Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, thời kì xây dựng nền kinh tế tri thức, ...nên
ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
"Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài[10, 107]. Mà
trong hệ thống giáo dục quốc dân thì "giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh
hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để tiếp tục học trung học cơ sở[5,
30]. Do đó, bậc tiểu học là bậc học rất quan trọng và nó có ảnh hưởng trực tiếp
đến tương lai đất nước.
Trong sự phát triển nhân cách học sinh, vấn đề động cơ là vấn đề trung
tâm trong cấu trúc của nhân cách. Và chiều hướng phát triển của nhân cách
cũng phụ thuộc rất nhiều vào động cơ. Do đó, để hình thành cho trẻ em những
cơ sở ban đầu của nhân cách con người Việt Nam hiện đại thì việc nghiên cứu
động cơ và việc hình thành động cơ học tập đúng đắn cho học sinh là một điều
rất cần thiết.
Động cơ học tập thúc đẩy con người suy nghĩ và hành động học tập,
vượt qua những khó khăn để đạt được mục đích học tập. Động cơ học tập khó
tự nhiên mà có, nó phải được hình thành chính trong quá trình hoạt động học
tập của người học.
Trong thực tế học tập, nhiều học sinh đạt kết quả cao như nhau nhưng
lại được thúc đẩy bằng những động cơ học tập khác nhau như: do lòng ham
học hỏi, do mong muốn đươc khen, được thưởng, mong muốn cha mẹ vui lòng
hay mong mình sẽ giỏi hơn bạn,... nhưng vấn đề là cần giáo dục cho học sinh
những động cơ đúng đắn, những động cơ gắn liền với nội dung dạy học, làm
cho những động cơ đó chiếm vị trí chủ đạo trong cấu trúc động cơ học tập của
1
3
Nội dung
Chương 1. Cơ sở lí luận
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khoá
luận
Động cơ học tập là một trong những vấn đề quan trọng của tâm lí học
và giáo dục học. Nó là yếu tố thúc đẩy hoạt động học tập và quyết định chất
lượng của hoạt động này. Việc nghiên cứu động cơ học tập có ý nghĩa quan
trọng cả về lí luận và thực tiễn. Nó giúp ta xác định được phương tiện, phương
pháp tác động có hiệu quả đến hoạt động học tập của con người. Do đó, động
cơ học tập đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tâm lí học trong nước và trên
thế giới.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu động cơ học tập của học sinh ở
nước ngoài
Vấn đề động cơ đã được nhiều nhà tâm lí học trên thế giới nghiên cứu
như: B.G. Ananhiép, X.L. Rubinstein, A.N. Lêônchiev, L.I. Bozovic,...
X.L. Rubinstein đã mô tả các loại động cơ học tập của học sinh biểu
hiện ra bên ngoài thông qua hứng thú học tập của học sinh.
A.N. Lêônchiev với công trình: Sự phát triển động cơ học tập của học
sinh.
L.I. Bozovic cùng với M.G. Mozova và L.S. Slavina đã tiến hành nghiên
cứu Sự phát triển động cơ học tập của học sinh Liên Xô bắt đầu từ trẻ mẫu
giáo cho đến học sinh lớp cuối cấp phổ thông trung học.
A.K. Markova không chỉ phân tích động cơ học tập là gì, phân loại nó
mà còn chỉ ra những biểu hiện của động cơ học tập, những phương pháp
nghiên cứu động cơ học tập của học sinh, giúp giáo viên có thể nhận biết,
nghiên cứu và giáo dục động cơ học tập của học sinh nhằm nâng cao chất
những động cơ thứ yếu.
Như vậy, động cơ học tập của học sinh đã được nghiên cứu tương đối
sâu sắc cả về lí luận và thực tiễn. Và qua đó, ta cũng có được nhiều tư liệu
5
quý. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu động cơ học tập của học sinh tiểu học vẫn
chưa nhiều. Đề tài nghiên cứu của tôi sẽ góp phần làm rõ thêm động cơ học
tập của học sinh lớp 3 là giai đoạn trung gian của lứa tuổi học sinh tiểu học.
1.2. Một số quan điểm về động cơ trong tâm lí học
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc
đẩy người ta suy nghĩ và hành động [7, 334].
Trong tâm lí học, động cơ là một vấn đề quan trọng và phức tạp. Về mặt
lí luận có nhiều quan điểm khác nhau về động cơ tâm lí người. Để hiểu rõ hơn
ta điểm qua những quan điểm về động cơ của hai dòng phái tâm lí: dòng phái
tâm lí học phương Tây và dòng phái tâm lí học Mác xít.
1.2.1. Quan niệm về động cơ của dòng phái tâm lí học phương Tây
Các nhà tâm lí học hành vi (J. Watson, B. Skinner, E. Tolmal,...) đưa ra
mô hình kích thích - phản ứng coi kích thích là nguồn tạo ra phản ứng - là
động cơ. Họ giải thích nguồn gốc của động cơ hành vi là những lực trừu tượng
khó nhận biết, là bản năng vô thức.
Theo thuyết phân tâm học (S. Freud, A. Atler,...) lại cho rằng: động lực
thúc đẩy hoạt động của con người là vô thức, nguồn gốc vô thức là những bản
năng nguyên thuỷ mang tính chất sinh vật và nhấn mạnh vai trò của các xung
năng tính dục.
Các nhà tâm lí học cấu trúc (K. Lewin, K. Lissner,...) xem động cơ chỉ
là sự tác động qua lại giữa những nội lực ở bên trong với trường lực ở bên
ngoài. Các nhà tâm lí học cấu trúc hiểu tâm lí người như là một trường lực nào
đó và tất cả những thay đổi của động cơ được họ giải thích như là sự tương tác
trình nghiên cứu về động cơ hoạt động con người ra đời.
L.X. Rubinstêin đã xây dựng những luận điểm chung về động cơ hoạt
động thông qua việc phân tích những dạng hoạt động cụ thể. Tuy nhiên, vấn
đề động cơ chủ yếu vẫn trên bình diện lí luận.
A.G. Seev không nêu lên động cơ là gì mà chỉ nêu lên vai trò của động
cơ. Ông còn phát hiện ra động cơ quá trình và động cơ kết quả.
7
A.N. Lêônchiev đã khởi thảo một lí thuyết chung về động cơ. ở đó, tác
giả đã xem xét vấn đề động cơ xuất phát từ việc phân tích quá trình tạo thành
ý thức con người trong sự phát sinh cá thể. Ông quan tâm đặc biệt đến mối
quan hệ giữa động cơ và nhu cầu. Theo ông, động cơ như là đối tượng của
hoạt động trong đó những nhu cầu của con người được cụ thể hoá. Hay theo
A.N. Lêônchiev không phải nhu cầu, không phải sự trải nghiệm về nhu cầu là
động cơ của hoạt động, mà động cơ là một khách quan mà trong đó nhu cầu
tìm thấy bản thân mình trong những điều kiện nhất định cái khách quan ấy
làm cho hoạt động thành hoạt động có đối tượng và là cái hướng hoạt động
vào một kết quả nhất định. [1, 305].
Và A.N. Lêônchiev cho rằng: động cơ hoạt động của con người cực kì
đa dạng nảy sinh từ những nhu cầu, hứng thú khác nhau, một hoạt động có thể
có nhiều động cơ thúc đẩy. Và trong cấu trúc của hoạt động, các động cơ này
được sắp xếp theo một hệ thống có thứ bậc.
Ông chia hệ động cơ thành: động cơ tạo ý và động cơ kích thích. Và
theo ông, động cơ có hai chức năng. Đó là: thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động và
tạo ra cho hoạt động có ý của chủ thể.
Những luận điểm trên đây của nhà tâm lí học A.N. Lêônchiev về vấn đề
động cơ hoạt động chủ yếu vẫn trên bình diện lí luận. Tuy nhiên, nó là cơ sở
cở cho các công trình nghiên cứu thực nghiệm sau này.
ra.[9, 148].
Thông thường, các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể.
Trong khi đó, hoạt động học tập hướng vào làm thay đổi chủ thể của hoạt
động này. Hoạt động học tập là hoạt động tiếp thu (lĩnh hội) những nội dung
và hình thức lí luận của tri thức và kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với chúng [3].
Để hình thành hoạt động học tập cho học sinh cần hình hành động cơ
học tập, hình thành mục đích học tập và hình thành các hành động học tập.
Hoạt động học tập có đối tượng là tri thức khoa học, đối tượng này là
nơi hiện thân của động cơ học tập. Hay nói cách khác động cơ học tập của học
sinh được hiện thân ở tri thức, kĩ năng... Đối tượng học tập được cụ thể hoá ở
9
nội dung học tập của học sinh. Nội dung đó chính là các khái niệm khoa học.
Và học sinh lĩnh hội các khái niệm khoa học thông qua việc giải quyết các
nhiệm vụ học tập. Nhiệm vụ học tập là hình thức cụ thể hoá nội dung học
thành mục đích học tập và phương tiện đạt mục đích đó. Việc giải quyết các
nhiệm vụ học tập tạo cho mỗi học sinh một năng lực mới thể hiện ở kết quả
học tập.
Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập bằng các hành động học tập như:
hành động phân tích, hành động mô hình hoá, hành động cụ thể hoá và hành
động kiểm tra đánh giá. Như vậy, muốn tạo ra sự phát triển tâm lí của học sinh
nói chung và hình thành động cơ học tập nói riêng trong học tập phải lấy hành
động học tập của các em làm cơ sở.
1.4. Động cơ học tập của học sinh
1.4.1. Khái niệm động cơ học tập
Khi con người có nhu cầu học tập, xác định được đối tượng cần đạt thì
xuất hiện động cơ học tập.
Các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng : động cơ học tập bao gồm
chất bên ngoài. Khi ở bên ngoài, nó phải hiện thân vào một thực thể khác, là
đối tượng hoạt động học tập. Trên cùng một đối tượng học tập có thể "bám
vào" nhiều động cơ khác nhau.
Hai là, động cơ học tập được biểu hiện ở nhận thức, thái độ, hành động.
Ba là, động cơ học tập chỉ được hình thành chính trong quá trình học
sinh giải quyết những nhiệm vụ học tập.
Bốn là, hoạt động học tập của học sinh được thúc đẩy bởi nhiều động
cơ. Các động cơ này tạo thành cấu trúc xác định có thứ bậc của các kích thích,
trong đó có một số động cơ là chủ đạo, là cơ bản, một số động cơ khác là phụ,
là thứ yếu.
1.4.2. Phân loại động cơ học tập
Trong các công trình nghiên cứu của mình, nhiều nhà tâm lí học đều
khẳng định rằng: hoạt động học tập của học sinh được thúc đẩy bằng một hệ
11
thống các động cơ. Trong đó có những động cơ mạnh giữ vai trò chủ đạo và
cũng có những động cơ khác giữ vai trò thứ yếu. Tuỳ theo tiêu chí phân loại
mà các nhà tâm lí học chia động cơ học tập thành các loại khác nhau:
Theo L.I. Bozovic, A.K. Pusaviski,... động cơ học tập được chia thành
hai loại: động cơ mang tính xã hội và động cơ mang tính nhận thức.
Tán thành quan điểm trên, A.K. Markova chia động cơ học tập thành
hai nhóm, mỗi nhóm lại chia thành những động cơ cụ thể:
Nhóm 1: những động cơ nhận thức gồm:
+ Những động cơ nhận thức rộng
+ Những động cơ học tập - nhận thức
+ Những động cơ tự đào tạo
Những động cơ này kích thích, thúc đẩy học sinh vượt qua mọi khó
khăn và tích cực nhận thức, rèn luyện và sáng tạo.
lấy tri thức đó. Mỗi lần giành được cái mới ở đối tượng học thì các em cảm
thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức được thực hiện một phần. Trường hợp
này nguyện vọng hoàn thiện tri thức được hiện thân ở đối tượng hoạt động. Do
đó, ta gọi loại động cơ học tập này là động cơ hoàn thiện tri thức.
Hoạt động được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức thường không
chứa đựng xung đột bên trong. Nó cũng có thể xuất hiện những sự khắc phục
khó khăn trong tiến trình học tập và đòi hỏi phải có sự nỗ lực ý chí. Nhưng nó
là những nỗ lực hướng vào khắc phục những trở ngại bên ngoài để đạt được
nguyện vọng đã nảy sinh, chứ không phải hướng vào đấu tranh với chính bản
thân mình. Do đó, chủ thể của hoạt động học tập thường không có những căng
thẳng tâm lí. Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ này là tối ưu theo
quan điểm sư phạm.
Hai là, những động cơ quan hệ xã hội
Thuộc về loại động cơ quan hệ xã hội, chúng ta thấy học sinh say sưa
học tập nhưng sự say sưa đó lại vì sức hấp dẫn, lôi cuốn của một cái khác ở
ngoài mục đích trực tiếp của việc học tập. Những cái đó lại chỉ đạt được trong
13
điều kiện mà các em chiếm lĩnh được tri thức khoa học. Những thí dụ về
những cái khác đó là: thưởng và phạt, đe doạ và yêu cầu, thi đua và áp lực,
khêu gợi lòng hiếu danh, mong đợi hạnh phúc và mong ước tương lai, cũng
như sự hài lòng của bố mẹ, sự khâm phục của bạn bè,... Đây là những mối
quan hệ khác nhau của các em. ở đây những tri thức, kĩ năng, thái độ, hành
vi,...đối với đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ là phương tiện để
đạt mục tiêu cơ bản khác. Trong trường hợp này, những mối quan hệ xã hội
của cá nhân được hiện thân ở đối tượng học tập. Do đó, người ta gọi loại động
cơ này là động cơ quan hệ xã hội.
Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở một mức
Tâm lí học hoạt động quan niệm rằng: Đã là hoạt động tâm lí thì phải
có động cơ phù hợp. Không thể có một hoạt động nào không có động cơ;
hoạt động không động cơ không phải hoạt động thiếu động cơ mà là hoạt
động với một động cơ ẩn giấu về mặt chủ quan và về mặt khách quan[8, 41].
Theo A.N. Lêônchiev thì động cơ học tập của trẻ như là một sự định
hướng của các em đối với việc lĩnh hội tri thức, với việc giành điểm tốt và sự
khen ngợi của cha mẹ, giáo viên,...
Động cơ có hai chức năng là thúc đẩy và hướng dẫn hoạt động, tạo cho
hoạt động có ý của chủ thể.
Hoạt động học tập của học sinh được thúc đẩy bằng một hệ thống động
cơ khác nhau. Trong đó có những động cơ kích thích và có những động cơ tạo
ý. Vì vậy động cơ học tập có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động học tập. Do
đó, nhiệm vụ của người giáo viên là hình thành động cơ học tập cho chính học
sinh của mình, đặc biệt là hình thành động cơ tạo ý cho các em. Và đây cũng
chính là một trong những vấn đề trung tâm trong tâm lí học trẻ em và sư
phạm, là một nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường phổ thông hiện nay.
1.4.4. Hình thành động cơ học tập cho học sinh
Động cơ học tập có vai trò rất quan trọng trong hoạt động học tập của
các em nói riêng và hình thành nhân cách con người nói chung. Nên hình
15
thành động cơ học tập cho học sinh là một trong những vấn đề trung tâm của
quá trình dạy học.
Động cơ học tập của các em không phải có sẵn mà cũng không thể áp
đặt, mà phải được hình thành dần dần chính trong quá trình học sinh ngày
càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiển của
thầy. Nếu trong quá trình dạy học, thầy luôn thành công trong việc tổ chức
cho học sinh phát hiện những điều mới lạ (cả bản thân tri thức và cách thức
rộng lớn và muôn hình muôn vẻ. Muốn hình thành động cơ học tập trước hết
hình thành ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập.
Bởi vì, khi nhu cầu gặp đối tượng thì nhu cầu trở thành động cơ.
1.5. Học sinh lớp 3
Bậc tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi,
được thực hiện trong năm năm học, từ lớp 1 đến lớp 5. Trong giai đoạn này,
hoạt động học là hoạt động chủ đạo đối với sự phát triển nhân cách của học
sinh. Hoạt động học tập của học sinh tiểu học được phân chia làm hai giai
đoạn.
Giai đoạn thứ nhất (học sinh lớp 1, 2, 3): hoạt động học tập bắt đầu
được hình thành từ lớp 1 và định hình ở lớp 3, hình thành ở học sinh cách học
với những thao tác trí óc cơ bản. Giai này còn gọi là giai đoạn học tập cơ bản.
Giai đoạn 2 (học sinh lớp 4, 5): hoạt động học tập tiếp tục phát triển,
học sinh sử dụng cách học để học các môn học. Giai đoạn này còn gọi là giai
đoạn học tập sâu.
Lớp 3 như là một nhịp cầu nối giai đoạn 1 với giai đoạn 2. Cuối lớp 3
là khoảng thời gian chuyển tiếp từ giai đoạn học tập cơ bản sang giai đoạn học
tập sâu. Hoạt động học tập của học sinh lớp 3 diễn ra như thế nào và theo đó là
sự phát triển tâm lí của các em phụ thuộc vào sự giảng dạy của giáo viên đứng
lớp nói riêng và sự tác động của giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội nói
chung.
17
Sự tác động từ giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội là sự tác
động của nội dung, phương pháp và tổ chức hoạt động giáo dục. Và trong sự
tác động đó thì tác động giáo dục từ phía nhà trường giữ vai trò chủ đạo.
18
Kết quả điều tra được thống kê ở bảng sau:
19
Bảng 1: Các yếu tố kích thích được học sinh nhận thức
Học sinh(72)
Stt
Các yếu tố
Điểm
Thứ
bậc
1
Để được lên lớp
277
1
2
Để học được nhiều điều hay, điều mới lạ
265
192
8
7
Để học giỏi hơn bạn
206
7
8
Để biết suy nghĩ
250
5
9
Để luôn đạt điểm giỏi
253
4
10
Anh,...ở lớp 3A2 và các em Thu Trang, Toàn, Phúc, Tú Quỳnh ,Tùng, Quỳnh
Mai, Khánh Linh,...ở lớp 3A1. Và đây cũng là những học sinh chăm hoàn
thành các bài tập về nhà. Các em còn tích cực làm các bài tập trong sách tham
khảo, đọc các cuốn sách khoa học về các lĩnh vực vật lí, thiên văn học,... và
các cuốn sách về thiên nhiên và xã hội,...(phụ lục 4, 5)
Qua đây, ta thấy học sinh hiện nay học tập bởi cả những động cơ gần và
cả những động cơ xa. Và đối với những học sinh lớp 3 được nghiên cứu thì
những yếu tố trên có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy các em chăm chỉ,
tích cực và sáng tạo trong học tập.
- Tuy nhiên, một vài động cơ tiêu cực vẫn tồn tại ở nhiều em học sinh
được nghiên cứu. Dù ở thứ bậc không cao nhưng nó vẫn chi phối, thúc đẩy học
sinh học tập trong quá trình học tập như học tập để giỏi hơn bạn (được 206
điểm, xếp bậc 7), học để được cô giáo khen, các bạn ngưỡng mộ (được 192
điểm, xếp bậc 8), học để được thưởng (được 140 điểm, xếp bậc 9) và học để
bố mẹ không sai làm việc nhà (được 100 điểm, xếp bậc 10). Do được thúc đẩy
bởi những động cơ tiêu cực trong học tập, đa số các em học sinh này thường
không chú ý trong các tiết học. Trong các giờ học bài mới cũng như trong các
bài thực hành, các em ít phát biểu xây dựng bài hơn. Và các em chưa làm bài
tập về nhà thường nằm trong nhóm học sinh này. Như các em Tiến Đạt,
Sơn,...ở lớp 3A2 và các em Khánh Duy, Hạnh Dung,...ở lớp 3A1. Tuy nhiên, ở
cả hai lớp vẫn có những em học rất tốt trong lớp cũng được thúc đẩy bằng
21
những động cơ học tập là những động cơ tiêu cực. Nên giáo viên cần kết hợp
gia đình cùng định hướng cho các em để các em học tập bởi những động cơ
nhận thức, động cơ tích cực và hạn chế sự tác động của những động cơ tiêu
cực hay ta con gọi là những động cơ âm tính.
Số em có động cơ học tập như vậy có số lượng không nhỏ. Nhưng, đối
cao như xếp bậc 3 là yếu tố học tập để học được nhiều điều hay, điều mới lạ,
xếp bậc 5 là học tập để biết suy nghĩ. Như vậy, các em đã có những động cơ
học tập nhận thức từ sớm. Điều này rất tốt. Nhưng đó chưa phải vị trí chủ đạo.
Nếu được hướng dẫn và giáo dục chu đáo thì những động cơ nhận thức sẽ dần
dần thay thế những động cơ xã hội và dành vị trí chủ đạo ở các lớp trên.
2.1.2. Tìm hiểu động cơ học tập của học sinh qua phiếu bài tập
Để tìm hiểu thực trạng động cơ học tập của học sinh lớp 3, chúng tôi đã
thiết kế phiếu bài tập (phụ lục 1) đưa ra 2 bài tập ở hai mức độ: dễ - khó, các
bài tập này đều cho điểm như nhau và cho học sinh chọn một trong hai bài tập
để hoàn thành trong 5 phút. Sau đó thu phiếu bài tập và căn cứ vào việc học
sinh chọn bài tập nào mà sắp xếp vào các loại động cơ học tập khác nhau.
Chỉ tiêu sắp xếp:
- Nếu học sinh chọn loại bài tập 1 thì động cơ xã hội chiếm ưu thế. Ta
xếp vào loại động cơ xã hội.
- Nếu học sinh chọn bài tập 2 thì động cơ nhận thức chiếm ưu thế. Ta
xếp vào loại động cơ nhận thức.
Phiếu học tập được thực hiện với 72 học sinh lớp 3 gồm 40 em nam và
32 em nữ. Thu phiếu, thống kê kết quả, quy ra tỉ lệ phần trăm, ta được bảng
sau:
Bảng 2: Động cơ học tập của học sinh lớp 3
Loại động cơ học tập
Động cơ nhận thức
Động cơ xã hội
Kết quả
25 hs
không đúng cách nên những động cơ "âm tính" vẫn tồn tại ở một số em học
sinh.
2.1.3 So sánh động cơ học tập của học sinh nam và học sinh nữ
Để thấy rõ hơn về sự tác động của các yếu tố thuộc phạm vi động cơ
nhận thức và thuộc phạm vi động cơ xã hội, ta thống kê và xếp thứ bậc các
yếu tố kích thích đối với học sinh nam và học sinh nữ. Phiếu điều tra được
24
phát đến 72 học sinh gồm: 40 học sinh nam và 32 học sinh nữ. Sau đó thống
kê kết quả, ta được bảng sau:
Bảng 3: Các yếu tố kích thích học tập ở học sinh nam và nữ
Nam (40hs)
Stt
Các yếu tố
Điểm
Nữ (32hs)
Thứ
bậc
Thứ
Điểm
bậc
5
117
6
4
Để được thưởng
76
9
64
9
5
Để sau này làm việc tốt
140
3
131
2
6
120
4
9
Để luôn đạt điểm giỏi
133
4
119
5
51
10
49
10
10 Để bố mẹ không sai làm việc nhà
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy rằng: các yếu tố chi phối, kích thích quá
trình học tập của học sinh có sự sắp xếp chênh lệch không đáng kể. Đứng đầu