Tóm tắt LATS Nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của các công ty tài chính ở Việt Nam - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

NGUYỄN THỊ HƯƠNG LAN

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 62 34 04 10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - NĂM 2015


Công trình được hoàn thành tại:
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tếTrung ương

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Xuân Bá

Phản biện 1: ………………………………………………………….
………………………………………………………………………..
Phản biện 2 …………………………………………………………...
…………………………………………………………………………
Phản biện 3: ……………………………………………………………
………………………………………………………………………..

100% vốn đã bộc lộ những yếu kém toàn diện. Với lĩnh vực nhiều nhạy
cảm và đặc thù về kinh doanh vốn như các CTTC thì mức độ ảnh hưởng
còn nghiêm trọng hơn vì còn liên quan đến vốn huy động, vốn nhận ủy
thác từ các tổ chức và cá nhân.
Xét về tình hình kinh doanh, rất nhiều CTTC không có khả năng
tồn tại hoặc rất khó phục hồi. Các CTTC chưa thực hiện tốt vai trò dẫn
vốn trong nội bộ các tập đoàn/tổng công ty như mục tiêu đề ra lúc thành
lập, thậm chí có nhiều CTTC còn tạo thêm gánh nặng cho các tập
đoàn/tổng công ty. Có thể lấy dẫn chứng một vài số liệu năm 2014 theo
tính toán và tham khảo được của tác giả luận án này đối với 10 CTTC có


4
vốn góp của các tập đoàn/tổng công ty như sau: (1) Tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu không được đảm bảo; (2) Vốn chủ sở hữu thâm hụt; (3) Nợ xấu và
trích lập dự phòng của các CTTC rất lớn; (4) Giá trị sổ sách/cổ phần
(BVPS) thấp hơn mệnh giá (dưới 10.000 đồng/cổ phần)... Bên cạnh đó,
còn nhiều vấn đề phức tạp khác khó xử lý đang tồn tại dai dẳng những
năm gần đây.
Ngoài những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua,
nguyên nhân chính thuộc về vấn đề quản trị rủi ro, năng lực điều hành và
những bất cập về chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của các
CTTC ở Việt Nam... Ngoài ra, các CTTC ra đời cùng quá trình hình thành
các tập đoàn từ các tổng công ty 90, 91 có thể nói là mô hình “mang tính
lịch sử” nhằm mục đích tăng cường sức mạnh cho các tập đoàn/tổng công
ty. Thực tế, các tập đoàn/tổng công ty cũng đang trong quá trình tái cấu
trúc mạnh mẽ vì rất nhiều vấn đề yếu kém/tồn tại.
Với những lý do chủ yếu nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của các công ty tài
chính ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mô hình tổ chức và hoạt
động kinh doanh của các CTTC ở Việt Nam.
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
+ Đề tài luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu loại hình CTTC với
chức năng là loại hình TCTD phi ngân hàng (hoạt động theo Luật các tổ
chức tín dụng) và do các tập đoàn/tổng công ty lớn làm chủ sở hữu một
phần hoặc toàn bộ vốn. Đây là nhóm CTTC có số lượng nhiều nhất, có
quy mô lớn nhất và cũng có nhiều vấn đề nhất hiện nay ở Việt Nam.
+ Luận án tập trung giải quyết hai nội dung chính liên quan đến
“mô hình tổ chức” và “hoạt động kinh doanh” của các CTTC có vốn góp của
các tập đoàn/tổng công ty (còn gọi tắt là các CTTC trực thuộc tập đoàn/tổng
công ty).
- Về thời gian: Xem xét diễn biến chung về mô hình tổ chức và
tình hình kinh doanh của các CTTC với số liệu phân tích được sử dụng
chủ yếu là giai đoạn 4 năm gần đây từ 2011-2014.


6

4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở cách tiếp cận lịch sử và hệ thống.
4.2 Những phương pháp nghiên cứu cụ thể
* Đối với nguồn tài liệu thứ cấp
Luận án sử dụng những phương pháp thường được sử dụng trong
nghiên cứu từ những nguồn dữ liệu thứ cấp.
* Đối với nguồn tài liệu sơ cấp
- Tham khảo ý kiến chuyên gia:
Tham khảo các ý kiến của 5 chuyên gia làm căn cứ đề xuất những

tới người cần vốn. Tuy nhiên, không như dạng tài chính trực tiếp người
cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính,
các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối nghĩa
là người người cần vốn muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba,
đó chính là các tổ chức tài gián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian.
Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các hiệp hội cho
vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính...
Các chức năng cơ bản gồm: Chức năng tạo vốn, Chức năng cung
ứng vốn, Chức năng kiểm soát.
Có nhiều cách phân loại các tổ chức tài chính trung gian khác
nhau, cách cấu trúc hệ thống này cũng có thể khác nhau giữa các nước
hoặc các thời kỳ khác nhau. Trong thực tế, các tổ chức này rất đa dạng và
có thể gồm:
- Ngân hàng thương mại (commercial bank)
- Các hiệp hội tiết kiệm và cho vay (savings and loans association)
- Ngân hàng tiết kiệm (savings bank)
- Quỹ tín dụng (credit fund)
- Công ty tài chính (financial company)
- Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng (công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí)


8
- Các trung gian đầu tư (ngân hàng đầu tư, công ty đầu tư mạo
hiểm, quỹ đầu tư, quỹ tương hỗ, công ty quản lý tài sản)...
- Công ty chứng khoán
1.1.2 Công ty tài chính
Theo cách hiểu thông thường nhất: “CTTC là một tổ chức trung
gian đóng vai trò quan trọng thúc đẩy lưu thông loại hàng hóa đặc biệt là
vốn. Một sự dịch chuyển vốn từ người cung cấp sang người có nhu cầu
vốn được thực hiện bởi CTTC bằng hình thức phát hành trái phiếu, tín

CTTC là một loại hình doanh nghiệp hoạt động trên thị trường tài
chính, mang các thuộc tính đặc thù của TCTD phi ngân hàng. Vì thế, mô
hình tổ chức CTTC vừa mang bản chất chung của mô hình tổ chức doanh
nghiệp vừa mang bản chất đặc thù của TCTD. Trong thực tế, các bộ phận
có thể được hình thành theo những tiêu chí khác nhau và do vậy cũng xuất
hiện các mô hình tổ chức khác nhau. CTTC với chức năng là một TCTD
phi ngân hàng, với đặc thù là tổ chức kinh doanh vốn và tiền tệ do các tập
đoàn sở hữu vốn, CTTC không thể tổ chức theo mô hình quá giản đơn.
Tuy nhiên, tùy theo phạm vi hoạt động, tùy theo mức độ sở hữu của các
tập đoàn, tùy theo các sản phẩm dịch vụ mà CTTC cung cấp... các CTTC
sẽ lựa chọn mô hình tổ chức khác nhau.
1.2.2 Các loại mô hình tổ chức CTTC
- Mô hình tổ chức theo các bộ phận chức năng độc lập
- Mô hình tổ chức theo sản phẩm, khách hàng và địa bàn
- Mô hình tổ chức theo mạng lưới
1.2.3 Các tiêu chí và chỉ tiêu xác định, đánh giá mô hình tổ chức CTTC
- Tiêu chí chức năng tổ chức của mô hình tổ chức CTTC
- Tiêu chí nguyên tắc tổ chức của mô hình tổ chức CTTC
- Tiêu chí nguyên tắc thiết kế mô hình tổ chức CTTC
Mô hình tổ chức CTTC phải được thiết kế theo những nguyên tắc
nhất định. Việc xem xét, đánh giá mỗi mô hình tổ chức CTTC cần đối
chiếu xem có theo các nguyên tắc thiết kế tổ chức cơ bản hay không.
1.2.4 Những yêu cầu đặt ra đối với mô hình tổ chức của CTTC
Nhìn chung, để thành công trong kinh doanh trong bối cảnh mới,
mô hình tổ chức CTTC cần thỏa mãn các yêu cầu sau đây:


10
- Tính chất quy mô chuyển sang tính chất gọn nhẹ, phản ứng linh hoạt
- Chức năng được phân chia rõ ràng sang vai trò đa chức năng

11
(5) Tổng tài sản, trong đó xem xét 2 chỉ tiêu chính:
+ Tiền, vàng gửi và cho vay TCTD
+ Cho vay khách hàng
(6) Nợ phải trả, trong đó xem xét 2 thông tin chính:
+ Tiền gửi và vay các TCTD
+ Tiền gửi của khách hàng
(7) Vốn và các quỹ, trong đó xem xét 2 thông tin chính:
+ Vốn của TCTD
+ Lợi nhuận chưa phân phối
* Nhóm các chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng
vốn:
(8) EPS của 4 quý gần nhất (9) BVPS (10) ROEE (11) ROAE
* Nhóm các chỉ tiêu phản ánh giới hạn an toàn đối với TCTD:
(12) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
(13) Tỷ lệ nợ xấu
(14) Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.
1.4 Kinh nghiệm thế giới về mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh
của CTTC và bài học cho Việt Nam
1.4.1 Khái quát về mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của các
CTTC ở một số nước
Trong khả năng tham khảo được, tác giả trình bày về tình hình này
ở một số quốc gia phát triển hơn Việt Nam gồm: Hàn Quốc, Indonesia,
Malaisia, Trung Quốc, Cộng hòa Liên bang Đức, Hoa Kỳ. Thông tin chi
tiết được trình bày tại Phụ lục 10 của Luận án.
1.4.2 Mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của các CTTC trực
thuộc Tập đoàn ở một số nước
Tác giả đã tham khảo về 9 CTTC trực thuộc các tập đoàn:
Samsung, GM, Sony, GE, Siemens, Hitachi, Volvo, LG, IBM.
1.4.3 Một số nhận xét

KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM


13
2.1 Khái quát về các CTTC ở Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển các CTTC ở Việt Nam
Giai đoạn đầu tiên, Việt Nam đã có 2 CTTC cổ phần được thành lập
trên cơ sở Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính
ngày 23/5/1990 là: CTTC Cổ phần Sài Gòn (SFC) và CTTC Cổ phần
Seaprodex nhưng sau đã đều giải thể.
Giai đoạn hai, ra đời các CTTC trong các Tổng công ty nhà nước.
Từ năm 1995, triển khai Luật Doanh nghiệp Nhà nước, theo quyết định 90
và 91, Chính phủ đã thí điểm thành lập một số Tổng công ty Nhà nước
trong một số ngành then chốt nhằm tích tụ vốn, tập trung chuyên môn hóa
để nâng cao sức cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trải qua quá trình phát triển, đến Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày
04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của CTTC,
Điều 2, quy định: Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân
hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn
khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và
thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không
được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm.
Tính đến 31/12/2014, Việt Nam có tổng số 17 CTTC tồn tại dưới 2
hình thức chủ yếu: CTTC cổ phần, CTTC TNHH một thành viên (do nhà
nước sở hữu 100% vốn hoặc 100% vốn của một tổ chức nước ngoài). Trong
số đó, có 10 CTTC có phần vốn góp của các tập đoàn/tổng công ty tổ chức
theo hình thức CTTC tổng hợp (nhiều hoạt động kinh doanh), 7 CTTC còn
lại tổ chức theo hình thức CTTC chuyên ngành (tín dụng tiêu dùng).
2.1.2 Khái quát về tình hình hoạt động của các CTTC ở Việt Nam

- Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
- Công ty Tài chính cổ phần.
Đến 31/12/2014 ở Việt Nam chưa có CTTC nào thành lập theo mô
hình CTTC trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên mà chỉ có 2 loại hình
là CTTC cổ phần, CTTC TNHH MTV. Với sự góp vốn đầu tư chiến lược từ
Tập đoàn tài chính Credit Saison (Nhật Bản), ngày 22/4/2015, Công ty Tài


15
chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM chính thức đổi
tên thành Công ty Tài chính TNHH HD SAISON hay gọi tắt là HD
SAISON (là CTTC TNHH 2 thành viên trở lên duy nhất ở Việt Nam đến
nay). Cuối năm 2014, trong số 10 CTTC trực thuộc tập đoàn/tổng công ty,
có 6 CTTC theo mô hình công ty cổ phần, 4 công ty còn lại do nhà nước sở
hữu vốn 100% tổ chức theo mô hình công ty TNHH MTV.
Cơ cấu tổ chức các CTTC nói chung và các CTTC thuộc tập đoàn
kinh tế được quy định ở Mục 3 thuộc Chương IV, Luật các TCTD 2010.
Các CTTC thuộc các tập đoàn kinh tế nhưng đều hạch toán độc lập và có
bộ máy quản lý riêng. Các CTTC này có thể là công ty cổ phần cũng có
thể là công ty TNHH MTV nhưng nói chung cơ cấu tổ chức tương đối
giống nhau.
Gần đây nhất, ngày 07/05/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê
tài chính. Theo đó, CTTC được thực hiện nhiều hoạt động của NHTM hơn
và gồm 2 loại CTTC: Công ty tài chính tổng hợp và Công ty tài chính
chuyên ngành gồm CTTC bao thanh toán, CTTC tín dụng tiêu dùng, công
ty cho thuê tài chính.
Để thấy rõ hơn về cơ cấu tổ chức đối với CTTC, trong luận án tác
giả đã minh họa sơ đồ cơ cấu tổ chức của một vài CTTC thuộc: Mô hình
CTTC cổ phần và Mô hình CTTC TNHH MTV.

cũng vì thế ngày càng trở nên kém hiệu quả. EPS bình quân của 5 CTTC
cổ phần giảm từ 1.026 đồng/cổ phần vào năm 2011 xuống còn 23 đồng/cổ
phần vào năm 2014 (tương ứng giảm 98% trong 4 năm). Tỷ suất sinh
lời/vốn chủ sở hữu chỉ còn 2,04% năm 2014 (thấp hơn nhiều lần so với lãi
suất tiền gửi NHTM). Trong đó, các chỉ số EPS, ROA, ROE của VVF đã âm
khá lớn...
CTTC cổ phần Dệt may Việt Nam (TFC) lại được coi là một trong
số đơn vị có hoạt động lành mạnh thể hiện qua tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ
xấu trong nhiều năm luôn đảm bảo mức quy định của NHNN. Nợ xấu của
TFC từ 2011-2014 dao động trong khoảng 2%-2.54%, đây là mức tốt so
với hệ thống các TCTD nói chung. Tuy nhiên, sau khi tăng vốn lên 500 tỷ
đồng và từ đó đến nay doanh thu có xu hướng biến động thất thường.


17
LNST giảm bình quân mỗi năm 11,4%. Lợi nhuận giảm sút đã khiến cho
vốn chủ sở hữu giảm. LNST/VĐL bình quân từ 14,48% năm 2011 còn
4,1% vào năm 2014. Tỷ suất LNST/vốn chủ sở hữu năm 2014 chỉ bằng
khoảng 1/3 so với 2011.
Bảng 2.2: Số liệu bình quân về tình hình kinh doanh của 5 CTTC cổ phần

Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014


Tổng LNST

124,630

60,644

48,214

29,258

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

6.476,001

5.695,415

5.297,133

4.705,456

vay các TCTD

1.542,882


1.754,414

1.188,912

996,894

445,629

715,630

973,403

689,122

Vốn và các quỹ

1.252,994

1.224,987

1.224,021

1.217,453

- Vốn của TCTD

1.087,331

1.087,797


11.420

11.483

11.337

ROEA (%)

10,33

5,01

4,32

2,04

ROAA (%)

2,23

1,31

1,26

0,38

KẾT QUẢ KINH DOANH

CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Tổng tài sản

như nhiều sự việc sai phạm nhất. Với số lỗ lũy kế chồng chất như bảng 2.4
đã khiến cho RFC - CTTC có số vốn điều lệ cao thứ 2 trong số các CTTC
có vốn góp của các tập đoàn/tổng công ty không chỉ mất toàn bộ vốn của
nhà nước mà còn thâm hụt thêm đến 762 tỷ đồng.
Bảng 2.4. Tổng hợp tình hình tài chính của RFC giai đoạn 2011-2014

Đơn vị tính: Tỷ đồng
CHỈ TIÊU

Tổng tài sản (ước tính)
LNST (ước tính)
Lỗ lũy kế (ước tính)
Vốn điều lệ
Vốn chủ sở hữu (ước tính)

Năm 2011

2.000
-200
-670
1.000
800

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

2.000

soát đặc biệt của NHNN. Đây cũng là CTTC nằm trong nhóm có tình
trạng khó khăn nhất trong số tất cả các CTTC. Cuối 2014, lỗ trong kinh
doanh và trích lập dự phòng tín dụng và đầu tư của VFC lên đến khoảng
1.300 tỷ đồng, thâm hụt vốn chủ sở hữu 277 tỷ. Không chỉ là vấn đề hiệu
quả kinh doanh mà những sai phạm của VFC còn có tính chất rất phức tạp.
2.4 Đánh giá chung về mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của
các công ty tài chính ở Việt Nam
2.4.1 Đánh giá chung về mô hình tổ chức của các công ty tài chính
* Ưu điểm:
Thứ nhất, Tạo nên sự khác biệt và lợi thế riêng trong đàm phán
kinh doanh cho các CTTC trực thuộc tập đoàn/tổng công ty.
Thứ hai, Thuận lợi trong khai thác thị trường tiềm năng sẵn có.
Thứ ba, Có thể linh hoạt trong tổ chức và kinh doanh từ việc tận
dụng lợi thế quy mô nhỏ.
Thứ tư, CTTC có thể giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh
doanh.
Thứ năm, Thường có sự hỗ trợ từ công ty mẹ hoặc các cổ đông
sáng lập là các tập đoàn/tổng công ty.
* Hạn chế:
Một là, CTTC vừa phải hoạt động theo những quy định của
NHNN vừa phải làm theo những chỉ đạo của tập đoàn/tổng công ty.
Hai là, Với phạm vi kinh doanh hạn chế, các CTTC gần như
không có lợi thế trong điều kiện thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Ba là, các CTTC 100% vốn nhà nước nhìn chung hoạt động kém
hiệu quả hơn các CTTC cổ phần.


20
Bốn là, tồn tại tình trạng thiếu khách quan trong các quyết định quản lý.
Năm là, mô hình CTTC TNHH MTV do tập đoàn/tổng công ty sở

21
Thứ nhất, mô hình CTTC ra đời và phát triển trong giai đoạn nền
kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến, thay đổi.
Thứ hai, chịu ảnh hưởng từ tình hình khó khăn chung của toàn nền
kinh tế nhiều năm gần đây.
- Từ phía các cơ quan quản lý nhà nước:
Một là, Việc cấp phép ồ ạt và chưa định ra được hướng đi rõ ràng
cho loại mô hình này ở Việt Nam.
Hai là, Chưa có những chiến lược tổng thể và cảnh báo từ phía các
cơ quan quản lý nhà nước về số lượng, quy mô của các TCTD nói chung
và CTTC nói riêng phù hợp với quy mô thị trường Việt Nam.
Ba là, Sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước chưa chặt chẽ.
Bốn là, Hệ thống quy định về công bố thông tin và minh bạch
thông tin về hoạt động của các CTTC còn hạn chế.
Năm là, Việc triển khai các văn bản pháp lý và hướng dẫn thực
hiện đối với các CTTC còn chậm, gây lúng túng cho CTTC về kinh doanh.
- Từ phía Tập đoàn/tổng công ty:
Thứ nhất, Còn lúng túng và thiếu nhất quán đối với vai trò và tầm
quan trọng của CTTC.
Thứ hai, Thiếu hỗ trợ hoặc khó có thể hỗ trợ về vốn và thị trường.
Thứ ba, Sa đà vào các hoạt động đầu tư và nhận đầu tư ủy thác,
thậm chí chỉ định cho các CTTC đầu tư vào các dự án không thật hiệu quả.
- Từ phía các CTTC:
Thứ nhất, Hạn chế về chức năng, phạm vi kinh doanh của mô hình
CTTC so với các NHTM trong khi CTTC phải cạnh tranh với NHTM, phải
đảm bảo các quy định về hoạt động đối với một TCTD nghĩa là như NHTM.
Thứ hai, CTTC thường phải chịu chi phí vốn cao.
Thứ ba, Là định chế tài chính mới nên chưa có những kinh
nghiệm cần thiết trong việc thành lập CTTC ở Việt Nam.
Thứ tư, Việc tăng vốn của các CTTC theo Nghị định 141/2006

nhiều lý do trong đó quan trọng nhất là: Làm mất đi tính độc lập của một
trung gian tài chính từ đó ảnh hưởng đến tính an toàn của TCTD; Việc ra
quyết định cho vay và đầu tư không thể tránh khỏi sự chủ quan (không


23
trên cơ sở phương án cho vay và đầu tư thực sự khả thi), nể nang, theo
mệnh lệnh, thậm chí là lợi ích nhóm...
(4) Chỉ khi có chủ trương đúng đắn và phát huy tốt, CTTC với vai
trò là một dạng TCTD phi ngân hàng mới thực sự làm tăng sức mạnh cho
các tập đoàn/tổng công ty đang sở hữu vốn tại các CTTC ở Việt Nam.
(5) Thời gian qua đã chứng minh rất rõ ràng rằng nếu xét trên bình
diện chung của thị trường, nếu để cạnh tranh bình đẳng với các NHTM thì
thực sự hoặc có thể nói là CTTC không thể cạnh tranh được.
(6) Mô hình tổ chức của CTTC trực thuộctập đoàn/tổng công ty đã
bộc lộ nhiều nhược điểm.
(7) Trong thực tế, rất nhiều chuyên gia nghi ngờ về sự tồn tại của
mô hình này. Lãnh đạo của nhiều tập đoàn/tổng công ty không đủ niềm tin
và vận hành trơn tru theo chủ trương và mục đích thành lập CTTC ban đầu.
Lãnh đạo của nhiều CTTC đã tỏ ra mất niềm tin, “đuối sức” và mất phương
hướng vào tương lai của các CTTC.
(8) Hệ thống quy định pháp lý cho riêng loại hình CTTC chưa đầy
đủ và chưa mang tính khuyến khích, chưa tạo thuận lợi cho mô hình này
có lợi thế để cạnh tranh với các trung gian tài chính khác, đặc biệt là NHTM.
(9) Hiệu quả kinh doanh không như kỳ vọng: Biểu hiện là rất
nhiều các CTTC hoạt động yếu kém, thậm chí nhiều công ty thua lỗ, mất
vốn. Nhiều tập đoàn/tổng công ty bị ảnh hưởng trầm trọng.
(10) Việc kiểm soát và quản trị rủi ro ở các CTTC nhìn chung còn
yếu. Chất lượng cán bộ nhìn chung chưa phải lợi thế của CTTC khi tham
gia cạnh tranh trên thị trường.

3.2 Chủ trương của Đảng, Nhà nước và quan điểm của tác giả về hoàn
thiện mô hình tổ chức và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh các CTTC
ở Việt Nam
3.2.1 Một số chủ trương chung của Đảng và Nhà nước
- Tái cơ cấu các công ty tài chính
- Các tập đoàn/tổng công ty cần chú trọng phát triển theo chiều
sâu và thực hiện thoái vốn tại các CTTC trực thuộc.


25
3.2.2 Quan điểm của tác giả
- CTTC trực thuộc tập đoàn/tổng công ty nhà nước là mô hình
không phù hợp với điều kiện Việt Nam
- Cần thực hiện tái cơ cấu các CTTC mạnh mẽ và nhanh chóng hơn
nhằm hạn chế việc thất thoát vốn của nhà nước
- Về lâu dài, việc thành lập CTTC trực thuộc nên xuất phát từ nhu
cầu và đặc thù riêng của chính các tập đoàn/tổng công ty
- Củng cố tổ chức và hoạt động kinh doanh của nhóm CTTC cổ phần
3.3 Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và đẩy mạnh hoạt động
kinh doanh của các CTTC ở Việt Nam
3.3.1 Nhóm các giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức
- Hợp nhất hoặc sáp nhập CTTC với các NHTM là giải pháp phù
hợp với bối cảnh hiện nay
- Chuyển đổi mô hình hoạt động tùy theo thế mạnh của từng CTTC
- Hoàn thiện hệ thống quy định nội bộ của các CTTC
- Nâng cao vai trò của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
- Đầu tư đổi mới hệ thống công nghệ thông tin
3.3.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh những dịch vụ
hiện tại của các CTTC
- Phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status