giúp người học tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, các thành phần ý nghĩa
của từ, mà còn phải giúp họ nhận thức được vai trò, tác dụng to lớn của loại
đơn vị ngôn ngữ này khi chúng được con người sử dụng trong giao tiếp. Từ
đó, giúp học sinh nâng cao năng lực biểu đạt, năng lực tư duy và năng lực
cảm thụ vẻ đẹp của tiếng Việt nói chung và tiếng Việt trong tác phẩm văn
chương nói riêng.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của từ, của việc nghiên cứu,
tìm hiểu về từ và ý nghĩa dạy học về loại đơn vị này trong nhà trường chúng
tôi đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu hiệu quả của những cách dùng từ ngữ
trong các văn bản thơ thuộc SGK Tiếng Việt 3 ở Tiểu học”.
1
2. Lịch sử vấn đề
- Đặc điểm ý nghĩa của từ, các thành phần ý nghĩa của từ;
- Đặc điểm của các ngữ cố định trong hệ thống từ vựng;
- Đặc điểm của các lớp từ vựng tiếng Việt;
- Phương pháp nghiên cứu từ, từ góc nhìn của từ vựng – ngữ nghĩa;
Các tác giả Hoàng Dân, Nguyễn Văn Bảo, Trịnh Ngọc Ánh (1999),
Đặng Đức Siêu (2001) chủ yếu đưa ra các bài tập ứng dụng để nhận diện và
mở rộng vốn từ Hán Việt cho người học ở các khía cạnh như : khái niệm, đặc
điểm từ vựng của từ Hán Việt, cách thức dạy và học về từ Hán Việt. . .
Trong các công trình nghiên cứu đã nêu trên, việc tìm hiểu hiệu quả của
những cách dùng từ ngữ trong văn bản thơ thuộc chương trình tiểu học không
phải là đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học.
2.2. Việc nghiên cứu từ ngữ trong một số giáo trình phong cách học Tiếng
Việt
Tiêu biểu cho nghiên cứu này là các tác giả:
- Đinh Trọng Lạc, Giáo trình Việt ngữ tập III, NXB Giáo dục, 1964.
- Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Phong cách
học Tiếng Việt, NXB Giáo dục (1993, 1995, 1998).
- Đinh Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, NXB
Giáo dục (1998).
Trong các giáo trình kể trên, các nhà phong cách học chủ yếu giới thiệu lý
thuyết về biện pháp tu từ, từ vựng ngữ nghĩa như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,
điệp tữ ngữ, nói giảm, nói tránh, nói quá, chơi chữ. . .
Khi xem xét các phong cách chức năng ngôn ngữ, các tác giả giáo trình phong
cách học nêu khái quát đặc trưng chung của ngôn ngữ nghệ thuật. Mặc dù
quan tâm đến cách lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của
các cá nhân, nhưng họ không thiên về tìm hiểu hiệu quả của những cách dùng
từ ngữ trong văn bản thơ dành cho HS tiểu học.
3
5
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp tổng hợp
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để tổng hợp những lý luận từ
các nguồn tài liệu đã thu thập và để rút ra những nhận xét, kết luận từ kết quả
nghiên cứu trong khóa luận.
7.2. Phương pháp thống kê, phân loại
Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng để thống kê các tác phẩm
thơ thuộc phạm vi nghiên cứu, thống kê phân loại những cách dùng từ ngữ
trong các tác phẩm đó.
7.3. Phương pháp phân tích ngữ cảnh
Phương pháp này được sử dụng để phân tích những cách dùng từ ngữ
trong những hoàn cảnh sử dụng cụ thể nhằm chỉ ra hiệu quả của những cách
sử dụng đó.
7.4. Ngoài ra, để có thể xử lý đề tào khóa luận, chúng tôi còn sử dụng các
phương pháp khác như: miêu tả, cải biên, so sánh. . .
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1. Từ trong tiếng Việt
1.1.1.1. Khái niệm
c. Đặc điểm về tính chất và chức năng
Về tính chất, từ là đơn vị có tính hiển nhiên, sẵn có, là đơn vị lớn nhất
trong hệ thống ngôn ngữ.
Về chức năng, từ là đơn vị nhỏ nhất để cấu tạo câu.
d. Đặc điểm về ý nghĩa
Đỗ Hữu Châu cho rằng: nghĩa của từ tiếng Việt là một tập hợp thể
nhiều thành phần, nhưng có thể phân lập ra được.
Theo tác giả, có thể phân chia nghĩa của từ tiếng Việt thành hai loại:
nghĩa ngôn ngữ và nghĩa lời nói.
Nghĩa ngôn ngữ của từ là thành phần nghĩa do cộng đồng quy ước mà
thành. Trong nghĩa ngôn ngữ của từ, chúng ta có thể phân biệt nghĩa từ vựng
và nghĩa ngữ pháp.
Theo Đỗ Hữu Châu nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng đơn vị từ
vựng (từ hoặc ngữ cố định). Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, các thực từ có
cả nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp. Xem xét về nghĩa từ vựng của từ, tác giả
phân lập thành nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái.
Khác với nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp là nghĩa chung của những từ
giống nhau về ý nghĩa phạm trù.
8
Ngoài ý nghĩa ngôn ngữ (ý nghĩa cơ sở), trong hoạt động giao tiếp, tùy
vào từng hoàn cảnh và mục đích sử dụng, cá nhân có thể sáng tạo ra ý nghĩa
mới cho từ, dựa vào ý nghĩa cơ sở của nó. Loại ý nghĩa này được gọi là ý
nghĩa lời nói. Đó là loại ý nghĩa có tính chất lâm thời, không bền vững, mang
đậm dấu ấn cá nhân.
Các ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ trong tiếng Việt là những từ nhiều
nghĩa trong lời nói.
1.1.1.3. Trường nghĩa
với hai hình vị trở lên). Các âm tiết được tổ chức theo một phương thức cấu
tạo đề tạo ra một kiểu từ có tính hệ thống.
Căn cứ vào phương thức cấu tạo, người ta chia từ phức thành hai loại là
từ láy và từ ghép.
Từ ghép là từ được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay
đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập với nhau. ( Đỗ Hữu Châu, Từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1999, tr 54).
Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương
thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu hay biến
đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm
gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền,
thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa. . ( Đỗ Hữu Châu,
Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1999, tr 41).
Dựa vào hình thức ngữ âm được lặp lại trong cấu tạo từ, người ta phân
từ láy thành: từ láy đôi, láy ba, láy tư hay từ láy toàn phần, từ láy bộ phận.
b. Phân loại từ theo đặc điểm ngữ nghĩa
b.1. Dựa vào số lượng thành phần nghĩa được biểu thị trong từ, người ta phân
chia từ trong hệ thống thành từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa.
10
Từ một nghĩa là những từ ứng với một hình thức ngữ âm, là một sự vật,
hiện tượng hay là một khái niệm về một sự vật, hiện tượng đó.
Từ nhiều nghĩa là những từ mà có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng,
hoặc có thể biểu thị nhiều khái niệm về sự vật, hiện tượng.
Trong mỗi một từ nhiều nghĩa, bao giờ cũng có một nghĩa gốc và các
nghĩa phát sinh. Xét về mặt lịch sử, các nghĩa phát sinh của từ bao giờ cũng
xuất hiện sau nghĩa gốc, chúng được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc.
b.2. Dựa vào mối quan hệ của từ trong trường nghĩa, người ta phân chia từ
sau là: tính hình tượng, tính hàm súc và tính cá thể hóa.
a. Tính hình tượng (tính tạo hình – biểu cảm)
Ngôn ngữ nghệ thuật là công cụ để nhà thơ tư duy hình tượng nên nó
có khả năng tạo hình – biểu cảm rất cao. Đây là chức năng đặc thù của ngôn
ngữ văn chương và chức năng này được thể hiện rất rõ nét trong thơ.
Theo Đỗ Hữu Châu, chức năng này của ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện
ở khả năng làm xuất hiện ở người đọc những biểu tượng về thính giác, thị
giác, khứu giác; những biểu tượng về người, về vật, cảnh vật trong tác phẩm
giống như trong cuộc sống.
b. Tính hàm súc (tính nhiều tầng ý nghĩa)
Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ “lời ít, ý nhiều”; “ý tại ngôn
ngoại” tức là loại nghĩa có tính hàm súc.
Theo Đỗ Hữu Châu, tính hàm súc của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở
“khả năng nói được nhiều nhất bằng một số phương tiện ngôn ngữ ít nhất”.
c. Tính cá thể hóa
Theo Đinh Trọng Lạc,tính cá thể hóa của ngôn ngữ nghệ thuật chính là
sự độc đáo của từng tác giả văn chương trong việc sử dụng sáng tạo ngôn ngữ
của dân tộc để thể hiện lối nghĩ, lối cảm của mình đối với hiện thực cuộc
sống. Như vậy, tính cá thể của ngôn ngữ nghệ thuật cho thấy sở thích, sở
trường của từng tác giả.
12
Trong thơ, tính cá thể hóa được thể hiện qua việc nhà thơ sử dụng ngôn
ngữ hiện thực hóa một chủ đề, một cảm hứng ở một thể loại sở trường của tác
giả. Tính cá thể hóatrong thơ còn thể hiện ở việc nhà thơ sử dụng các phương
tiện ngôn ngữ để tổ chức vần điệu, nhịp điệu, tiết tấu, để tạo dựng các biểu
tượng nghệ thuật.
1.2. Cơ sở lý luận văn học
c. Thơ là sự thể hiện cái tôi trữ tình
Theo các nhà lí luận văn học, thơ bao giờ cũng là biểu hiện cái tôi của
tác giả và việc biểu hiện này mỗi thời đại lại có sự khác nhau.
Ví dụ: thơ thời trung đại thường dấu cái tôi cá nhân, đề cao cái tôi công
dân. Còn thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại thường có sự hòa nhập cái tôi
cá nhân và cái ta chung.
Tuy nhiên, ở thời đại nào cũng vậy, thơ chỉ thực sự là thơ khi cái tôi trữ
tình của tác giả mang tính xã hội và nhân loại. Trong một bài thơ, tác giả yêu
hay ghét, vui hay buồn trước một sự kiện nào đó của đời sống hiện thực và
tình cảm đó của tác giả chỉ lay động trái tim con người khi có chung nhịp điệu
tâm hồn với nhiều người trong xã hội.
d. Chất thơ của thơ
Khi nhấn mạnh đặc trưng này của thơ, Tố Hữu đã từng viết: “ Thơ là
cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng đó thì có
những tiếng rộn vang rất đa dạng và tinh tế. Thơ phải chăng là điều ấy, mơ
trong thực, cái vô hình trong cái hữu tình, những màu sắc trong màu trắng ”.
Như vậy, chất thơ của thơ chính là sự tinh diệu của ngôn ngữ và của
tâm hồn thi sĩ.
1.2.2.2. Đặc trưng về nghệ thuật của thơ
a. Thơ biểu hiện bằng biểu tượng
14
Tổng hợp những thành tựu mĩ học, lí luận văn học mácxít, các soạn giả
của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã định ngu tượng thể hiện “đặc trưng
phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn hóa nghệ thuật ”. Theo nghĩa hẹp,
biểu tượng là “một phương thức chuyển hóa của lời nói đặt bên cạnh ẩn dụ,
hoán dụ hoặc một loại hình tượng đặc biệt ” có khả năng truyền cảm lớn . . .
Thơ biểu hiện bằng những biểu tượng mang nghĩa giàu hình ảnh. Đó là
thời gian nghệ thuật nhất định. Đối với những văn bản thơ có giá trị, ngôn
ngữ không chỉ giúp người đọc tiếp nhận, lĩnh hội nội dung, hiện thực được
phản ánh mà nó còn là công cụ giúp nhà thơ đạt được mục đích giáo dục nhận
thức, giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mĩ cho người đọc. Thơ ca là con
đường ngắn nhất để lại ấn tượng tình cảm sâu đậm trong mỗi con người.
1.3. Cơ sở tâm lý học
Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi. Khi vào lớp 1, các em rất
bỡ ngỡ với các hoạt động học tập vốn rất quy củ của nhà trường. Nhưng tâm
lí đó sẽ dần dần được xóa bỏ qua các năm học từ lớp 2 đến lớp 5. Nhìn một
cách tổng thể, chúng ta có thể chỉ ra những đặc điểm tâm lí của học sinh bậc
học này ở các phương diện sau:
1.3.1. Khả năng tri giác của HS tiểu học
Theo Từ điển tiếng Việt (2009), “Tri giác là nhận thức cao hơn cảm
giác, phản ánh trực tiếp và trọn vẹn sự vật, hiện tượng bên ngoài với đầy đủ
các đặc tính của nó ” (Sđd, tr 1280)
Đối với HS tiểu học, năng lực tri giác của các em cao hơn giai đoạn ở
nhà trẻ, mẫu giáo. Tuy vậy, sự ngây thơ và hồn nhiên của trẻ khiến cho tri
giác của HS tiểu học thường gắn chặt với hành động thực tiễn. Bởi vậy những
vật nào các em biết thì sẽ tri giác tốt hơn.
Một đặc điểm đặc biệt liên quan đến tri giác của HS tiểu học đó là
những đối tượng nào gây được cảm xúc với các em thì các em sẽ tri giác về
nó tốt hơn.
16
1.3.2. Năng lực tư duy của HS tiểu học
Tư duy của con người trải qua hai giai đoạn: tư duy cảm tính (tư duy
bằng trực quan sinh động) và tư duy lí tính (tư duy trừu tượng bằng khái
niệm, phán đoán, suy lý).
Quá trình tưởng tượng là quá trình chuyển hóa ngôn ngữ bên ngoài
thành ngôn ngữ bên trong, nhằm tạo ra biểu tượng giàu sức biểu hiện. Để giúp
HS tiểu học tưởng tượng, ngôn ngữ thơ có vai trò đặc biệt quan trọng.
Tiểu kết chương1
Như vậy. ở chương 1, chúng tôi đã lựa chọn một số lý thuyết của các
chuyên ngành: Đại cương ngôn ngữ, Từ vựng – ngữ nghĩa, Lí luận văn học,
Tâm lí học . . .làm cơ sở lý luận cho đề tài khóa luận. Những lý thuyết liên
ngành đó chắc chắn sẽ giúp chúng tôi thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ đã
đề ra.
18
CHƯƠNG 2
MIÊU TẢ KẾT QUẢ THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI NHỮNG CÁCH
DÙNG TỪ NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN THƠ THUỘC
SGK TIẾNG VIỆT 3 Ở TIỂU HỌC
2.1. Xác định đối tượng khảo sát thống kê và tiêu chí phân loại ngữ liệu
Do điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát thống kê
cách dùng từ ngữ trong 30 bài thơ thuộc SGK Tiếng Việt 3, NXB Giáo dục,
sau năm 2000.
Để có thể thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, ở chương này chúng
tôi báo cáo kết quả thống kê, phân loại các từ và biện pháp tu từ ngữ nghĩa
được các nhà thơ sử dụng trong các thi phẩm của họ.
Đối với các từ, chúng tôi dựa vào đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa ngữ pháp
của chúng để tiến hành phân loại ngữ liệu.
Đối với các biện pháp tu từ, chúng tôi chủ yếu thống kê, phân loại việc
sử dụng những biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiêu biểu như: so sánh, nhân hóa,
điệp từ.
Ví dụ:
“Kì Nhông diễn ảo thuật
Thay đổi hoài màu da ”
(Ngày hội rừng xanh, Vương Trọng, tập 2, tr 62 )
Ví dụ:
“Ô tô đang chạy
Con vịt đang bơi ”
(Bé thành phi công, Vũ Duy Thông, tập 2, tr 92)
b. Tỉ lệ từ ghép là 323 / 2362 từ
13,7%
Ví dụ :
‘‘Mùa thu của em
Lá vàng hoa cúc
Như nghìn con mắt
Mở nhìn trời êm ’’
(Mùa thu của em, Quang Huy, tập 1, tr 42)
Trong đó :
- Tỉ lệ từ ghép đẳng lập là 77 / 323 từ
23,8%
Ví dụ :
‘‘Đây con sông xuôi dòng nước chảy
20
Bốn mùa soi từng mảnh mây trời ’’
Ví dụ :
‘‘Mặt nước dập dềnh
21
52,1%
Quanh thuyền sóng lượn’’
(Bàn tay cô giáo, Nguyễn Trọng Hoàn, tập 2, tr 25)
‘‘Trường Sơn dài dằng dặc’’
(Chú ở bên Bác Hồ, Dương Huy, tập 2, tr 16)
‘‘Rừng mơ thay áo mới
Xúng xính hoa đón mời’’
(Đi hội chùa Hương, Chu Huy, tập 2, tr 68)
- Tỉ lệ láy toàn phần là 20 / 71 từ
28,2%
Ví dụ :
‘‘Ngấn nắng thiu thiu
Đậu trên tường trắng’’
(Quạt cho bà ngủ, Thạch Qùy, tập 1, tr 23)
‘‘Rừng cọ ơi ! Rừng cọ
Lá đẹp, lá ngời ngời’’
(Mặt trời xanh của tôi, Nguyễn Viết Bình, tập 2, tr126)
‘‘Quả cầu giấy xanh xanh’’
(Cùng vui chơi, Tập đọc 3, 1980, tập 2, tr 83)
- Tỉ lệ láy phần vần là 14 / 71 từ
“Gió reo gió hát”
(Mưa, Trần Tâm, tập 2, tr 134)
b. Tỉ lệ động từ được sử dụng trong các văn bản thơ là 596 / 2362 từ
Ví dụ :
‘‘Anh nhìn cho tinh mắt
Tôi đá thật dẻo chân
Cho cầu bay trên sân
Đừng để rơi xuống đất’’
(Cùng vui chơi, Tập đọc 3, 1980, tập 2, tr 83)
‘‘Gặp đầm sen nở mà mê hương trời ’’
(Về quê ngoại, Hà Sơn, tập 1, tr 60)
‘‘Mọi người đều bận
23
25,2%
Nên đời rộn vui’’
(Bận, Trinh Đường, tập 1, tr 60)
‘‘Nơi núi cũ xa vời
Bỗng thành nơi gặp gỡ’’
(Đi hội chùa Hương, Chu Huy, tập 2, tr 68)
‘‘Con đường biến mất’’
(Bé thành phi công, Vũ Duy Thông, tập 2, tr 91)
c. Tỉ lệ tính từ được sử dụng trong các văn bản thơ là 212 / 2362 từ
9,0%
Ví dụ :
Tiếng mưa trong rừng cọ’’
(Mặt trời xanh của tôi, Nguyễn Viết Bình, tập 2, tr 125)
‘‘Xe lửa sắp qua, thư cha nói thế ’’
(Cái cầu, Phạm Tiến Duật, tập 2, tr 34)
‘‘Bạn ơi, ngước mắt
Ngước mắt lên trông
Bạn ơi hãy hát’’
(Một mái nhà chung, Định Hải, tập 2, tr 100)
e. Tỉ lệ số từ được sử dụng trong các văn bản thơ là 41 / 2362 từ
1,7%
Ví dụ :
“Mấy ngày mẹ về quê
Là mấy ngày bão nổi”
(Mẹ vắng nhà ngày bão, Đặng Hiển, tập 1, tr 32)
“Hát câu cuối cùng
Một mái nhà chung
Một mái nhà chung”
(Một mái nhà chung, Định Hải, tập 2, tr 100)
“Hai chiếc giường ướt một
Ba bố con nằm chung”
(Mẹ vắng nhà ngày bão, Đặng Hiển, tập 1, tr 32)
“Như nghìn con mắt
25