Phát hiện và sửa lỗi trong bài văn kể chuyện của học sinh lớp 5 trường tiểu học trưng nhị phúc yên vính phúc - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2, các
thầy cô giáo trong khoa GDTH và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Tiếng Việt đã tận
tình giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện
khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Th.S Nguyễn Thu
Trang - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô giáo và các bạn để đề tài được
hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Lê Thị Chính

Lê Thị Chính

* 1 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp



: TH

Thạc sĩ

: Th.S

Lê Thị Chính

* 3 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề

6
6

3. Mục đích nghiên cứu
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5. Nhiệm vụ ngiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu

1.2.2. Khái niệm văn kể chuyện
1.2.3. Đặc điểm của văn kể chuyện
1.2.4. Yêu cầu cơ bản của bài văn kể chuyện
1.2.5. Những kiến thức và kỹ năng làm văn kể chuyện của học sinh lớp 4

15
15
16

cần hình thành được những kiến thức và kỹ năng làm văn kể chuyện sau
1.3. Các lỗi trong bài văn kể chuyện.
1.3.1. Thế nào lỗi trong bài văn kể chuyện

17
18
18

1.3.2. Phân loại lỗi trong bài văn kể chuyện.
1.3.2.1. Các lỗi về hình thức diễn đạt.
1.3.2.2. Các lỗi về nội dung diễn đạt

18
18
20

TIỂU KẾT
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÁC LỖI TRONG BÀI VĂN KỂ CHUYỆN
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1. Khảo sát thực trạng lỗi trong bài văn kể chuyện của HSTH
qua các bài văn kể chuyện lớp 4

TRONG BÀI VĂN KỂ CHUYỆN CỦA HỌC SINH LỚP 4
3.1. Những nguyên nhân và cách chữa chung
3.1.1. Những nguyên nhân

36
36

3.1.2. Một số cách chữa lỗi
3.2. Những nguyên nhân và cách chữa từng loại lỗi cụ thể
3.2.1. Lỗi chính tả

37
40
40

3.2.2. Lỗi dùng từ
3.2.2.1. Sử dụng danh từ và định ngữ không thích hợp
3.2.2.2. Lỗi sử dụng quan hệ từ sai tạo ra vế câu không tương hợp
3.2.2.3. Lỗi sử dụng động, tính từ bổ ngữ không tương hợp

46
46
46
46

3.2.2.4. Lỗi sử dụng từ lặp
3.2.2.5. Với lỗi sử dụng từ không chính xác
3.2.2.6. Lỗi dùng từ tối nghĩa

46

Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục
Tiểu học có vai trò quan trọng, giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu và lâu
dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người phát triển
toàn diện, có trí thức và tay nghề, có năng lực thực hành, chủ động, sáng tạo, bước đầu
xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho học sinh.
Tập làm văn là môn học quan trọng, có nhiều tác dụng nhưng cũng là một môn
học khó đối với học sinh Tiểu học. Đây là một môn học mang tính chất thực hành
nhằm hiện thực hóa các hiểu biết đồng thời góp phần rèn luyện hoàn thiện chúng. Việc
dạy học Tập làm văn vừa rèn luyện các thao tác kỹ năng làm bài, vừa rèn luyện những
phẩm chất đạo đức cần thiết và bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc tình cảm thẩm mỹ cho
các em. Tập làm văn giúp học sinh có ý thức ngày càng cao trong việc viết các bài văn
theo nhiều thể loại khác do chương trình quy định. Ngoài các kỹ năng của việc tạo lập
văn bản thì việc viết được một bài văn theo đúng thể loại còn rèn luyện cho các em có
kỹ năng đặc thù trong từng loại bài nhất định. Bên cạnh đó việc bồi dưỡng tâm hồn,
cảm xúc, tăng thêm vốn sống cũng như là những yêu cầu rèn luyện cho học sinh.
Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học góp phần rèn luyện tư duy hình tượng từ óc
quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện những chi tiết đã quan sát được đến
khả năng nhào nặn các vật liệu có thật để xây dựng lên nhân vật, xây dựng lên cốt
truyện. Chương trình Tập làm văn ở Tiểu học lớp 1, 2, 3 yêu cầu chỉ là viết những câu,
đoạn ngắn. Chỉ từ lớp 4 và 5 mới viết thành bài văn hoàn chỉnh với yêu cầu từ đơn
giản đến phức tạp, từ thấp đến cao.
Phân môn Tập làm văn ở lớp 4 gồm có các kiểu bài: miêu tả, kể chuyện, viết
thư, đơn từ. Trong đó kể chuyện là một trong những thể loại hấp dẫn và có nhiều tác
dụng thiết thực bổ ích với các em.
Nói văn kể chuyện hấp dẫn là vì nhu cầu nghe và kể được học sinh tiếp thu từ

học.
2. Lịch sử vấn đề
Tập làm văn kể chuyện là đề tài hấp dẫn. Lý thuyết về kiểu bài này đã được đề
cập rất nhiều trong các tài liệu như:
“Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí, Nxb Giáo dục
năm 2000 đưa ra những khái niệm cơ bản về tập làm văn, văn miêu tả. Đồng thời tác
giả cũng đưa ra phương pháp dạy văn kể chuyện ở Tiểu học và một số kinh nghiệm
dạy học sinh viết bài văn kể chuyện cho tốt.
Cuốn “văn miêu tả và kể chuyện” lại đưa ra những suy nghĩ kinh nghiệm của
các nhà văn Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng.
Trong cuốn “phương pháp dạy hoc Tiếng Việt ở Tiểu học”, Nxb trường ĐHSP Hà
Nội, Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Trí đưa ra nhận xét về vai
trò và sự cần thiết của việc dạy văn miêu tả ở trường phổ thông, từ đó trình bày một
vài giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả.
Tuy nhiên các cuốn sách trên tác giả mới chỉ trình bày vấn đề mang tính lý
thuyết cơ bản về Tập làm văn kể chuyện. Vì vậy, việc vận dụng những kiến thức đó

Lê Thị Chính

* 7 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

vào giảng dạy văn kể chuyện còn là vấn đề quan tâm, chú ý. Với ý thức và trách nhiệm
của một người giáo viên Tiểu học trong tương lai tôi chọn đề tài “Phát hiện và sửa lỗi

Lê Thị Chính

* 8 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung của khóa luận được
tôi triển khai như sau:
Chương 1. Cơ sở lí luận.
Chương 2. Khảo sát các lỗi trong bài văn kể chuyện của học sinh.
Chương 3. Nguyên nhân và cách chữa trong bài văn kể chuyện.

Lê Thị Chính

* 9 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1

Lê Thị Chính

* 10 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

cho học sinh. Quá trình đi phân tích đề, tìm ý, quan sát… là dịp để học sinh mở rộng
vốn từ, nói lên tư tưởng, tình cảm của mình. Việc lập dàn ý, chia đoạn, tóm tắt
truyện... giúp khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của các em được rèn luyện. Đây
chính là lúc tư duy logic được phát triển. Bên cạnh đó tư duy trừu tượng của các em
cũng có dịp được rèn luyện nhờ vận
dụng các biện pháp so sánh , phân tích, nhân hóa... thông qua Tập làm văn, học sinh có
ý thức gắn mình với cuộc sống bằng con mắt đầy thiện cảm và trách nhiệm.
Dạy và học Tập làm văn là một trong những con đường có hiệu quả nhất để
giáo dục và phát triển ngôn ngữ ở học sinh.
1.1.4. Quy trình dạy một bài tập làm văn
a. Quy trình đầy đủ: gồm 5 bước:
Tiết 1: Tìm ý (đọc đề, phân tích đề , tìm ý).
Tiết 2: Lập dàn bài.
Tiết 3: Làm Tập làm văn miệng ở lớp.
Tiết 4: Làm Tập làm văn ở lớp.
Tiết 5: Trả bài.
Mỗi tiết học trong quy trình trên đảm bảo nhiệm vụ tập luyện kỹ năng và từ
thực tiễn luyện tập rút ra những nhận xét có tính chất lí thuyết.
* Dạy tiết tìm ý.

đề bài cụ thể để hướng dẫn học sinh tìm ý trong tiết một và giao cho học sinh về nhà
làm bài. Vì thế tiết dạy lập dàn bài tùy theo tình hình cụ thể làm hai công việc sau:
+ Chữa dàn bài cho học sinh đã làm ở nhà:
- Giáo viên cho học sinh trình bày dàn bài do cá nhân xây dựng, các học sinh
khác nhận xét, sửa chữa.
- Khi sửa chữa giáo viên cần định hướng cho cả lớp tôn trọng cấu trúc riêng của
mỗi dàn bài. Bởi vì việc xắp xếp các ý là theo quan điểm riêng của từng học sinh miễn
sao dàn ý đó đảm bảo được nội dung bài, phù hợp với yêu cầu của đề.
- Khi chữa các dàn bài do học sinh làm, giáo viên cần có một dàn bài tự mình
xây dựng trước. Dàn bài của giáo viên chỉ đưa ra sau khi đã hướng dẫn học sinh trình
bày sửa chữa dàn bài của các em.
+ Hướng dẫn học sinh làm dàn bài ngay trên lớp:
Học sinh chuẩn bị ý, tư liệu ở nhà đến lớp mới xây dựng dàn ý. Khi tiến hành
công việc này, giáo viên nên hướng dẫn học sinh thao tác cụ thể là: lựa chọn các ý, hệ
thống các ý và xắp xếp theo trình tự nhất định.
* Thiết lập làm văn miệng.
- Nhiệm vụ của tiết này là giúp học sinh sản sinh văn bản dưới hình thức nói, luyện tập
cho học sinh các kỹ năng, năng lực nói trước tập thể về một vấn đề nhất định. Vì thế
trong tiết học, học sinh nói là chính.
- Tiến trình thực hiện tiết tập làm văn miệng như sau:
+ Giáo viên kiểm tra việc chuẩn bị của học sinh, cho học sinh nhắc lại nội dung cơ bản
trong bài đã chuẩn bị ở tiết trước.
+ Học sinh trình bày miệng từng phần (một số học sinh trình bày miệng từng phần, các
em nhắc lại).
+ Học sinh trình bày cả bài (cả lớp nhận xét).

Lê Thị Chính

* 12 *


+ Kỹ năng xây dựng văn bản: Giáo viên chú ý tới cấu trúc của dàn bài có câu đối
không, dàn ý có làm nổi bật trọng tâm không.
+ Kỹ năng ngôn ngữ: kỹ năng dùng từ: dùng sai nghĩa hoặc dùng thiếu âm, từ và nghĩa
chưa chính xác.
+ Kỹ năng sử dụng câu: ở tiểu học, học sinh hay mắc các loại lỗi: viết câu quá dài theo
kiểu liệt kê, câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu có nhiều từ ngữ rườm rà, lủng củng.
Khi chữa lỗi dùng từ và các lỗi về câu, giáo viên nên ghi toàn bộ những câu có
chứa từ sai lên bảng, yêu cầu học sinh tìm từ dùng sai tìm nguyên nhân dùng câu sai

Lê Thị Chính

* 13 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

và đưa ra cách chữa. Khi chữa cần tôn trọng ý định chủ quan của người viết, tuyệt đối
không được biến đổi câu sai thành một câu hoàn toàn khác
Hướng dẫn học sinh tự chữa lỗi trong bài:
Chữa các lỗi chính tả: dựa trên các việc thống kê các lỗi chính tả của học sinh
trong bài, giáo viên chọn ra một số lỗi tiêu biểu phổ biến tập trung chữa.
Cách thức: Giáo viên chia bảng thành hai cột, một cột ghi lỗi chính tả, một cột ghi
cách viết chính tả đúng, giáo viên ghi lỗi chính tả lên bảng.
Lưu ý: ghi một cụm từ chứa hiện tượng chính tả sai sau đó yêu cầu học sinh tự sửa lỗi,
giáo viên kiểm tra.
Sau khi chữa chung một số lỗi, giáo viên yêu cầu học sinh đọc bài làm văn của


Cần phân biệt truyện và chuyện
Truyện: là tên gọi để chỉ một loại hình văn học, “Truyện là một loại thể văn
học lớn thuộc loại tự sự có hai phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp
nghệ thuật chính là kể ” (Từ điển văn học - Tập 2, NXB KHXH, Hà Nội, tr.450).
Ví dụ: truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn. Cái được kể trong văn bản truyện được
gọi là câu chuyện . Những việc diễn ra trong đời sống con người, đó là những câu
chuyện.
1.2.2. Khái niệm văn kể chuyện
Văn kể chuyện là loại văn trong đó tác giả giới thiệu, thuyết minh, miêu tả nhân
vật, hành động và tâm tư tình cảm của nhân vật kể lại diễn biến câu chuyện sao cho
người đọc, người kể chuyện trong trường tiểu học.
Văn kể chuyện là một kiểu bài quan trọng trong chương trình Tập làm văn ở
tiểu học. Đã từ lâu văn kể chuyện được đưa vào chương trình Tiểu học và Trung học
cơ sở. Hiện nay văn kể chuyện bắt đầu được dạy từ lớp 2. Học sinh Tiểu học cần sớm
học văn kể chuyện vì đây là phương thức tự sự đã ổn định, được sử dụng nhiều trong
đời sống, trong nhà trường và trong Văn học. Từ thuở còn thơ, trẻ em đã sớm học và
tập dùng văn kể chuyện, tại các lớp Mẫu giáo nhỡ và lớn, các em dã được tập kể bằng
miệng, ở trường Tiểu học các em tiếp tục học văn kể chuyện nhưng ở trình độ cao hơn.
Từ khi nắm được văn kể chuyện, học sinh mới dần có cơ sở để hiểu rõ hơn các bài tập
đọc trích từ các truyện ngắn, truyện dài được viết dựa trên phương thức tự sự. Trong
trường Tiểu học văn kể chuyện được chia thành nhiều kiểu bài.
1.2.3. Đặc điểm của văn kể chuyện
Văn kể chuyện phải có cốt truyện “Cốt truyện được xây dựng bằng những tình
tiết. Những tình tiết này có tính bền vững. Nếu thay đổi tình tiết hoặc lược bỏ tình tiết
thì không còn cốt truyện nữa”. (Nguyễn Thái Hòa. Những vấn đề thi pháp của truyện.
NXBGD, 2000).
Cốt truyện là một chuỗi sự việc làm nòng cốt cho diễn biến của truyện. Cốt
truyện thường gồm ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc (TV4 - tập 1).
Kể chuyện là một chuỗi sự việc có đầu có cuối, có liên quan đến một hay một

phương tiện còn “Ý nghĩa điều muốn nói” mới là mục đích của chuyện. Người ta có
thể kể về con người, sự việc có thật đã xảy ra trên đời, cũng có thể bịa ra câu chuyện,
bịa ra nhân vật dựa trên kinh nghiệm cuộc sống của mình nhưng không thể bịa ra ý
nghĩa cuộc đời. Ý nghĩa cuộc đời phải rất thật, gắn bó và thể hiện sâu sắc cách thể
hiện, niềm tin, lí tưởng, đạo đức thiêng liêng của dân tộc và thời đại. Chuyện và nhân
vật hư cấu hay có thật không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là mỗi câu
chuyện nói lên được điều gì bổ ích cho con người và cuộc đời. Tóm lại, chuyện có hay
hay không chính là ở ý nghĩa cuộc sống của nó mang lại cho người đọc. Muốn tìm
được chuyện hay, cốt chuyện hay ta phải chịu khó quan sát tìm hiểu về cuộc sống
xung quanh, không nên bằng lòng với một số mẫu hoặc công thức có sẵn. Muốn có
chuyện hay phải phải có sự lao động nghiêm túc, có sự suy nghĩ sâu xa khi đi tìm cốt
truyện. Điều quan trọng nhất là tìm ra ý nghĩa sâu sắc mới mẻ của chuyện.
b. Phải tạo được cách kể chuyện có duyên, hấp dẫn.

Lê Thị Chính

* 16 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Cách kể chuyện có duyên, hấp dẫn do nhiều yếu tố tạo nên: cách sắp xếp câu
chuyện, cách mở đầu, kết thúc, cách thắt nút, cách lựa chọn ngôi kể, giọng, lựa chọn
chi tiết hay, tình huống hay.
Muốn kể được chuyện, đầu tiên phải sắp xếp các sự việc trong câu chuyện theo
một trình tự, người ta gọi đó là việc xây dựng bố cục. Trong nhà trường, dàn ý một


K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

trong ngôi kể, trong cách nhìn sự vật, cảnh vật con người theo ngôi kể. Khi kể chuyện
cần chú ý đến giọng kể. Giọng kể thường phụ thuộc vào câu chuyện, vào ngôi kể. Điều
cần chú ý nhất là chọn giọng kể thích hợp để đạt hiệu quả cao. Tiết Tập làm văn kể
chuyện khác với tiết kể chuyện trong giờ dạy kể chuyện. Nếu kết quả của giờ dạy kể
chuyện chỉ dừng lại ở ngôn ngữ nói thì kết quả của bài làm văn kể chuyện trong phân
môn Tập làm văn lại là ở bài viết, tức là thể hiện trên văn bản viết. Đó là sự khác biệt
giữa kể chuyện trong giờ Kể chuyện và kể chuyện trong giờ Tập làm văn.
1.2.5. Những kiến thức và kỹ năng làm văn kể chuyện của học sinh lớp 4.
a. Kiến thức: thông qua giờ dạy của học sinh lớp 4 được trang bị một số hiểu
biết ban đầu về đặc điểm chính của văn kể chuyện, cụ thể:
- Thế nào là văn kể chuyện.
- Nhân vật tronng truyện. Kể lại hành động của nhân vật. Tả ngoại hình của
nhân vật trong bài văn kể chuyện.Kể lại lời nói, ý nghĩa của nhân vật.
- Cốt truyện.
- Đoạn văn trong bài văn kể chuyện. Mở bài, kết bài trong bài văn kể chuyện.
b. Kỹ năng: qua các bài học rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản cụ thể
như sau:
- Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp.
+ Nhận diện đặc điểm văn bản
+ Phân tích đề bài, xác định yêu cầu
+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho
+ Tìm ý và sắp xếp các ý thành dàn ý

- Câu không đủ thành phần
Đó là những câu thiếu thành phần: thiếu thành phần chủ ngữ, thiếu thành phần
vị ngữ, câu thiếu cả thành phần chủ ngữ và vị ngữ
- Câu thừa thành phần
Câu thừa thành phần là những câu mà ta khó mà xác định được các thành phần
trong câu một cách chính xác gồm:
+ Câu không xác định được thành phần
+ Câu sắp xếp vị trí các thành phần câu
* Các lỗi về nghĩa của câu.
Loại lỗi này bao gồm: câu sai nghĩa, câu không rõ nghĩa và câu không có sự
tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu.
* Các lỗi về dấu câu.
Lỗi dấu câu chia thành hai loại: lỗi dùng dấu câu sai và lỗi không dùng dấu câu.
* Các lỗi ngoài câu.
Đó là những câu nếu xét về cấu tạo ngữ pháp thì không sai nhưng xét về nghĩa
thì nó không phù hợp khi đặt vào văn bản. Nó bao gồm: lỗi câu không phù hợp với văn
bản, lỗi câu không phù hợp với phong cách, lỗi câu không phù hợp với nhân vật giao
tiếp.
b. Các lỗi về dùng từ.
* Các lỗi về lặp từ.

Lê Thị Chính

* 19 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp


* Lỗi về vần.
* Lỗi về thanh điệu.
d. Lỗi về bố cục bài văn
- Thiếu một trong ba phần: mở bài, thân bài, kết bài
- Không phân biệt rõ giữa ba phần: mở bài,thân bài, kết bài.

Lê Thị Chính

* 20 *

K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

1.3.2.2. Các lỗi về nội dung diễn đạt.
Thường biểu hiện phổ biến như sau:
Vay mượn ý tính của người khác, thường là một bài mẫu.
Học sinh sẵn sàng học thuộc một bài văn mẫu, một đoạn văn mẫu, một câu văn
mẫu, khi làm bài các em sao chép ra và biến thành bài làm của mình, không căn cứ vào
yêu cầu của đầu bài.
Trên đây là khái niệm và các lỗi trong bài văn kể chuyện. Căn cứ vào đó tôi
thực hiện việc khảo sát các bài văn kể chuyện của học sinh lớp 4, ở hai trường Tiểu
học là trường Tiểu học Trưng Nhị (thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc), trường Tiểu học
Thanh Luận (huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang)

Lê Thị Chính



K32A - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÁC LỖI TRONG BÀI VĂN KỂ CHUYỆN CỦA HỌC SINH
TIỂU HỌC LỚP 4
2.1. Khảo sát thực trạng lỗi trong bài văn kể chuyện của HSTH qua các bài văn
kể chuyện lớp 4
2.1.1. Địa điểm tiến hành điều tra
Để nắm được tình hình cụ thể các loại lỗi trong bài làm văn kể chuyện của
HSTH, tôi đã tiến hành điều tra thực tế tại hai trường TH:
- Trường TH Trưng Nhị (thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc), đại diện cho khu
vực thành thị gồm: 192 học sinh với 178 bài viết cụ thể trên cả 5 lớp: 4A1, 4A2, 4A3,
4A4, 4A5.
- Trường TH Thanh Luận (huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang), đại diện cho khu
vực miền núi gồm 120 HS với 120 bài viết cụ thể trên cả bốn lớp: 4A, 4D, 4C, 4E.
2.1.2. Phương pháp điều tra
Để khảo sát HS tôi phối hợp nhiều phương pháp khác nhau khi thu thập và xử lí
số liệu. Các phương pháp chủ yếu:
- Đọc, chấm trực tiếp bài văn kể chuyện của HS lớp 4
- Mượn và phô tô các bài văn kể chuyện của HS khối 4 để lấy tài liệu
- Sử lí thống kê các lỗi
- Trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh
2.1.3. Cách thức tiến hành điều tra
Tôi tiến hành khảo sát qua các đề bài cụ thể sau:

Tập làm văn) và thống kê lỗi chính tả được kết quả như sau:

Trường

Loại

TH Trưng Nhị

TH Thanh

Tổng

Luận

l

n

113

138

251

n

l

109


x
Lỗi âm đầu

Trường

s

s

x

73

78

151

gi

d

87

96

183

r

d


868 (46%)

1018 (54%)

1886

d

gi

Viết hoa
không viết hoa
Lỗi vần

Lỗi về vần

Lỗi viết tắt
Tổng

Qua bảng số liệu trên tổng số lỗi chính tả là 1886 lỗi. Trung bình mỗi bài mắc 6
lỗi, bài mắc nhiều nhất là 19 lỗi, số bài mắc lỗi ít nhất là 30 bài.

Lê Thị Chính

* 24 *

K32A - GDTH




rất nạ

Dữ lại

dữ nại

Đi làm

đi nàm

Liền lấy

niền nấy

Hiền lành

hiền nành

Chăng lối

chăng nối

Va-li-a
Kỳ lạ
Túp lều
Tham lam
Làm việc

va-ni-a

* 25 *

K32A - GDTH



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status