Tìm hiểu những lỗi thường gặp trong các bài văn miêu tả của học sinh tiểu học - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
---------------------------------------

HOÀNG THỊ NGA

TÌM HIỂU NHỮNG LỖI THƯỜNG GẶP
TRONG CÁC BÀI VĂN MIÊU TẢ
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học
Th.S. PHAN THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2012


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của
rất nhiều người. Đó là các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô
giáo trong hội đồng bảo vệ khóa luận, các thầy cô giáo trường Tiểu học thị
trấn Sóc Sơn. Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới tất cả
các thầy cô giáo, đặc biệt tới cô giáo Phan Thị Thạch- người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi thực hiện đề tài khóa luận “Tìm hiểu những lỗi thường gặp
trong các bài văn miêu tả của học sinh Tiểu học”.

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2012
Sinh viên


HSTH : Học sinh Tiểu học
SGK

: Sách giáo khoa

SV

: Sinh viên

TH

: Tiểu học


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bậc học Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Giáo dục Tiểu học có vai trò quan trọng, giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam XHCN tương lai.
Đáp ứng yêu cầu đó, các môn học ở Tiểu học được xây dựng theo quan
điểm tích hợp nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh và hình
thành cho học sinh các kĩ năng học tập. Cùng với các môn học khác, môn
tiếng Việt ở Tiểu học nhằm giúp học sinh có thể vận dụng thành thạo tiếng
Việt trong việc tạo lập và lĩnh hội văn bản; giúp các em hoàn thành tốt nhiệm
vụ của nhân vật giao tiếp trong vai người nói (người viết) hoặc người nghe
(người đọc).
Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong dạy học Tiếng Việt.

hành, Nxb Giáo dục, năm 1997.
- Cao Xuân Hạo (chủ biên), Lý Tùng Hiếu, Nguyễn Kiên Trường, Võ
Xuân Trang, Trần Thị Tuyết Mai, Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục, Nxb…
- Lê Phương Nga, Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học, Nxb Giáo dục, năm
1998.
- Phan Ngọc, Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, Nxb….
Trong các giáo trình “Tiếng việt thực hành”, các tác giả đã dành một
phần nhỏ đề cập đến các lỗi về chữ viết, dùng từ, đặt câu và lỗi tổ chức đoạn
văn nhằm giúp SV của các trường ĐH khắc phục những lỗi thường mắc để có
thể nói đúng, viết đúng bằng Tiếng việt. Trong các công trình này, hiện tượng

2


mắc lỗi ở các bài văn của HSTH không thuộc đối tượng nghiên cứu của các
nhà khoa học.
Ở cuốn sách “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục”, Cao Xuân Hạo và
các tác giả đã trình bày rất cụ thể các lỗi về câu và cách khắc phục những lỗi
đó. Tuy nhiên ở trong các công trình này, các nhà khoa học mới chỉ đề cập
đến những lỗi ngữ pháp thường gặp trên các phương tiện truyền thông của
thành phố Hồ Chí Minh.
Trong công trình nghiên cứu có tiêu đề “Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt
và chữa lỗi chính tả”, Phan Ngọc đã đưa ra một số mẹo chữa lỗi chính tả ở
những chữ có phụ âm đầu dễ gây lẫn trong HS. Tác giả đã tập trung đưa ra
một số mẹo giúp người viết khắc phục sự nhầm lẫn khi viết các chữ trong 6
cặp phụ âm sau: l/ n, ch/ tr, s/ x, gi/ d, r/ gi/ d, v/ r.
Ngoài ra, trong công trình đã nêu tên ở trên, Phan Ngọc có đề cập đến
hiện tượng viết sai một số phụ âm cuối, nguyên nhân và cách sửa chữa. Những
mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả trong viết từ Hán Việt mà Phan
Ngọc đã trình bày trong công trình khoa học này rất thiết thực. Tuy vậy những

phẩm về các lỗi sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, chúng tôi cho
rằng: ở đó còn có những khoảng trống để chúng ta tiếp tục khám phá, tìm hiểu.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các lỗi trong bài văn miêu tả của học sinh Tiểu học.
4. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm trang bị để bản thân có những
hiểu biết đầy đủ về các chuẩn mực ngôn ngữ trong hệ thống Tiếng Việt, nắm
vững những quy tắc sử dụng để tạo lập các văn bản, trong đó có văn bản miêu
tả. Trên cơ sở đó, chúng tôi tìm ra những cách phát hiện lỗi thường gặp trong
viết văn miêu tả của HS lớp 4, 5; xác định nguyên nhân mắc lỗi và hướng dẫn
các em có cách sửa lỗi thiết thực.

4


5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tổng hợp những vấn đề lí luận về hệ thống chuẩn mực ngôn ngữ,
đồng thời tổng hợp kết quả nghiên cứu về các loại lỗi thường gặp trong giao
tiếp hoặc trong bài văn của HSTH.
5.2 Thống kê, khảo sát các loại lỗi thường gặp trong các bài văn miêu
tả của HSTH.
5.3 Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để phân tích các nguyên
nhân mắc lỗi của HS; kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học
đề xuất cách thức giúp HS khắc phục từng loại lỗi.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Bám sát đối tượng nghiên cứu, thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu để
đạt được những mục đích đã xác định trong khóa luận.
6.2 Giới hạn phạm vi thống kê, khảo sát
Trong khuôn khổ phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, tập trung thống kê

Muốn phát hiện các lỗi trong bài văn miêu tả của HS lớp 4, 5 chúng ta
cần phải dựa vào các chuẩn mực ngôn ngữ trong hệ thống và việc chuẩn hóa
ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của người Việt.
1.1.1 Chuẩn mực ngôn ngữ (gọi tắt là chuẩn)
Trong “ Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, khái niệm chuẩn
của ngôn ngữ được giải thích là:
“Toàn bộ các phương tiện, các quy tắc thống nhất và ổn định về cách
sử dụng ngôn ngữ, được quy định và phát triển trong xã hội và được thể hiện
trong lời nói cá nhân” (Sđd, tr.53).
Như vậy, cơ sở đánh giá một phương tiện ngôn ngữ, một quy tắc ngôn
ngữ đạt chuẩn là nó phải được đại đa số các thành viên trong cộng đồng ngôn
ngữ chấp nhận là đúng; nó phải được mọi người tin tưởng sử dụng, bởi vì nó
đã được thử thách trong đời sống của cộng đồng ở nhiều thế hệ. Những chuẩn
mực ngôn ngữ khi được cá nhân dùng đúng lúc sẽ góp phần diễn đạt trong
sáng, mạch lạc một nội dung giao tiếp.
Những hiểu biết về chuẩn ngôn ngữ là căn cứ cơ bản để ta có thể phân
biệt trường hợp dùng đúng với trường hợp dùng sai chuẩn mực. Tất cả những
trường hợp sử dụng ngôn ngữ của cá nhân có sự xa lạ với mọi người trong
cộng đồng, sự hiện diện của nó khiến cho lời nói trở thành tối nghĩa, lủng
củng, đều bị coi là mắc lỗi.
1.1.2 Chính âm
Theo các tác giả “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học”, chính âm là:
“cách phát âm phù hợp với chuẩn phát âm đã được thừa nhận trong một ngôn
ngữ, trong hệ thống các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ đó. ( Tr. 47)

7


Chính âm trước hết thể hiện ở cách phát âm các âm tiết, các đơn vị phát
âm tự nhiên nhỏ nhất trong lời nói. Nó được tạo thành nhờ sự kết hợp các âm

Đây là một khái niệm được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau. Có thể chọn ra đây một số cách định nghĩa tiêu biểu:
- Trong cuốn giáo trình “Từ vựng học Tiếng Việt hiện đại”, Nxb Giáo
dục, 1968, Nguyễn Văn Tu cho rằng:
“Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang
nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp. Chúng ta gọi từ là các đơn vị trung tâm, vì từ
có đầy đủ tiêu chuẩn của đơn vị ngôn ngữ cơ bản và là đơn vị quan trọng
nhất”.
- Đỗ Hữu Châu, 1986, khi xem xét “ Các bình diện của từ và từ Tiếng
Việt”, lại đưa ra cách hiểu về từ như sau:
“Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, có ý
nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức ( hoặc kiểu cấu tạo) nhất định,
tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và
nhỏ nhất để cấu tạo câu”. (Tr.139)
1.1.4.2 Đặc điểm của từ
Từ những định nghĩa trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau đây
của từ:
a. Từ là đơn vị được cấu tạo bởi hai mặt: hình thức và ý nghĩa.
Hình thức biểu đạt của từ có thể là ngữ âm, cũng có thể là chữ viết.
Ý nghĩa của từ Tiếng Việt là một hợp thể các thành phần nghĩa có thể
phân lập thành: nghĩa ngôn ngữ và nghĩa lời nói.
Nghĩa ngôn ngữ của từ là phần nghĩa do xã hội quy ước mà thành. Nó
bao gồm ý nghĩa từ vựng( nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái) và
ý nghĩa ngữ pháp. Trong hệ thống từ vựng, các thực từ có cả hai thành phần ý
nghĩa ngôn ngữ, còn các hư từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp.

9


Nghĩa lời nói là phần ý nghĩa được cá nhân sáng tạo trong một hoàn

các thành phần nghĩa của từ như: nghĩa ngôn ngữ (nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ
pháp) và nghĩa lời nói.
Trước hết, việc sử dụng thực từ vào giao tiếp phải đúng với ý nghĩa từ
vựng (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái). Có thể thấy rõ tác
hại không nhỏ của việc sử dụng sai nghĩa từ vựng của từ trong giao tiếp ở ví
dụ sau:
VD2:
B- Là con gái, con nên ăn nói cho nhỏ mọn.
Ở phát ngôn trên, người mẹ định dặn con ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng vì
dùng từ không đúng với ý nghĩa cần biểu đạt nên nội dung thông báo của câu
bị lệch lạc.
Mỗi một từ mang trong mình một ý nghĩa ngữ pháp nhất định. Nhờ đó
từ có khả năng kết hợp với các từ khác theo nghĩa mối quan hệ ngữ pháp để
tạo ra cụm từ đẳng lập, cụm từ chính- phụ, cụm chủ- vị. Vì thế, khi dùng từ,
chúng ta cần phải chú ý dùng đúng ý nghĩa ngữ pháp của nó để thiết lập chính
xác các quan hệ ngữ pháp, đảm bảo cho việc diễn đạt trong sáng, mạch lạc nội
dung ngữ nghĩa của câu trong hoạt động giao tiếp.
c. Dùng từ phải đúng với ngữ cảnh
Đây là yêu cầu cá nhân khi sử dụng từ trong giao tiếp phải chú ý đến
hoàn cảnh giao tiếp gắn với mục đích giao tiếp cụ thể.
d. Dùng từ phải đúng với phong cách chức năng ngôn ngữ
Phong cách chức năng ngôn ngữ được hiểu là các kiểu diễn đạt được
hình thành trong một phạm vi giao tiếp của đời sống xã hội nhằm thực hiện
chức năng của ngôn ngữ trong phạm vi giao tiếp đó.
Dùng từ đúng phong cách chức năng ngôn ngữ là một trong những yêu
cầu bắt buộc đối với người sử dụng. Điều đó được sử thể hiện ở chỗ: trong
hoạt động giao tiếp, người nói (người viết) phải lựa chọn, sử dụng từ chính
xác để tạo ra những kiểu diễn đạt phù hợp với từng phạm vi giao tiếp.

11

chính C- V. Hai thành phần đó tạo nên một nòng cốt C-V duy nhất trong câu.

12


Ngoài câu đơn chuẩn mực, các nhà ngữ pháp còn giới thiệu các biến
thể ngữ pháp của câu đơn như: câu đơn mở rộng, câu đơn rút gọn và câu đơn
đặc biệt. Các biến thể ngữ pháp đó được xác định là những câu đúng, bởi
chúng diễn đạt trọn vẹn, trong sáng, mạch lạc một nội dung thông báo hoặc
một nội dung biểu cảm trong một tình huống giao tiếp cụ thể.
Những hiểu biết về các kiểu câu đơn được phân chia theo cấu tạo ngữ
pháp là căn cứ để chúng ta phát hiện các trường hợp mắc lỗi câu do sử dụng
kết cấu cú pháp không hoàn chỉnh.
VD3:
Qua tắt đèn đã cho chúng ta thấy cuộc sống cực khổ của người nông
dân Việt Nam trước cách mạng.
Câu ở VD trên là một câu sai do thiếu chủ ngữ (tức là thiếu đi đối tượng
thông báo). Chính cái kết cấu ngữ pháp câu không hoàn chỉnh đã làm cho nó
không thể đảm nhiệm được chức năng thông báo một nội dung giao tiếp.
a2. Câu ghép
Câu ghép là kiểu câu được cấu tạo từ hai kết cấu C- V nòng cốt trở lên,
mỗi kết câu C- V làm thành một vế, các vế được ghép với nhau theo quan hệ
đẳng lập hoặc chính phụ.
Các nhà ngữ pháp tiếng Việt đã phân chia câu ghép được chia thành:
câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.
Câu ghép đẳng lập là câu ghép có từ hai vế trở lên, trong đó các vế có
quan hệ ngang bằng nhau, không phụ thuộc vào nhau.
Câu ghép chính phụ là câu ghép gồm hai nòng cốt đơn ghép lại, mỗi
nòng cốt đơn là một vế của câu ghép. Trong câu ghép chính phụ bao giờ cũng
có một vế phụ, một vế chính.

“Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, bao gồm một số câu liên kết
với nhau, được xây dưng theo một cấu trúc nhất định, thực hiện một cách

14


tương đối trọn vẹn một tiểu chủ đề của văn bản và được tách ra bằng dấu
hiệu hình thức: Bắt đầu bằng chữ cái viết hoa và thụt đầu dòng, kết thúc bằng
chỗ chấm xuống dòng”. (Bùi Minh Toán- Ngữ pháp văn bản Tiếng Việt,
ĐHSP Hà Nội 2, 1992)
1.1.6.2 Đặc điểm của đoạn văn
a. Về nội dung
Đoạn văn thường phản ánh một chủ đề bộ phận của văn bản.
b. Về hình thức
Đoạn văn thường được cấu tạo từ một đến nhiều câu văn. Các câu phải
gắn kết với nhau theo liên kết hình thức hoặc liên kết chủ đề.
Đoạn văn được định vị trong một khổ viết nằm giữa hai dấu chấm
xuống dòng.
1.1.6.3 Chức năng của đoạn văn
Trong văn bản, đại đa số đoạn văn có chức năng thông báo một khía
cạnh của chủ đề. Bên cạnh đó cũng có những đoạn văn chỉ giữ chức năng liên
kết các đoạn trong mỗi bài.
1.1.7 Văn bản
1.1.7.1 Khái niệm
“ Văn bản là một đơn vị ở trên bậc câu bao gồm nhiều câu mà giới hạn
thấp nhất cuả nó là hai câu ( trường hợp văn bản chỉ có một câu là trường
hợp đặc biệt), các câu này liên kết với nhau thành một chỉnh thể có tính hoàn
chỉnh về nội dung và kết cấu, đồng thời được bày trí bằng những phương tiện
hình thức nhất định”. (Bùi Minh Toán, Phan Thị Thạch- giáo trình Làm văn,
ĐHSP Hà Nội 2)

câu. Đây chính là cơ sở hiện thực cho mạch lạc và liên kết câu trong văn bản.
f. Tính trọn vẹn, tương đối của văn bản
Người ta có thể xác định đặc trưng này của văn bản nhờ yếu tố định
biên ở đầu vào (yếu tố mở đầu) và đầu ra (yếu tố kết thúc) của văn bản.

16


Đối tượng này đảm bảo cho văn bản có tính hoàn chỉnh cả về nội dung
lẫn hình thức.
Những cơ sở lí luận về đoạn văn của văn bản là căn cứ để chúng ta có thể
phát hiện những lỗi về tổ chức đoạn văn, bài văn miêu tả của học sinh lớp 4,5.
1.2 Cơ sở tâm lí học
Học sinh Tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi. Với học sinh lớp 1, lần
đầu tiên đến trường phổ thông, các em có nhiều bỡ ngỡ khi phải chuyển đổi từ
hoạt động vui chơi là chính sang môi trường học tập nề nếp. Tâm lí đó dần
được xóa bỏ ở các lớp 2, 3, 4, 5. Nhận xét về đặc điểm tâm lí của HSTH,
N. X. Leytex đã viết: “Tuổi Tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri
thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế. Chức năng trên được thực hiện
thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này- sự tuân thủ tuyệt đối
vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo), sự mẫn cảm,
sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi và ngây thơ đối với các đối tượng mà
các em được tiếp xúc” (Bùi Văn Huệ, Tâm lí Tiểu học, Nxb Giáo dục,
tr. 102)
Cùng với sự phát triển của tư duy, đời sống tình cảm của HSTH cũng
dần dần phong phú hơn. Chúng ta có thể tìm hiểu đặc điểm tâm lí lứa tuổi của
HSTH thông qua năng lực tư duy và đời sống tình cảm của các em.
HSTH giai đoạn lớp 4, 5 khi quan sát đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng
cho sự vật, biết phân biệt các sắc thái của chi tiết để đi đến so sánh, tổng hợp,
có khả năng tri giác sự vật như một chỉnh thể, có mụch đích và phương hướng



CHƯƠNG 2
MIÊU TẢ KẾT QUẢ THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI LỖI TRONG
CÁC BÀI VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1 Xác định tiêu chí khảo sát, thống kê các lỗi trong những bài văn miêu
tả của HSTH
Dựa vào khái niệm về chuẩn mực ngôn ngữ ở các phương diện: viết
chữ (chính tả), dùng từ, dùng câu, tổ chức đoạn văn hoặc văn bản, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát 190 bài văn miêu tả của HS lớp 4, 5 của trường Tiểu
học thị trấn Sóc Sơn, Hà Nội. Căn cứ vào các chuẩn mực và vào thực tế viết
văn miêu tả của HS lớp 4, 5 ở một trường Tiểu học, chúng tôi phân loại các
lỗi đã thống kê được thành 4 loại như sau:
- Lỗi về chữ viết (Lỗi chính tả)
- Lỗi dùng từ ngữ
- Lỗi câu
- Lỗi về tổ chức văn bản, đoạn văn bản.
2.2 Miêu tả kết quả thống kê, phân loại lỗi trong các bài văn miêu tả của
HS lớp 4, 5 ở Tiểu học
2.2.1 Lỗi chính tả
Khảo sát 190 bài văn miêu tả của HS thuộc lớp 4 và lớp 5, ở một ngôi
trường bản thân về thực tập Sư phạm, chúng tôi thu thập được 732 lỗi chính
tả. Những lỗi đó được phân chia thành hai loại chính là: viết sai phụ âm đầu
và viết sai một trong những thành tố ngữ âm thuộc bộ phận vần của âm tiết.
2.2.1.1 Lỗi viết sai phụ âm đầu
Số trường hợp viết sai phụ âm đầu chiếm tỉ lệ 224/ 732  30,6. Loại lỗi
này thường tập trung vào các phụ âm đầu như: l/ n, l/ nh, s/ x, x/ ch, g/ ng, r/
d/ gi, ch/ tr, nh/ d, d/ đ… Tỉ lệ vi phạm lỗi khi viết các âm tiết có phụ âm đầu
nêu trên trong HS không đồng đều.


VD7: Bố em làm trong nghành giáo dục.
- Trường hợp viết chữ ngh thành chữ ng, gh chiếm tỉ lệ 7/224  3,13%
VD8: Bà nội em là người hay lo ngĩ.
d. Viết sai cặp phụ âm /z/, /

/

- Trường hợp viết chữ d thành chữ r chiếm tỉ lệ 10/ 224  4,45%
VD9: Làn ra của cô Linh rất hồng hào.

20


- Trong khi ấy, số trường hợp viết chữ r thành chữ d hoặc gi chiếm tỉ lệ
8/ 224  3,57%.
VD10: Đến mùa xuân cây bàng gia rất nhiều lộc xanh.
- Trường hợp viết chữ d thành chữ gi chiếm tỉ lệ 7/224  3,13%.
VD11: Nhà bà ngoại em có 4 gì, nhưng em quý nhất gì Hoa.
e. Viết sai cặp phụ âm /c/, /

/

- Trường hợp viết chữ ch thành chữ tr chiếm tỉ lệ 3/224  1,33%
VD12: Ông em rất thích xem hát trèo.
- Trong khi ấy, số trường hợp viết chữ tr thành chữ ch chiếm tỉ lệ 6/224
 2,67%.

VD13: Hai cây chúc bố trồng giờ đã cao gần bằng em.
f. Viết sai cặp phụ âm /z/, / /
- Trường hợp viết chữ nh thành chữ d chiếm tỉ lệ 3/224  1.33%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status