B
TR
GIÁO D C VÀ ÀO T O
NG
CHÂU
I H C KINH T TP.HCM
C HU NH K
LU N V N TH C S KINH T
TP. H Chí Minh – N m 2001
Mục Lục
Chương I
TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM HEO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG.
1. Vai trò của sản phẩm heo trong nền kinh tế ........................................ 1
2. . Thò trường heo tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. ................................... 2
2.1 Cầu thòt heo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long............................................... 2
2.2 Cung thòt heo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. ............................................ 5
3. Ýù nghóa của giải pháp. .......................................................................... 6
Chương II
THỰC TRẠNG VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM HEO
a.2) Mạng lưới đầu vào................................................................. 18
a.3) Dòng chảy sản phẩm đầu ra.................................................. 19
b) Nhà hàng khách sạn. ........................................................................... 20
b.1) Tổng quan ............................................................................. 20
b.2) Mạng lưới đầu vào................................................................. 20
b.3) Dòng chảy sản phẩm đầu ra.................................................. 21
6. Người tiêu dùng. ................................................................................... 21
II. PHÂN TÍCH CƠ CẤU ĐIỀU HÀNH THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM
HEO (CONDUCT)........................................................................................ 23
1. Người chăn nuôi.................................................................................... 23
2. Thương lái( Lái heo) ............................................................................. 25
3. Lò mổ.................................................................................................... 25
4. Người tiêu dùng công nghiệp. .............................................................. 26
a) Nhà chế biến. ........................................................................... 26
b) Nhà hàng ................................................................................. 27
5. Người bán lẻ. ........................................................................................ 27
6. Người tiêu dùng. ................................................................................... 28
III. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA CÁC TÁC NHÂN THAM GIA
TRONG THỊ TRƯỜNG HEO(PERFORMANCE) .............................................. 30
1. Người chăn nuôi .................................................................................... 30
2. Thương lái (Lái heo) ............................................................................. 31
3. Lò mổ (bao gồm cả những thương lái mua heo hơi sau đó
giết mổ để bán)......................................................................................... 32
4. Người bán lẻ ........................................................................................ 33
IV. NHỮNG TỒN TẠI MÀ CÁC TÁC NHÂN GẶP PHẢI.(RÚT RA
TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU)................................................................................... 34
V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI KHÁC............................................................. 40
Chương III
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ TIÊU
người chăn nuôi .......................................................................... 54
2.5 - Giữ vững thò trường trong nước, chủ động tìm thò
trường xuất khẩu.......................................................................... 55
2.6 - Kích cầu sản phẩm heo thông qua việc đẩy mạnh
ngành công nghiệp chế biến, đa dạng hoá thực phẩm
chế biến từ thòt heo .................................................................... 57
Kết luận ..................................................................................................... 59
-3-
Lời Nói Đầu
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
CHĂN NUÔI HEO LÀ MỘT TRONG NHỮNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP KHÔNG KÉM PHẦN
QUAN TRỌNG Ở VIỆT NAM, ĐẶC BIỆT LÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÀ NƠI
CÓ TỚI 80% NGƯỜI DÂN SỐNG BẰNG NGHỀ NÔNG NGHIỆP. CHÍNH VÌ VẬY, NGƯỜI DÂN
Ở ĐÂY ĐÃ PHẦN NÀO GẮN BÓ VỚI HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI HEO VÀ ĐÂY CŨNG CHÍNH
LÀ NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN.
THỰC VẬY, CON HEO NGÀY NAY
70 – 80% THỊT NÓI CHUNG CHO NHU CẦU TIÊU DÙNG CẢ NƯỚC
MÀ CÒN HƯỚNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU.
KHÔNG CHỈ CUNG CẤP
Nhìn chung trong thời gian qua ngành chăn nuôi heo ở nước ta đã được Nhà
nước phần nào quan tâm đến. Đây cũng là cơ hội cho người dân đẩy mạnh chăn
nuôi so với các nước trong khu vực mà nguyên nhân chủ yếu là do phương thức
chăn nuôi ở nhiều hộ nông dân, trang trại và các tổ chăn nuôi.... chủ yếu là mang
tính truyền thống, dựa vào kỹ thuật, kinh nghiệm vốn có và các nguồn thức ăn, phụ
-
Xếp hạng tiêu thức
-
Phương pháp phân tích SCP (mô hình cấu trúc thò trường) cụ thể:
• Yếu tố S: cấu trúc thò trường (Structure)
• Yếu tố C: hoạt động của thò trường (Conduct)
• Yếu tố P: hiệu quả hoạt động (Performance)
-
Phân tích kênh phân phối ( Marketing Channel)
4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
-
Đòa điểm nghiên cứu giới hạn ở ba tỉnh đại diện là Cần Thơ, Sóc Trăng và Vónh
Long
-
Cỡ mẫu nhỏ trên mỗi tác nhân trong kênh phân phối
-
Không phân tích đến tác nhân người tiêu dùng cuối cùng
1996 đến 2000 ngành chăn nuôi heo đã tạo ra thu nhập quốc dân đáng kể (xem
bảng 1)
Bảng 1: Giá trò sản lượng đóng góp của ngành chăn nuôi heo
Năm
Sản lượng thòt
(1000 tấn)
Đơn giá
(đồng/tấn)
Thành tiền
(tỷ đồng)
1996
1.076,0
12.789
13.760.964
1997
1.154,2
11.645
13.440.659
Hai là : Ngành thu hút lao động và giải quyết việc làm cho xã hội. Ước tính vào
năm 2000 lao động trong khu vực này chiếm khoảng 15% lao động ở nông thôn.
-
Ba là: Là nhân tố quan trọng góp phần làm thay đổi cơ cấu bữa ăn hàng này của
người dân.
Ngành chăn nuôi heo phát triển sẽ đảm bảo nguồn thực phẩm giàu dinh
dưỡng, ổn đònh cho người dân. Đây là nhân tố vô cùng quan trọng trong bữa ăn
hàng ngày.
-6-
Bảng 2: Giá trò dinh dưỡng của thòt heo so với các loại thòt khác
Loại Thòt
Nước
Chất Đạm
Chất Béo
Chất Khoáng
Thòt heo loại 1 73.0
19.0
1.0
Thòt trâu
73.0
22.8
3.3
0.9
Thòt thỏ
69.3
21.5
8.0
1.2
Nguồn: Sổ tay chăn nuôi
-
Bốn là: góp phần làm cân đối tỷ lệ chăn nuôi và trồng trọt hướng đến một nền
nông nghiệp phát triển dựa trên sự phát triển cân đối giữa trồng trọt và chăn
nuôi.
ở từng chủng loại sẽ rất lớn.
Theo số liệu điều tra trong năm 98 và 99, giá thòt có biến động nhẹ theo từng
quý trong năm và có tăng đột biến vào dòp Tết năm 99. Vì vậy, khối lượng thòt tiêu
thụ của hộ gia đình cũng thay đổi theo nhưng mức thay đổi không lớn (Bảng 1 –
PL1).
Phần lớn các hộ gia đình giảm mua thòt khi giá tương đối cao. Theo số liệu
điều tra, có 41% số hộ giảm lượng mua tại những thời điểm giá cao và theo họ đây
là nguyên nhân quan trọng nhất làm giảm lượng thòt tiêu dùng của hộ gia đình. Từ
quý I đến quý IV năm 98, giá thòt nạc dao động nhẹ từ 29.600 đ đến 29.800 đ/kg,
tương ứng với các mức giá cao nhất vào quý I và thấp nhất vào quý II. Sự biến
động của giá tuân theo tập quán tiêu dùng của người dân nước ta. Vào các tháng
đầu năm, tháng Giêng, tháng Hai trùng với các dòp lễ, Tết lớn của dân tộc nên
người dân có nhu cầu tiêu dùng, dự trữ thực phẩm cao, nhất là thòt heo. Mọi nhà ai
cũng chuẩn bò vài kg thòt tươi hay chế biến trong nhà để phục vụ ngày Tết nên
lượng thòt heo tiêu thụ trong những ngày này rất lớn. Theo quy luật cung cầu, cầu
tăng cao dẫn đến giá tăng, đặc biệt là đối với những sản phẩm thiết yếu như thòt
heo. Ngược lại, vào các tháng trong quý II, nhu cầu về thòt của người dân trầm lắng
trở lại sau những ngày Tết sôi nổi. Số hộ có nhu cầu về thòt giảm đáng kể trong các
tháng này nên giá cả sẽ giảm theo.
Trong những ngày Tết 99 (đầu 2000), diễn biến của thò trường cũng xảy ra
tương tự những ngày đầu năm 1998, giá thòt heo tăng cao, đạt 31.900 đồng/kg đối
với thòt nạc và 28.300 đồng/kg đối với thòt đùi. Nhìn chung, tất cả các chủng loại
thòt heo trong Tết 99 đều tăng cao so với năm 1998. Điều đó dẫn đến lượng thòt tiêu
thụ trung bình của mỗi hộ giảm trong dòp Tết này, khoảng 4,1 kg/hộ/tháng.
Lượng cầu về các sản phẩm thòt gắn liền với lượng cầu về heo hơi (heo bán
nguyên con) vì heo hơi là nguồn cung cấp các sản phẩm từ heo. Do vậy, diễn biến
-8-
giá cả heo hơi trên thò trường gắn liền với giá cả thò trường của các chủng loại thòt
những loại thực phẩm khác để thay thế cho thòt heo và nhu cầu thòt heo có xu
hướng giảm mạnh. Tuy nhiên, cho đến nay lượng tiêu thụ thòt heo còn biến động do
những nguyên nhân khách quan như dòch bệnh, thiên tai lũ lụt và các thời điểm
khác nhau trong năm.
-9-
Lượng thòt heo được sản xuất ra còn được dùng để xuất khẩu. Tuy nhiên
lượng thòt xuất khẩu còn rất hạn chế. Theo Bộ Thương Mại, sản lượng thòt heo sản
xuất và chế biến ở nước ta hiện nay ước tính khoảng 1,9 triệu tấn thòt hơi/năm,
trong đó tiêu thụ nội đòa là 96 – 97%, còn xuất khẩu rất ít và lại chưa có thò trường
ổn đònh. Sở dó kim ngạch xuất khẩu thòt heo thấp là do chất lượng thòt heo của ta
chưa cao, tỷ lệ lợn nạc của Mỹ và Trung Quốc cao gấp 1,5 lần thòt heo của ta. Có
nguy cơ đàn heo siêu nạc của ta trở thành heo “siêu mỡ” do ta chưa có đủ quy trình
chăn nuôi sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Giá thành sản xuất của ta
còn cao so với các nước khác chủ yếu do giá thức ăn công nghiệp quá cao. Hiện
giá heo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ở ĐBSCL là 900 – 1200 USD trong khi giá bình
quân tại Trung Quốc chỉ có 650 USD/tấn và Mỹ là 600 – 800 USD/tấn, trong khi tỷ
lệ nạc của họ cao hơn 1,5 lần. Thò trường xuất khẩu chính của ta là Liên bang Nga
nhưng cũng gặp nhiều rủi ro trong cơ chế thanh toán L/C.
2.2 Cung thòt heo tại thò trường Đồng Bằng Sông Cửu Long:
Chăn nuôi heo là một tập quán lâu đời của người dân ĐBSCL, cả ở thành thò
lẫn nông thôn. Người dân ở đồng bằng có thói quen nuôi heo để tận dụng những
thực phẩm phế thải trong gia đình và góp phần cải thiện thu nhập. Đa số người dân
chăn nuôi nhỏ, năm bảy con một nhà. Tuy nhiên, vẫn có một số ít trại heo chăn
nuôi với quy mô lớn vài chục con, nuôi heo với mục đích thương mại. Hiện nay, số
hộ nuôi heo ở thành thò ít dần. Lượng heo nuôi chủ yếu ở nông thôn do có nhiều
phế phẩm của gia đình như tấm, cám.....không gian lớn nên ít ảnh hưởng đến xung
quanh.
chăn nuôi lớn có nhiều kinh nghiệm nên họ chọn lọc giống cẩn thận cho năng suất cao
và tiết kiệm được thức ăn. Theo một chủ một trại chăn nuôi heo giống tại Sóc Trăng thì
bình quân một con heo giống tốt chỉ tiêu thụ một lượng thức ăn khoảng 2,5 – 2,7
kg/ngày, trong khi heo thường phải tốn khoảng 3,5 - 4 kg/ngày
Theo ý kiến của nhiều người thì việc nuôi heo không có lãi hay lãi ít do chi phí
chăn nuôi, giá bán lại bấp bênh, nhưng lại có một nghòch lý là số lượng đàn heo tăng dần.
Điều đó có thể là do lối sống của người dân. Người dân muốn tận dụng những phế phẩm
của gia đình, và thời gian nhàn rỗi để tăng gia sản xuất, cải thiện đờøi sống. Đối với một số
người, nuôi heo còn là thú tiêu khiển lúc nông nhàn. Một số người khác cho rằng đó là
nghề gia truyền, không thể từ bỏ hay là niềm đam mê, là nghề tâm huyết của họ và do
vậy, họ tìm cách nâng cao hiệu quả chăn nuôi để có thể đứng vững với nghề. Hiện nay, với
sự trợ giúp kỹ thuật của Phòng nông nghiệp hay trung tâm khuyến nông tại các đòa
phương, kỹ thuật chăn nuôi ngày càng hoàn thiện, tránh bớt rủi ro và năng suất cũng tăng.
Hiện nay, trên thò trường thòt heo, lượng cung tăng dần trong khi lượng cầu
không ổn đònh do bò tác động bởi rất nhiều nhân tố. Do vậy giá cả thòt heo ổn đònh
và có xu hướng giảm trong thời gian gần đây nên đã làm nản lòng những nhà chăn
nuôi. Tuy nhiên số hộ bám nghề heo vẫn còn cho nên trong thời gian tới lượng heo
sản xuất vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm. Tình hình thò trường bất lợi sẽ không
mang lại tín hiệu lạc quan cho người chăn nuôi.
3. Ý nghóa của giải pháp:
Thông qua phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp, luận văn sẽ cung cấp
các tài liệu cần thiết nhằm góp phần giúp các nhà làm chính sách hoàn thiện các
chính sách liên quan đến phát triển chăn nuôi, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu sản
phẩm heo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cụ thể:
• Đối với nông dân ở Đồng Bằng Sông Cửu Long: luận văn tạo điều kiện phát
triển thò trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm heo, kích thích phát triển chăn
nuôi và tăng thu nhập cho nông dân.
• Đối với chính quyền đòa phương và các nhà làm chính sách: có căn cứ khoa
Sơ đồ 1: Kênh phân phối sản phẩm thòt heo ở ĐBSCL.
1. Người chăn nuôi:
1.1 - Tình hình chung người chăn nuôi:
Theo số liệu điều tra 157 hộ năm 1999 thì số heo bình quân được nuôi trên
mỗi hộ khoảng 09 con, so với năm 1998 là 17 con, cho thấy xu hướng chăn nuôi
trong vùng nghiên cứu đang giảm xuống (khoảng gần 50%) (cột bình quân ở bảng
4). Giảm nhiều nhất là ở huyện Bình Minh (Vónh Long), huyện Long Phú (Sóc
Trăng) và Thành phố Cần Thơ. Trọng lượng xuất chuồng bình quân là 109 kg/con.
Về phương thức chăn nuôi thì đa số Người chăn nuôi sử dụng chuồng trại, không
nuôi thả. Diện tích chuồng trại hiện đang nuôi bình quân trên hộ theo kết quả
nghiên cứu là 33m2/hộ và mật độ chuồng bình quân trên một con heo là 4m2.
- 12 -
Bảng 4: Trọng lượng xuất chuồng và qui mô chăn nuôi
Chỉ tiêu
Đơn vò
tính
ĐỊA PHƯƠNG
Cần
Thơ
Ô Môn
Tam
Bình
18,18
Tổng số con con/hộ
nuôi
hàng
năm 1998
16,97
13,20
19,88
22,86
19,43
12,92
17,54
Tổng số con con/hộ
nuôi
hàng
năm 1999
8,94
7,10
quân
heo
giống
mua
16,70
19,11
14,92
16,40
16,20
15,24
15,66
Trọng lượng kg/con
xuất chuồng
bình quân
111,57
115,57
103,96
107,50
như mang tính truyền thống và còn đơn giản không mang tính kỹ thuật lắm trong
quá trình chăn nuôi. Tuy nhiên có một yếu tố đáng được lưu ý ở đây là Người chăn
nuôi đã biết tận dụng diện tích chăn nuôi, đặc biệt là phân chia mật độ nuôi heo
trung bình 4m2 có thể cho là thích hợp.
- 13 -
1.2 - Kênh marketing của người chăn nuôi:
Mạng lưới mua vào và dòng chảy sản phẩm đầu ra:
Nói chung mạng lưới mua vào và bán ra của Người chăn nuôi được tóm tắt
trong sơ đồ này bao hàm hai phần. Trước hết là sơ đồ nói về kênh đầu vào của
Người chăn nuôi. Người chăn nuôi sử dụng con giống thông qua việc mua từ các
Người chăn nuôi khác (cá nhân và các tổ chức của Nhà nước) hoặc tận dụng nguồn
giống sẵn có từ gia đình. Thực tế, con giống mà Người chăn nuôi tự sản xuất chỉ
chiếm 19,7% trong khi đó phần lớn Người chăn nuôi mua heo từ trong thôn đó là
nơi mà họ đang sống chiếm 31,8% kế đó là từ trong xã chiếm 23,6% và có một số
ít mua heo giống từ chợ chiếm 4,5%
KÊNH MUA HEO
Sơ đồ 2: Khu vực thò trường đầu vào và đầu ra của Người chăn nuôi
Từ gia đình
(19,7%)
Từ Thôn
Đang Ở
(31,8%)
Từ Trong
Xã
6,5%
0,6%
93,1%
NGƯỜI CHĂN NUÔI
LÒ MỔ
Trong tỉnh
Ngoài tỉnh
Về hoạt động đầu ra của Người chăn nuôi đối với sản phẩm heo hơi và heo
con giống. Có 93,1%; 6,5%; 1,3% lần lượt là heo con giống được bán cho hàng
xóm, lái heo và lò mổ. Những người này hầu như đến từ trong ấp, xã của Người
chăn nuôi đang sinh sống. Đối với heo hơi, thì người mổ thòt là khách hàng chủ yếu
của Người chăn nuôi (chiếm 56%), kế đến là lái heo (43,4%). Những người mua
heo hơi này phần lớn cũng đến từ trong ấp, xã mà Người chăn nuôi đang sống.
Sản lượng bán ra của Người chăn nuôi cho cả heo giống và heo hơi trong
những năm qua có phần giảm xuống khá rõ rệt. Điều này có thể là do phần nào
tình hình chăn nuôi của người dân trong những năm gần đây ở ĐBSCL có phần
giảm xuống mà như đã trình bày ở phần trước.
Vấn đề giá bán, kết quả kiểm đònh theo bảng 5 cho thấy, giá cả giữa hai thời
điểm giữa năm 1998 và Tết năm 1999 hầu như có sự khác biệt ý nghóa tại 1% Đối
với sản phẩm heo con giống và heo hơi có trọng lượng từ 70 - 90kg. Còn loại heo
với trọng lượng dưới 50 kg và trọng lượng trên 90 kg thì giá cả tại thời điểm giữa
năm 1998 và Tết 1999 có sự khác biệt ở mức ý nghóa lần lượt là 15% và 5%. Tóm
10.772,73
568,18
Trọng lượng từ 50-70 kg
đồng/kg
17.106,06
12.121,21
4.984,21
1,18
Trọng lượng từ 70-90 kg
đồng/kg
12.062,50
13.704,17
1.641,67
-5,50***
Trọng lượng> 90 kg
và heo hơi từng q có sự biến động như hình vẽ. Trong đó giả cả của heo hơi được
bán ra cao nhất là vào Q 4, bình quân là 14.000 đồng/kg, trong khi đó giá thấp
của loại sản phẩm này là 13.200 đồng/kg ở vào Q 3. Tuy nhiên sự biến đổi này
có khoảng cách nằm trong khoảng 200 đ/kg đến 1.000 đồng/kg.
2. Người lái heo( Thương lái)
2.1 - Tổng quan về lái heo:
Qua phỏng vấn 22 Người lái heo kết quả cho biết rằng, có khoảng 45,5% họ tham
gia nhập ngành từ 1995 đến nay. So với thời gian trước 1995 con số này tăng gần một
nữa. Việc tham gia ngành tăng lên là do tình hình sản xuất trong những năm gần đây có
sự tăng lên nên kích thích người lái heo hành nghề. Trình độ học vấn của những người
này hầu như là cấp 2 (chiếm 45,5%), kế đó là cấp 1, sau cùng là cấp 3.
2.2 - Hệ thống kênh marketing:
a) Mạng lưới đầu vào và dòng chảy sản phẩm đầu ra:
Việc thu mua sảm phẩm đầu vào của Người lái heo được tóm tắt ở sơ đồ 3.
Có 66,7% sản phẩm vào được cung cấp trực tiếp từ người nuôi ở cùng huyện, và
11,1% từ người nuôi ở cùng xã. Bên cạnh việc mua trực tiếp từ người nuôi, Người
lái heo cũng mua sản phẩm từ những bán ngoài tỉnh chở đến (7,4%) và mua trực
tiếp từ người nuôi ở ngoài tỉnh (14,8%). Phương tiện hoạt động của họ khi mua vào
chủ yếu là bằng xuống ghe và bán ra bằng phương tiện (xe lôi) thuê mướn. Thò
trường đầu vào của Người lái heo phần lớn là nằm ngoài thôn. Tuy nhiên khi bán
ra thì phần lớn họ bán tại khu vực chợ gần nơi mà họ đang sinh sống.
Người lái heo được chọn ra để điều tra ở đây là Người lái heo thuần tuý, là người
mua heo thòt sau đó bán không thông qua giết mổ. Trong tháng hầu như họ luôn tranh
thủ hoạt động mua bán của mình. Thò trường đầu ra của họ là lò mổ. Quá trình mua bán
của họ không có dự trữ. Bình quân trong một ngày sản lượng bán ra của Lái heo bình
quân từ 500kg đến 600kg/ngày. Giá bán trung bình là 14.937 đồng/kg.
- 16 -
tại nhà. Giá mà Người lái heo đi mua tại nông trại nuôi thì sẽ thấp hơn giá đối với
người bán chở đến. Theo bảng 6 ta tính được mức chênh lệnh là 675đồng/kg, giá trò
này sẽ bù vào chi phí vận chuyển và chi phí khác( chi phí cơ hội) liên quan trong
quá trình đi mua vào của họ. Nếu xét riêng trong năm, thì giá cả mua vào cũng có
sự khác nhau, đặc biệt vào mùa đông thì giá cả mua có phần cao hơn các mùa còn
lại. Giá cao bởi vì nhu cầu mùa vụ cho những ngày tết trở nên gia tăng, và hầu như
mỗi nhà ai nấy đều cần có thòt heo trong nhà để mừng xuân mới theo cách cổ
truyền của ông cha.
- 17 -
Bảng 6: Giá ở hai vò trí mua khác nhau của lái heo.
N
Minimum
Maximu
m
Mean
Std.
Deviation
20
12,000
17,000
15,500.00
707.1
2
4
13
8,50
6,36
2
0
1
0,85
0,64
Giá mua tại nông trại (đồng/kg)
Lượng heo hơi bq tại nông trại
(tấn/ngày)
Số tấn heo hơi bq tại nông
trại(tấn/ngày)
0,75
0,73
0,76
2.Thực tế giết mổ (tấn/ngày)
0,41
0,39
0,44
3. Số ngày hoạt động bình quân (ngày/tháng)
26,9
19,7
7,2
55
53
58
Chỉ tiêu
0,3254
Giá mua bình quân (đồng/kg) 19 11000,00 16500,00
14223,6842
b) Dòng chảy sản phẩm đầu ra của Lò mổ
Nói một cách tổng thể không phân nhóm, có 70,6% Lò mổ tự giết mổ,sau đó
bán sỉ và lẻ cho khách hàng của họ, kế đó có 23,5% là thuê mổ sau đó bán sỉ, còn
lại là 5,9% Lò mổ tự giết mổ và chỉ bán cho người bán sỉ mà thôi (Bảng 9 – PL2).
Khu vực thò trường đầu ra chính của Lò mổ là trong xã mà họ đang sống, tỷ trọng ở
đây chiếm trong tổng số là 53%, kế đó là trong huyện 36,5% và cuối cùng trong
tỉnh( sơ đồ 5).
Sản phẩm được bán ra của Lò mổ sau khi giết mổ được phân thành nhiều
loại, nhưng ở đây nội dung sẽ đi vào nghiên cứu các loại như sau: Thòt nạc, đùi, ba
rọi, xương, tim cật, lòng, mỡ và sườn. Như vậy các loại thòt này được Lò mổ bán ra
thò trường tiêu thụ, bình quân trong ngày số kg được bán thể hiện ở bảng 10 –PL2.
Đối với thò trường đầu ra của Lò mổ, phần lớn Lò mổ bán sản phẩm trong
xã( chiếm 53%), kế đến là huyện (36,5%), và cuối cùng trong tỉnh chiếm 11,5% (sơ
đồ 5).
- 19 -
Trong xã, khách hàng chính của Lò mổ là người tiêu dùng (chiếm 63%), kế
đến là bán lẻ 29,6%, cuối cùng là bán sỉ. Đối với thi trường trong huyện, khách
hàng chủ yếu ở đây cũng là người tiêu dùng (chiếm 52,6%), kế đến là bán lẻ
chiếm 31,6%. Tóm lại khách hàng chính của Lò mổ là ngừơi tiêu dùng ( tiêu dùng
cá nhân và tiêu dùng công nghiệp) và bán lẻ.
Sơ đồ 5: thò trường đầu ra của Lò mổ
Tiêu dùng trong
xã(63%)n =17
Tiêu dùng trong
Bán sỉ trong xã
(7,4%) n=2
Bán sỉ trong tỉnh
(33,3%) n=2
c) Tình hình giá cả thò trường:
Bảng 11 – PL2 cho thấy rằng phần lớn giá mua heo thòt của Lò mổ trong
1999 phân theo trọng lượng hầu như cao hơn giá trong 1998. Giá mua này thay đổi
là do Lò mổ chạy theo giá cả thò trường để đảm bảo hoạt động có lời. Kết quả
kiểm đònh ở bảng 12 – PL2 cho thấy giá cả giữa hai năm theo các nhóm trọng
lượng có sự khác nhau ý nghóa hai phía( sig.2 – tailed) tại 15%. Kết luận rằng, thời
gian qua giá cả mua vào của Lò mổ có sự thay đổi đáng kể.
Giá bán ra của Lò mổ được đưa ra tuỳ theo loại thòt riêng biệt. Qua việc phỏng
vấn 16 Lò mổ cho ta kết quả ở bảng 9: Trung bình giá bán của các loại thòt trong
năm 2000 có mức giá khác nhau. Cao nhất là loại thòt nạc 27.063 đồng/kg, thấp
nhất là mở 7.812đồng/kg giá trung bình 18.620kg.
- 20 -
Bảng 9: Giá bán của các loại thòt sau khi giết mổ(đồng/kg)
Giá nạc
Giá đùi
Giá ba rọi
Giá xương
Giá tim, cật
Giá lòng
10000,00
11000,00
25000,00
Trung
bình
27062,50
26562,50
17812,50
16062,51
24643,75
8000,000
7812,500
21250,00
Std.
Deviation
853,9126
1030,7764
1108,6779
1819,0172
1756,1203
1460,5935
2166,9872
2569,0465
Nguồn điều tra.
4. Người bán lẻ
a) Tổng quan tình hình Người bán lẻ
3.Thòt ba rọi
4.Xương
5.Tim,cật
6. Lòng
7. Mỡ
Năm 1998
15,0
24,3
15,9
14,7
5,9
7,2
12,0
Năm 1999
10,3
18,5
10,2
8,3
3,3
6,2
10,2
Chênh lệch
-4,70
-5,84
-5,70
-6,40
-2,60
Loại
(đồng/kg)
thòt
Thòt nạc
30.490
Đùi
26.887
Ba rọi
21.826
Xương
18.451
Tim-cật
27.903
Lòng
9.596
Mỡ
12.048
1999
2000
Lượng bán
(kg/ngày)
Giá bán
(đồng/kg)
Lượng bán
(kg/ngày)
24.314
19.312
15.562
16.133
25.928
8.850
7.357
5,63
10,44
9,88
6,20
1,93
5,80
6,79
- 22 -
Nguồn điều tra
5. Người tiêu dùng công nghiệp
a. Người chế biến
a.1.Tổng quan:
Qua điều tra 30 Người chế biến, có 33,3% trong số họ tham gia ngành vào
những năm 1990 – 1995 và 26,7% tham gia vào ngành sau năm 1995. Số còn lại
(40%) đã tham gia vào ngành này trước 1990. Hoạt động chính của họ là mua
những sản phẩm đầu vào, phổ biến là thòt nạc, ruột, và mỡ, từ đó chế biến thành
sản phẩm như batê, lạp xưởng, chả giò...
Hiệu suất trong hoạt động của Nhà chế biến được biểu hiện qua bảng 13 chỉ
ra rằng, Nhà chế biến chỉ sử dụng khoảng 60% công suất chế biến của mình. Hiệu
suất chế biến có chiều hướng gia tăng qua 3 năm.
Bảng13: Hiệu suất hoạt động của Nhà chế biến
Chỉ tiêu
Khả năng chế biến (kg/ngày)
Thực tế chế biến (kg/ngày)
Hiệu quả chế biến
1998
93
57
61
1999
96
61
63
2000
93
60
65
Nguồn điều tra
a.2 Mạng lưới đầu vào:
Nguồn cung cấp nguyên liệu heo đầu vào cho Người chế biến chủ yếu là tự
giết mổ (chiếm 73%), còn lại là mua từ các đối tượng lò mổ và bán lẻ. Thòt nạc là
nguồn nguyên liệu chính cho quá trình chế biến, kế đó là mỡ.
Lượng bán
(kg/ngày)
Thòt nạc
25.900
46,83
27.166
49,63
25.416
49,3
Lòng
15.766
1,63
15.733
1,83
15.633
1,7
Nguồn điều tra
Cụ thể ở bảng 14 so sánh giữa 1998 và 1999 cho thấy giá của thòt nạc ngoài
thò trường tăng từ 25.900đồng/kg lên 27.166đồng/kg (tăng 4,88%) làm cho tổng sản
lượng cầu của Người chế biến tăng 132.634 (1.345.532 – 1.212.897 đồng) tăng
10,9%. đây cho ta thấy, nhu cầu của Người chế biến thật sự đeo đuổi hoạt động
kinh doanh của mình để chạy theo nhu cầu chế biến.
Tương tự ta có giá thòt 1999 và 2000 giảm từ 27.166 đồng/kg xuống còn
25.416đồng/kg (giảm 6,4%) làm tổng lượng cầu giảm 96.843 đồng ( giảm 7,2%).
Điều này cho thấy vào năm 1999 hoạt động kinh doanh của nhà chế biến không đạt
hiệu quả đầu ra có thể không có thò trường tiêu thụ, vì vậy đã làm họ phải hạn chế
mua vào cho hoạt động kinh doanh.
a.3 Dòng chảy sản phẩm đầu ra:
Sản lượng chế biến được bán cho khách hàng ở hai thò trường riêng biệt đó
là khách hàng trong tỉnh ( chiếm 78,7%) và khách hàng ngoài tỉnh (chiếm 21,3%).
đối với khách hàng trong tỉnh tỷ lệ khách hàng người tiêu dùng và người bán lẻ là
như nhau ( 45,9%), còn người bán sỉ là 8,2%. Đối với ngoài tỉnh khách hàng chính
của họ cũng là người tiêu dùng chiếm 60%, kế là người bán lẻ chiếm 30%. Nói tóm
lại đầu ra của Người chế biến phần lớn tập trung vào thò trường người tiêu dùng và
người bán lẻ (xem sơ đồ 2 – PL2). Do tính chất của sảm phẩm được chế biến ra
được hợp thành nhiều thành phần ngoài thòt heo, do vậy việc tính lợi nhuận cũng
rất phức tạp và việc tính chi phí bình quân trên một đơn vò để được lợi nhuận
biên/kg thòt heo có thể được bỏ qua.
- 24 -