ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THU HÀ
SỬ DỤNG THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ
CHẤT LƢỢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT,
KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THU HÀ
SỬ DỤNG THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ
CHẤT LƢỢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT,
KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12
1.1.6. Vai trò của chất lượng hàng hóa...................................................... 19
1.2. Các lý thuyết về quản lý chất lượng ..................................................... 20
1.2.1. Khái niệm về quản lý ...................................................................... 20
1.2.2. Khái niệm về quản lý chất lượng ................................................... 21
1.2.3. Các trường phái quản lý chất lượng .............................................. 28
1.2.4. Các nguyên tắc quản lý chất lượng................................................ 29
1.3. Vai trò của các thiết chế tài chính trong việc quản lý chất lượng hàng
hóa sau công bố chất lượng ......................................................................... 31
1.3.1. Vai trò bảo đảm pháp chế, kỷ cương trong quản lý chất lượng .. 321
1.3.2. Vai trò ngăn ngừa vi phạm............................................................. 32
1.3.3. Vai trò thúc đẩy bảo đảm chất lượng............................................. 32
Kết luận chương 1 ........................................................................................... 33
CHƢƠNG 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ CHẤT LƢỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT
LƢỢNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................... 34
2.1. Tình hình quản lý chất lượng ở Việt Nam hiện nay ............................. 34
2.1.1. Khái quát chung về quản lý chất lượng ở Việt Nam ...................... 34
2.1.2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa .......... 35
2.1.3. Hoạt động tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp chất lượng tại Việt
Nam........................................................................................................... 41
2
2.2. Thực trạng công bố chất lượng cho hàng hóa trên địa bàn thành phố Hà
Nội................................................................................................................ 48
2.2.1. Sự phân công trên địa bàn và hoạt động của Chi cục Tiêu chuẩn,
Đo lường, Chất lượng Hà Nội.................................................................. 48
2.2.2. Điều tra về hiệu quả quản lý chất lượng sau công bố tại Sở Khoa
học và Công nghệ ..................................................................................... 51
2.2.3. Điều tra, khảo sát doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội về
3.3.5. Tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa bằng các công cụ, biện
pháp cần thiết ........................................................................................... 72
Kết luận chương 3 ........................................................................................... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 77
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 79
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Ngọc Song – Vụ
trưởng Vụ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ - Người hướng dẫn khoa học,
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành Luận văn này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy - Cô tại Khoa Khoa học Quản lý Đại học KHXHNV đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức, phương
pháp luận, kỹ năng, kinh nghiệm… trong suốt thời gian học tập tại Khoa.
Xin trân trọng cảm ơn Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Sở
Khoa học và Công nghệ thành phố Hà Nội, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường
Chất lượng thành phố Hà Nội, các cơ quan quản lý, các chuyên gia... đã hợp
tác, tiếp đón, cung cấp thông tin số liệu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá
trình điều tra, phỏng vấn phục vụ nghiên cứu.
Xin chân thành cám ơn các anh chị lớp Cao học Khóa QH-2012-X, về
sự giúp đỡ, hỗ trợ và động viên trong học tập.
Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian và năng lực
của bản thân còn hạn chế nên Luận văn còn những thiếu sót nhất định. Kính
mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của Thầy - Cô để Luận văn có thể
hoàn thiện hơn nữa.
Xin trân trọng cảm ơn./.
4
việc tổ chức và phối hợp hoạt động nhằm thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả
việc quản lý chất lượng đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trên địa bàn.
Những nội dung quy định hiện hành về chất lượng hàng hoá của Nhà
nước hoặc không theo kịp yêu cầu và đòi hỏi của phương thức quản lý tự
công bố tiêu chuẩn chất lượng, công bố phù hợp quy chuẩn, chứng nhận phù
hợp tiêu chuẩn, chứng nhận phù hợp quy chuẩn của doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh hoặc chậm được điều chỉnh, bổ sung, thay thế cho phù hợp với
đặc điểm, yêu cầu của phương thức mới.
Bộ máy tổ chức và lực lượng làm công tác kiểm tra, kiểm soát về chất
lượng hàng hoá trong sản xuất và trong khâu lưu thông ở địa phương, ngay ở
thành phố Hà Nội còn thiếu và yếu, hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng
6
được yêu cầu và đòi hỏi của quản lý chất lượng sau công bố chất lượng của sự
phát triển hàng hoá và thị trường trong nền kinh tế thị trường như hiện nay.
Một nguyên nhân chủ yếu nữa thuộc về các tổ chức doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ. Trong quá trình hội nhập, hình thức quản lý chất
lượng đã có sự thay đổi căn bản từ bắt buộc đăng ký chất lượng sang tự
nguyện công bố chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh nhưng nhận thức, trách nhiệm, được quản lý và tham gia
vào quá trình quản lý còn rất hạn chế, có phần đối phó, né tránh.
Là một cán bộ đang công tác tại một cơ quan nhà nước thuộc thành phố
Hà Nội quản lý về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tôi nhận thấy việc quản lý
chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng ở địa phương chưa thực sự đạt
hiệu quả. Chính vì vậy trong phạm vi luận văn Thạc sĩ, tôi đã tiến hành
nghiên cứu với đề tài “Sử dụng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả
quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm góp
lượng phù hợp trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng xuất khẩu tại
Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển số 130 (tháng 4 năm 2008) đã đề xuất
các nội dung về áp dụng mô hình quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp
vừa và nhỏ với định hướng tập trung là áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất
lượng ISO và quản lý chất lượng toàn diện (TQM).
Giáo trình Quản lý chất lượng của tác giả Ngô Phúc Hạnh, NXB. Khoa
học và Kỹ thuật, 2011 đã trình bày các nội dung về chất lượng sản phẩm và
dịch vụ, khách hàng và thị trường sản phẩm, chi phí chất lượng và năng suất,
quản lý chất lượng trong các tổ chức và hệ thống quản lý chất lượng, các
phương pháp, kỹ thuật quản lý chất lượng...
Đi sâu nghiên cứu về thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hóa, gần đây,
tác giả Phan Thanh Thôi đã nghiên cứu đề tài “Tăng cường các thiết chế kiểm
soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh
Tây Ninh”. Ở đề tài này, tác giả cũng đã nêu ra được những tồn tại, hạn chế
trong việc quản lý chất lượng hàng hóa và cũng đã đưa ra được một số giải
pháp để kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng.
Tuy nhiên các giải pháp đó chưa thực sự rõ ràng, cụ thể và phạm vi nghiên
cứu chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
8
Đối với Hà Nội, đây cũng là một vấn đề cần được quan tâm, cần được
nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện vì Hà Nội là trung tâm kinh tế của
cả nước, có số lượng lớn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và số lượng
hàng hóa lưu thông rất lớn. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có
một công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về chất
lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn thành phố Hà
Nội, và đặc biệt là sử dụng thiết chế để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng
hàng hóa
3. Mục tiêu nghiên cứu
Hà Nội;
- Khoảng 40 cơ sở sản xuất, cửa hàng kinh doanh trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Thiết chế tài chính cần phải được xây dựng như thế nào để nâng cao
hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội?
- Liệu xây dựng thiết chế tài chính có thể làm đổi mới công tác quản lý
nhà nước về chất lượng hàng hóa không?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Thiết chế tài chính cần phải được xây dựng dựa trên tư tưởng là đưa
ra các hình thức xử phạt về mặt tài chính nhằm ngăn chặn hiện tượng sản
xuất, kinh doanh hàng hóa có chất lượng không phù hợp với bản công bố.
- Việc xây dựng thiết chế tài chính có thể làm đổi mới và nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng
8. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin qua khảo cứu tài liệu:
Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng cho chương 1 và một phần nội
dung chương 2. Tác giả nghiên cứu các công trình nghiên cứu đã có về quản
lý chất lượng hàng hóa sau công bố, các thiết chế kinh tế, tài chính, xã hội
nhằm quản lý, kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố; các văn bản quy
phạm pháp luật liên quan đến quản lý, kiểm soát chất lượng hàng hóa, xử lý
vi phạm tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa…;
10
- Phương pháp điều tra qua phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý dữ liệu:
Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng trong nghiên cứu chương 2 của
luận văn. Đối tượng khảo sát là cán bộ, công chức đang làm công tác quản lý
Thiết chế xã hội là khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống
giám sát mọi hoạt động của xã hội. Nhờ các thiết chế xã hội mà các quan hệ xã
hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng. Về
mặt tổ chức, thiết chế xã hội là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại diện
cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau
của cộng đồng và cá nhân. Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn
có hệ thống giám sát không mang những hình thức có tổ chức. Đó là phong tục,
tập quán, dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên
trong cộng đồng xã hội. Các thiết chế xã hội đều có nhiệm vụ: đáp ứng các loại
nhu cầu khác nhau của cộng đồng và của các thành viên, điều chỉnh hoạt động
của các bộ phận trong cộng đồng và của các thành viên, kết hợp hài hoà các bộ
phận, đảm bảo sự ổn định của cộng đồng. Có nhiều loại thiết chế khác nhau:
+ Thiết chế kinh tế, tài chính bao gồm những thiết chế liên quan đến việc
sản xuất và phân phối của cải, điều chỉnh sự lưu thông tiền tệ, tổ chức và phân
công lao động xã hội.
+ Thiết chế chính trị là những thiết chế như chính phủ, quốc hội, các
đảng phái và tổ chức chính trị ...
+ Thiết chế tinh thần là những thiết chế liên quan đến các hoạt động văn
hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, tôn giáo.
+ Thiết chế giao tiếp công cộng bao gồm tất cả các khuôn mẫu và
phương thức hành vi trong sự giao tiếp công cộng.
Các mối quan hệ xã hội giữa người với người đều kinh qua những thiết
chế. Những thiết chế này đều có tính độc lập tương đối so với các quan hệ xã
12
hội ấy. Thiết chế thường có tính chất lạc hậu hơn so với các biến đổi của các
quan hệ xã hội. Việc cải biến và thay đổi các thiết chế xã hội liên quan trực tiếp
đến quản lí xã hội và các chính sách xã hội.
Thiết chế tài chính là một trong các thiết chế xã hội. Thiết chế tài chính
triển khai thực hiện các thiết chế tài chính, vấn đề căn bản là cần có sự phối
hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quy định các loại hình sản
phẩm, hàng hóa cần phải công bố chất lượng, hoạt động kiểm tra, giám sát và
xử lý các vi phạm về chất lượng hàng hóa sau công bố. Việc quản lý chất
lượng hàng hóa sau công bố liên quan đến nhiều chủ thể quản lý khác nhau.
Nếu thiếu sự phối hợp hiệp đồng giữa các chủ thể này thì các thiết chế tài
chính khó đi vào thực tiễn hoặc chỉ áp dụng đơn lẻ đối với một số ít hàng hóa,
một số ít doanh nghiệp sản xuất mà không tạo nên một thiết chế hiệu quả
trong kiểm soát chất lượng hàng hóa.
1.1.4. Khái niệm về chất lượng hàng hóa
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp cận và nói
nhiều các thuật ngữ "chất lượng", "chất lượng sản phẩm", "chất lượng cao",...
Mỗi quan niệm đều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhằm
thúc đẩy khoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện.
Tuy nhiên, chất lượng là một phạm trù phức tạp, một vấn đề gây nhiều tranh
cãi, vì vậy, định nghĩa về chất lượng có những khác biệt tùy theo đối tượng sử
dụng, tùy theo thời gian và cách tiếp cận.
Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, chất lượng là mức độ, thước
đo biểu hiện giá trị sử dụng của nó. Giá trị sử dụng của sản phẩm làm nên tính
hữu ích của sản phẩm và nó chính là chất lượng sản phẩm.
Chất lượng theo quan niệm thông thường được hiểu là tốt và tuyệt với
của sản phẩm. Quan niệm này mang tính trừu tượng vì chất lượng hàng hóa,
sản phẩm không thể xác định một cách chính xác, đầy đủ và như nhau trong
cảm nhận của các nhóm đối tượng.
Chất lượng theo quan niệm của nhà sản xuất là sự đáp ứng và phù hợp
của sản phẩm, dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu, quy cách được xác định
trước. Chất lượng được hiểu là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản
phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn các yêu cầu định trước cho nó trong điều
kiện kinh tế, xã hội nhất định.
14
sản phẩm hàng hoá sau đây:
15
+ Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể
hiện tính năng kỹ thuật nói lên tính hữu ích của sản phẩm.
+ Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu
cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội và phong tục.
+ Chất lượng sản phẩm phải được sử dụng trong tiêu dùng và cần xem
xét sản phẩm thỏa mãn tới mức nào của người tiêu dùng.
Ở nước ta, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (Luật số
05/2007/QH12) cũng chỉ rõ: Chất lượng sản phẩm, hàng hoá là mức độ của
các đặc tính của sản phẩm, hàng hoá đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công
bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Chất lượng hàng hóa thể hiện khả năng hàng hóa đáp ứng nhu cầu nhất
định của con người. Nói cách khác, chất lượng hàng hóa là thước đo mức độ
có ích của giá trị sử dụng. Chất lượng hàng hóa được xác định theo mục đích
sử dụng cụ thể, theo nhu cầu của đối tượng sử dụng. Chất lượng hàng hóa
không cố định mà phụ thuộc vào điều kiện sản xuất và sử dụng nhất định.
Cùng với phát triển của sản xuất, những tiến bộ khoa học, công nghệ và xu
hướng phát triển của xã hội, chất lượng hàng hóa cũng luôn luôn biến đổi,
không ngừng nâng cao, đạt yêu cầu toàn diện hơn, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu
của người tiêu dùng.
Chất lượng hàng hóa không chỉ đơn thuần là bảo đảm những tính chất
về mặt kỹ thuật mà còn mang cả nội dung kinh tế. Người ta có thể sử dụng
nguyên liệu quý, hiếm, dùng phương pháp công nghệ tiên tiến để sản xuất
những hàng hóa khá hoàn hảo, song như vậy làm cho chi phí sản xuất quá
lớn, giá thành quá cao, sản xuất sẽ không có lãi và cũng không thể kinh doanh
được. Người tiêu dùng không thể bỏ ra số tiền quá lớn để mua thứ hàng hóa
- Do chất lượng được đo bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu thông qua một
tập hợp các chỉ tiêu, do vậy, một sản phẩm, vì một lý do nào đó mà có chỉ tiêu
quy định không đạt yêu cầu, bởi vậy, không được thị trường chấp nhận, bị coi
là không có chất lượng, cho dù sản phẩm đó có giá trị sử dụng và ngay cả khi
sản phẩm đã được chế tạo từ công nghệ có thể hiện đại hay giá trị của một số
chỉ tiêu chất lượng có thể là rất cao. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở
để các nhà quản lý, các nhà sản xuất đưa ra những chính sách, chiến lược chất
lượng sản phẩm và kinh doanh của mình.
- Yêu cầu có thể là nhu cầu, đó là những đặc tính không thể thiếu đối
với khách hàng hay các bên quan tâm về sản phẩm được cung cấp, những
cũng có thể là mong đợi, nếu đáp ứng được sẽ đem lại tính cạnh tranh cao đối
với sản phẩm, ví dụ như hình thức bên ngoài của sản phẩm, thái độ phục vụ,
cung cấp dịch vụ, như vậy, có thể phân chia chất lượng thành hai loại: “chất
lượng phải có” “ứng với đáp ứng nhu cầu” và “chất lượng hấp dẫn” “ứng với
đáp ứng mong đợi”. Tuy nhiên, do sự thay đổi điều kiện sống nên nhiều đặc
17
tính trong một thời kỳ được coi là mong đợi nhưng ở thời kỳ sau đó được coi
là nhu cầu.
- Người kinh doanh không chỉ phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng
mà muốn tồn tại, phát triển phải lưu ý đến các bên quan tâm khác, ví dụ như
yêu cầu về pháp luật, tập quán hay văn hóa, sinh hoạt của cộng đồng xã hội và
thị trường vươn tới.
- Do chất lượng được đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu mà nhu cầu luôn
biến động nên chất lượng cũng biến đổi theo thời gian, không gian và điều
kiện sử dụng.
- Khi đánh giá chất lượng một sản phẩm, ta phải xem xét đặc tính chất
lượng là đặc tính của đối tượng có liên quan đến những yêu cầu cụ thể. Với
sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, kiểm soát mức độ thỏa mãn yêu cầu hoặc
đánh giá chất lượng còn lại sử dụng;
+ Chất lượng tối ưu là chất lượng đạt mức hợp lý nhất trong điều kiện
sản xuất và kinh tế-xã hội nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng
trong điều kiện cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa.
1.1.6. Vai trò của chất lượng hàng hóa
Chất lượng của sản phẩm, hàng hoá thể hiện ở mức độ đáp ứng của sản
phẩm, hàng hóa với nhu cầu của người tiêu dùng và bảo đảm an toàn cho con
người, động thực vật, tài sản, môi trường… Bảo đảm chất lượng sản phẩm,
hàng hoá có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với người tiêu dùng, người sản
xuất mà còn cả với nhà nước trong việc duy trì an ninh, trật tự công cộng và
lợi ích quốc gia
Chất lượng sản phẩm là chính sách do doanh nghiệp thực hiện các
chiến lược Marketing tạo uy tín và danh tiếng cho sản phẩm của doanh
nghiệp, khẳng định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường từ đó làm cơ sở cho
sự tồn tại và phát triển bền lâu của doanh nghiệp. Nhờ phát triển chất lượng
đã giúp tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm
môi trường.
Hiện nay, cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng
mạnh mẽ với qui mô và phạm vi ngày càng lớn. Sự phát triển của khoa học và
công nghệ cho phép các nhà sản xuất nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày
càng cao nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh. Tình hình trên đã
19
khiến cho chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh, trở thành yếu tố quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo hướng dẫn và kích thích tiêu dùng.
Riêng đối với sản phẩm là tư liệu sản xuất chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo
cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, nâng cao năng
này là một đa giác chất lượng (tiêu chuẩn) với mỗi đỉnh là một yêu cầu mà
sản phẩm/hoạt động cần đạt được. Câu hỏi thứ hai là “Làm thế nào để đạt
được các chuẩn mực/yêu cầu đã xác định với sản phẩm/hoạt động?”. Với câu
hỏi này, đơn vị tìm câu trả lời cho những câu hỏi nhỏ hơn trong mô hình 5W
+1H như tại sao phải thực hiện các hoạt động (Why), các công việc nào cần
được tiến hành (What), ai tiến hành (Who), vào bao giờ (When), ở đâu
(Where) và sẽ được thực hiện như thế nào (How). Các công cụ như phân tích
quá trình cải tiến theo vòng tròn P-D-C-A (hoạch định, thực hiện, kiểm tra và
điều chỉnh) và nguyên tắc coi trọng phòng ngừa hơn khắc phục có thể giúp
các đơn vị đã và đang áp dụng ISO 9000 trả lời được câu hỏi thứ hai này. Thứ
ba, “Làm thế nào để biết được sản phẩm/hoạt động đạt được các chuẩn mực
đã đề ra đến đâu?”. Câu hỏi này yêu cầu đơn vị phải thiết lập được một hệ
thống các “chốt kiểm soát” với sản phẩm/dịch vụ mà mình cung cấp cũng như
những hoạt động được thực hiện. Câu hỏi thứ tư cần lời giải trong quản lý
chất lượng là “Làm thế nào để kết quả thực hiện các chuẩn mực chất lượng
của sản phẩm/hoạt động được cải thiện?”.
Trả lời câu hỏi này giúp đơn vị thiết lập được một cơ chế cải tiến liên
tục với chất lượng sản phẩm và chất lượng hoạt động dựa trên các bước theo
dõi, phân tích, đánh giá và xác định cơ hội cải tiến, xác định và thực hiện các
biện pháp cải tiến, và theo dõi đánh giá kết quả cải tiến cũng như thực hiện
các điều chỉnh cần thiết cho hoạt động cải tiến.
22
Bảng 1.2. So sánh quản lý chất lƣợng truyền thống và đƣơng đại tại tổ chức
Đặc điểm
mãn nhu cầu kinh tế cao nhất
Sản phẩm
Sản phẩm cuối cùng
Tất cả sản phẩm và dịch vụ bao
gồm nội bộ và tiêu thụ bên ngoài
Chức năng
Kiểm tra, kiểm soát
Hoạch định, kiểm soát, cải tiến
Cách xem xét Đi thẳng vào vấn đề riêng Đặt trong mối quan hệ của toàn
biệt
hệ thống
vấn đề
Biện pháp
giải quyết
+ Áp đặt
Đánh giá
chất lượng
Theo tiêu chí, chỉ tiêu Bằng sự hài lòng của khách hàng
thiết kế
chứng nhận chất lượng hàng hóa, áp dụng và chứng nhận hệ thống quản lý
chất lượng; công nhận năng lực kỹ thuật và quản lý của các tổ chức hoạt động
trong lĩnh vực chất lượng; thanh tra và xử lý các vi phạm về chất lượng.
Những biện pháp quản lý của nhà nước về chất lượng này được thể hiện trong
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng. Điều đó phù hợp với xu
hướng chung của quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Nếu so sánh các quy định pháp luật của Việt Nam đối với chất lượng
hàng hóa hiện nay, kể cả Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật mới được
ban hành chúng ta thấy rằng phần lớn các nguyên tắc và yêu cầu của Hiệp
định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và Hiệp định Áp dụng các
biện pháp vệ sinh động và thực vật đã được đáp ứng. Tuy nhiên, cũng cần
phải chỉ ra một thực tế là đâu đó cũng còn có những sự không đồng bộ trong
các quy định có liên quan giữa các cơ quan khác nhau, trong các biện pháp
khác nhau được áp dụng mà nguyên nhân không phải từ phía chủ quan các cơ
quan muốn áp đặt sự không đồng bộ đó để cản trở thương mại trong nước và
với nước ngoài, mà do những yếu tố lịch sử và đặc biệt yếu tố về nguồn lực
(nhân lực và vật lực).
24