MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, thế kỷ của tri thức khoa học với sự phát triển như vũ bão của
công nghệ thông tin. Cùng với sự phát triển trên toàn thế giới, Việt Nam đang
bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế xã hội
đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt. Do đó, ở tất cả các ngành
nghề hiện nay đều có sự đổi mới để phù hợp với yêu cầu của sự phát triển xã
hội. Trong xu thế đó, sự đổi mới về phương pháp dạy học đang được coi là
vấn đề cấp thiết, mang tính chất thời đại, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng
lớp. Đổi mới phương pháp dạy học tức là phải biết kết hợp hài hòa, vận dụng
linh hoạt các ưu điểm của phương pháp dạy học trong từng tình huống cụ thể
nhất là việc kết hợp phương pháp dạy, phương pháp học truyền thống và hiện
đại. Cùng với việc đổi mới phương pháp là đổi mới kiểm tra đánh giá trong
đó có việc vận dụng hình thức kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan
vào quá trình kiểm tra đánh giá.
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân
với mục đích và nhiệm vụ là trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng nhất
của người công dân, người lao động tương lai. Đó là những con người phát
triển toàn diện có trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ, sáng
tạo. Cùng với các môn học khác, môn Khoa học là một môn học có tính tích
hợp cao những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai
trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất, năng lực của con
người. Chương trình môn Khoa học đã đưa ra những mục tiêu nhằm khơi dậy
tính tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động của học sinh đòi hỏi việc
hướng dẫn của giáo viên phải hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức và
hình thành, rèn luyện kĩ năng của học sinh. Mục tiêu này đòi hỏi sự đổi mới
nội dung chương trình sách giáo khoa Khoa học ở Tiểu học sau năm 2000 là
tăng cường các bài tập thực hành. Các hình thức câu hỏi, bài tập cũng đa
môn Khoa học lớp 4.
- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học chủ
đề Thực vật và động vật môn Khoa học lớp 4.
- Thử nghiệm hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan đã xây dựng và
kiểm tra tính khả thi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá trong dạy
học chủ đề Thực vật và động vật môn Khoa học lớp 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở
việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá
trong dạy học chủ đề Thực vật và động vật môn Khoa học lớp 4.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan để kiểm tra
đánh giá trong dạy học chủ đề Thực vật và động vật môn Khoa học lớp 4 phù
hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học lớp 4.
6. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận.
- Phương pháp điều tra. Phương pháp phân tích, tổng kết.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vài nét về kiểm tra đánh giá trong dạy học
1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra đánh giá
Có nhiều khái niệm về kiểm tra đánh giá nhưng trong khóa luận này
chúng tôi xin đưa ra khái niệm sau:
Như vậy, hoạt động kiểm tra đánh giá được tiến hành theo quy trình:
Dạy học rồi kiểm tra đánh giá nhằm kiểm soát việc dạy học, sau đó ra quyết
định điều chỉnh, cải tiến phương pháp dạy học là cơ chế đảm bảo cho việc
nâng cao chất lượng dạy học.
1.1.1.3 Các hình thức kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Khoa học.
a) Đánh giá bằng nhận xét
Đánh giá bằng nhận xét là GV đưa ra các phân tích hoặc những phán
đoán về học lực của HS bằng cách sử dụng các nhận xét được rút ra từ việc
quan sát các hành vi hoặc sản phẩm học tập của HS theo những tiêu chí được
cho trước. Hình thức đánh giá này được gọi là mô hình đánh giá thông qua
tiêu chí, tiêu chuẩn.
Khi đưa ra nhận xét phải dựa trên những quy định cụ thể của chuẩn kiến
thức, kĩ năng và thái độ và số nhận xét theo quy định.
b) Đánh giá bằng điểm số
Đánh giá bằng điểm số là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một
thang điểm để chỉ ra mức độ về kiến thức và kĩ năng mà HS đã thể hiện được
thông qua một hoạt động hoặc sản phẩm học tập
Thang điểm là một tập hợp các mức điểm liền nhau theo trật tự số từ cao
xuống thấp hay ngược lại. Trong thang điểm, đi kèm với mỗi mức điểm là
phần miêu tả những tiêu chí tương ứng cho từng mức điểm.
c) Đánh giá động viên
Đánh giá động viên là sử dụng điểm số, nhận xét hoặc phương tiện khác
để kích thích tinh thần, cảm xúc của HS từ đó thôi thúc các em thực hiện
nhiệm vụ kế tiếp tốt hơn, với sự phấn đấu cao hơn. Nói cách khác động viên
là cách tác động làm nảy sinh những suy nghĩ tích cực và suy nghĩ cần thiết
cho HS.
1.1.1.4 Những điểm mới trong cách đánh giá kết quả học tập của HS
trong môn Khoa học 4
b.2.2 Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay mô
hình và được trả lời bằng các dấu hiệu đơn giản, hay một từ, cụm từ, đôi khi
là các con số…Trắc nghiệm khách quan mang tính quy ước vì bài trắc nghiệm
được chấm bằng cách đếm số lần học sinh trả lời đúng. Do đó hệ thống cho
điểm là khách quan và không phụ thuộc vào người chấm. [7,117]
c) Bài tập
Giáo viên sử dụng bài tập trong sách giáo khoa hoặc vở bài tập để giao
bài cho học sinh. Ngoài ra, giáo viên có thể biên soạn các bài tập mới phù hợp
với trình độ nhận thức của học sinh.
d) Bài thực hành
Là công cụ để đánh giá kĩ năng quan sát, nhận biết, tự chăm sóc bản thân,
kĩ năng sử dụng lược đồ, bản đồ dụng cụ đo đạc,…
Việc đánh giá dựa vào các biểu hiện cụ thể qua từng thao tác, từng bước
hoặc sản phẩm cuối cùng học sinh thu được sau bài thực hành.
e) Bài báo cáo, thu hoạch
Báo cáo, thu hoạch dùng để đánh giá kĩ năng thu thập thông tin về một
vấn đề nào đó: kĩ năng quan sát, so sánh, nhận xét, trình bày, so sánh,…
Hình thức: báo cáo, thu hoạch bằng miệng hoặc là bài viết.
f) Học sinh tự đánh giá
Bao gồm hoạt động học sinh tự đánh giá bản thân và đánh giá các bạn
trong lớp. Có thể dùng phiếu kiểm kê, thang xếp hạng,…để học sinh đánh giá
lẫn nhau. Ngoài ra thực tế còn dùng thẻ, hoa, thang điểm,…
Trên là một số công cụ kiểm tra đánh giá được dùng phổ biến ngoài ra
còn một số công cụ khác.
1.1.2 Vài nét về trắc nghiệm khách quan
1.1.2.1 Khái niệm về trắc nghiệm khách quan.
a) Khái niệm trắc nghiệm.
mục đích xác định.
1.1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của trắc nghiệm khách quan
a, Ưu điểm
- Trắc nghiệm cho phép trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến
thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, chống
khuynh hướng học tủ.
- Trắc nghiệm tốn ít thời gian thực hiện, đặc biệt là khâu chấm bài.
- Trắc nghiệm đảm bảo tính khách quan. Khi cho điểm trong kiểm tra truyền
thống, cùng một bài làm có thể được đánh giá khác nhau, có thể điểm số
chênh lệch khá lớn tùy thuộc vào người chấm. Chấm bài trắc nghiệm sẽ tránh
được sai lệch và hạn chế đó.
- Các câu hỏi, đáp án được quy định về số lượng, nội dung và đã chuẩn hóa
nên dễ dàng sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp và xử lý kết
quả.
- Trắc nghiệm nếu được sử dụng thích hợp có thể gây được hứng thú và tính
tích cực học tập cho HS. Là một hình thức kiểm tra, một dạng bài tập mới, so
với các hình thức kiểm tra và dạng bài tập truyền thống trắc nghiệm có thể
được nhiều HS ưa thích. Việc chấm bài được nhanh gọn, HS có thể sớm biết
kết quả làm bài của mình, HS có thể tự đánh giá bài làm của mình và đánh giá
bài làm của nhau
b, Hạn chế
- Các bài tập trắc nghiệm chủ yếu rèn trí nhớ máy móc khó phát triển tư duy
và đánh giá quá trình suy nghĩ dẫn tới kết quả làm bài trắc nghiệm. Đây là
nhược điểm lớn nhất của trắc nghiệm.
- Trắc nghiệm kiến thức không cho GV biết tư tưởng, nhiệt tình, thái độ, hứng
thú của HS với vấn đề được nêu ra.
- Khó soạn các câu hỏi, đòi hỏi nhiều thời gian và công phu, GV phải có
chuyên môn sâu sắc.
d, Cây ăn quả cần ít nước khi quả chín.
- Ưu điểm:
+ Dễ sử dụng.
+ Có thể ra nhiều câu một lúc vì tốn ít thời gian cho mỗi câu. Nhờ vậy khả
năng bao quát chương trình lớn hơn.
- Hạn chế:
+ Có thể khuyến khích sự đoán ngẫu nhiên của học sinh, độ may rủi là 50%.
+ Thường chỉ dùng để kiểm tra ở mức độ biết và hiểu đơn giản, ít kích thích
tư duy, ít khả năng phân biệt trình độ học sinh.
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Câu viết phải ngắn gọn, rõ ràng, câu hỏi phải xếp chính xác là đúng hay sai.
+ Đặt ra một mệnh đề và yêu cầu người học xác định mệnh đề đó đúng hay
sai, không nên bố trí số câu đúng bằng số câu sai, không nên trích nguyên câu
trong SGK,…
b, Trắc nghiệm nhiều lựa chọn:
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là loại câu thông dụng nhất, còn gọi là câu đa
phương án, loại câu này gồm 2 phần là phần câu dẫn và phần câu lựa chọn.
+ Phần câu dẫn là một câu hỏi hay một câu lơ lửng tạo cơ sở cho sự lựa chọn
+ Phần lựa chọn gồm nhiều phương án trả lời. Người trả lời sẽ lựa chọn một
phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất, hoặc không có liên quan gì đến trong
số các phương án cho trước. Những phương án còn lại là những phương án
gây nhiễu.
Ví dụ 2:
Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng.
1. Các loại cây cho lá cần nhiều chất khoáng nào hơn.
A. Phốt – pho
B. Ka – li
Chọn từ thích hợp để điền vào chỗ (…) trong các câu sau sao cho đúng.
- Các loại cây khác nhau cần các loại chất khoáng với liều lượng
(1)………….
- Đối với một cây, nhu cầu về chất khoáng ở những giai đoạn khác nhau là
(2)……….
- Trong trồng trọt, để có thu hoạch cao, cần biết bón phân (3)………..đúng
cách
- Ưu điểm:
+ Dễ sử dụng.
+ HS có thể đoán mò vì HS phải viết câu trả lời của mình khi trả lời câu hỏi trắc
nghiệm.
+ Giúp HS luyện trí nhớ khi học tập.
- Hạn chế:
+ Thường dùng để kiểm tra ở mức độ biết và hiểu đơn giản.
+ Đôi khi khó đánh giá đúng nội dung câu trả lời khi HS viết sai chính tả hoặc
khi câu trắc nghiệm gợi ra nhiều hướng đáp án đúng.
+ GV thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu từ SGK.
+ Việc chấm bài mất nhiều thời gian.
+ Tính khách quan kém, có thể chịu tác động bởi yếu tố chủ quan của GV.
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Không nên để quá nhiều chỗ trống trong mỗi câu, nên bố trí chỗ trống ở
giữa hoặc cuối câu không nên đặt ở đầu câu.
+ Các phương án trả lời là các từ, cụm từ, các con số cho trước có thể tương
đương hoặc không tương đương với số lượng ô trống. Nếu các từ, cụm từ
không cho trước thì đó phải là các từ, cụm từ có nghĩa trong thực tế.
d, Trắc nghiệm ghép đôi
Bài tập dạng này gồm 2 phần: Phần thông tin bảng truy (câu hỏi) và phần
thông tin bảng chọn (câu trả lời). Hai phần này được thiết kế thành 2 cột.
- Ưu điểm: Dễ xây dựng và dễ sử dụng, yếu tố may rủi, ngẫu nhiên giảm
dần, hạn chế sự đoán mò.
- Hạn chế: mất nhiều thời gian cho việc thiết kế và xây dựng loại câu trắc
nghiệm này.
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài , nên thuộc cùng một loại, có liên
quan đến nhau, sắp xếp nội dung của hai dãy một cách rõ ràng, mang tính
đồng nhất.
+ Thông tin ở hai cột không nên bằng nhau, nên có thông tin dư ở một cột để
tăng sự cân nhắc khi lựa chọn. Thứ tự các câu của hai cột không khớp với
nhau để gây kho khăn trong việc lựa chọn và ghép đôi.
1.1.2.4 So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
- Trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra, trong đó nhà sư phạm đưa ra các
mệnh đề và có các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp án
phù hợp [7, 114].
- Trắc nghiệm tự luận là bài kiểm tra trong đó nhà sư phạm đưa ra một hoặc
nhiều yêu cầu đôi khi là bài toán nhận thức và đòi hỏi người học phải phân
tích các yêu cầu hoặc giải quyết các bài toán [7, 113].
a) Giống nhau:
- Trắc nghiệm hay tự luận đều đo lường và đánh giá được các kết quả giáo
dục của người học.
- Đều nhằm mục đích kiểm tra trình độ nhận thức hiện có của người học, tạo
cho các em sự hứng thú trong học tập.
- Cả hai hình thức vẫn ít nhiều mang tính chủ quan.
- Kết quả đánh giá của trắc nghiệm hay tự luận luôn đủ độ tin cậy.
b) Khác nhau
Tiêu chuẩn đánh giá
Khả năng đọc hiểu, Khả năng viết, các cách
phán đoán.
thể hiện.
Được xác định phần lớn Tùy thuộc phần lớn vào
Chất lượng của bài
do kỹ năng của người kỹ năng của người chấm
soạn thảo.
bài.
- Tốt ở mức độ hiểu, - Không thích hợp ở
biết, áp dụng, phân tích.
Kết quả đánh giá
mức độ nhận biết.
- Không thích hợp ở - Tốt ở mức độ hiểu, áp
mức độ tổng hợp, đánh dụng, phân tích, tổng
giá, so sánh.
hợp, phê phán, suy luận.
Khuyến khích ghi nhớ, Khuyến khích tổng hợp,
Kết quả có thể có
hiểu, phân tích ý kiến diễn đạt ý kiến của bản
1.1.3.1 Mục tiêu chủ đề môn Thực vật và động vật Khoa học 4
- Kiến thức cơ bản, ban đầu:
+ Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật và động vật
+ Chuỗi thức ăn trong tự nhiên.
- Bước đầu hình thành các kĩ năng:
+ Quan sát và làm một số thí nghiệm với thực vật và động vật đơn giản và gần
gũi với học sinh.
+ Biết quan sát và diễn đạt hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ...; biết nêu
thắc mắc, đặt câu hỏi, khai thác thông tin.
+ Biết phân tích so sánh, rút ra dấu hiệu chung và riêng của thực vật và động
vật.
- Hình thành hành vi thái độ:
+ Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng kiến thứcđã học vào cuộc sống.
+ Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp. Có ý thức và hành động
bảo vệ thực vật và động vật.
1.1.3.2 Nội dung chủ đề Thực vật và động vật môn Khoa học 4.
Chủ đề Thực vật và động vật môn Khoa học 4 gồm các nội dung sau:
- Trao đổi chất của thực vật, động vật với môi trường:
+ Nhu cầu về không khí, nước, chất khoáng, ánh sáng, nhiệt đối với đời sống
của thực vật, động vật. Ứng dụng trong trồng trọt, chăn nuôi.
+ Sơ đồ sự trao đổi chất giữa thực vật, động vật với môi trường.
- Chuỗi thức ăn trong tự nhiên:
+ Một số ví dụ về chuỗi thức ăn trong tự nhiên.
+ Sơ đồ về chuỗi thức ăn trong tự nhiên.
+ Vai trò của thực vật đối với sự sống trên Trái đất.
Nội dung cụ thể:
Chủ đề Thực vật và động vật môn Khoa học 4 gồm 12 bài, trong đó có 2
bài ôn tập:
Thời lượng
1 tiết/ tuần
2 tiết/ tuần
Ý kiến khác
Tỉ lệ
35%
55%
10%
Bảng 1: Thời lượng dạy học môn Khoa học 4.
Từ bảng trên ta thấy: có 55% số lượng giáo viên được hỏi dạy đúng và
đủ thời lượng chương trình môn Khoa học 4 tức dạy đủ 2 tiết/ tuần. Còn lại
45% giáo viên coi đây là môn học không cần thiết, là môn phụ nên coi nhẹ
môn này đã dạy thiếu 1 tiết/ tuần với nội dung bài học của 2 tiết hoặc đưa vào
một tiết tự chọn để dạy đuổi chương trình không đảm bảo được mục tiêu môn
học.
Chúng tôi tiến hành điều tra việc sử dụng các phương pháp dạy học trong
quá trình dạy dọc môn Khoa học 4 (câu 2-phụ lục 3). Kết quả thu được như
sau:
100
90
20
10
15%
5%
1%
4%
1%
2% 0%
4%1% 5%
9%
0
Thảo luận
nhóm
Quan sát
Đàm thoại
Thường xuyên
Hỏi đáp
Thỉnh thoảng
dạy học ở Tiểu học hiện nay, chúng tôi tiến hành điều tra việc sử dụng các
phương tiện, thiết bị dạy học của các giáo viên trong quá trình dạy học (câu 3phụ lục 1).
Kết quả điều tra thu được:
Các phương tiện, thiết bị
dạy học
Vật thật, vật mẫu
Thường xuyên
40%
Thỉnh thoảng
45%
Chưa bao giờ
15%
Mô hình
32%
48%
20%
Tranh ảnh, sơ đồ
điểm hơn cả vì với vật thật các em có thể nhìn, sờ, nghe, ngửi, nếm. Vì vậy
các biểu tượng mà các em học sinh thu được từ vật thật bao giờ cũng sinh
động, chính xác, đầy đủ hơn giáo viên lại sử dụng rất ít chỉ có 45% giáo viên
thường xuyên sử dụng, có tới 15% giáo viên chưa bao giờ sử dụng. Mặt khác,
các phương tiện dạy học có khả năng tiết kiệm thời gian, mang lại đầy đủ
thông tin, tăng tính sinh động, hấp dẫn, tạo hứng thú học tập cho học sinh
như: máy tính, băng hình, máy chiếu...lại được sử dụng ít trong dạy học. Để
nâng cao chất lượng dạy học thì phải nâng cao mức độ sử dụng các phương
tiện, thiết bị dạy học hiện đại.
Ngoài ra chúng tôi còn điều tra được thực trạng sử dụng các hình thức tổ
chức dạy học trong quá trình dạy học môn Khoa học 4 chủ đề Thực vật và
động vật (câu hỏi 4 - phụ lục 1). Kết quả cho thấy trong thực tiễn dạy học các
hình thức tổ chức dạy học được giáo viên sử dụng đan xen vào nhau. Hình
thức tổ chức dạy này sẽ hỗ trợ cho hình thức tổ chức dạy học kia tạo nên hiệu
quả của tiết dạy vì mỗi hình thức tổ chức dạy học có những ưu điểm và hạn
chế riêng. Giáo viên thường xuyên sử dụng các hình thức: dạy học theo nhóm,
cá nhân, tập thể (chiếm 98%). Trong khi đó hình thức tổ chức tham quan, học
ngoài trời được coi là hình thức tổ chức dạy học đặc trưng của các môn học
về tự nhiên và xã hội. Do đối tượng học tập của môn Khoa học là các sự vật,
hiện tượng của môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, vì vậy mà dạy học
ngoài trời có thể tạo cơ hội cho học sinh được quan sát trực tiếp các sự vật,
hiện tượng đó để hình thành các biểu tượng cụ thể, sinh động, đầy đủ và chính
xác thì giáo viên không sử dụng thường xuyên chỉ có 2% giáo viên sử dụng
thường xuyên. Giáo viên nên quan tâm tới hình thức này hơn nữa.
Việc soạn bài trước khi đến lớp là rất quan trọng, vì thế chúng tôi tiến
hành điều tra thực trạng soạn bài của giáo viên lên lớp trong dạy học môn
Khoa học 4 (câu 5 - phụ lục 1). Kết quả thu được:
Thường
giáo viên cần tăng cường hơn nữa việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
Để biết công cụ kiểm tra đánh giá thường được sử dụng trong kiểm tra
đánh giá môn Khoa học 4 là công cụ gì chúng tôi tiến hành điều tra theo nội
dung phiếu điều tra: câu 6 (phụ lục 3).
Kết quả được chúng tôi cụ thể hóa như sau:
Công
cụ
Tỉ lệ
Sổ ghi
Bài kiểm
chép
tra viết
5%
71%
Bài tập
4%
Câu hỏi
vấn đáp
13%
Bài báo
90
80
70
60
50
40
30
46%
30%
20%
20
10
0
4%
Quan niệm 1
Quan niệm 2
Quan niệm 3
Ý kiến khác
Biểu đồ 2: Nhận thức của giáo viên về trắc nghiệm khách quan