Khảo sát một số mô hình cấu tạo ghép phân nghĩa trong tiếng việt hiện nay (qua ngữ liệu trên một số tờ báo nhân dân, hà nội mới, an ninh thủ đô, ) - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------

MAI THỊ LOAN

KHẢO SÁT MỘT SÔ MÔ HÌNH CẤU
TẠO GHÉP PHÂN NGHĨA TRONG
TIẾNG VIỆT HIỆN NAY
(QUA NGỮ LIỆU TRÊN MỘT SỐ TỜ
BÁO NHÂN DÂN, HÀ NỘI MỚI,
AN NINH THỦ ĐÔ,…)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ

HÀ NỘI – 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------

MAI THỊ LOAN

KHẢO SÁT MỘT SÔ MÔ HÌNH CẤU
TẠO GHÉP PHÂN NGHĨA TRONG
TIẾNG VIỆT HIỆN NAY
(QUA NGỮ LIỆU TRÊN MỘT SỐ TỜ
BÁO NHÂN DÂN, HÀ NỘI MỚI,
AN NINH THỦ ĐÔ,…)



Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu Khảo sát một số mô hình cấu tạo
ghép phân nghĩa trong Tiếng Việt hiện nay (qua ngữ liệu trên một số tờ báo
Nhân dân, Hà Nội mới, An ninh thủ đô,...) là kết quả nghiên cứu của cá nhân
tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS, GVC Đỗ Thị Thu Hương. Đề tài
này không trùng với công trình nghiên cứu của các tác giả khác.

Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện

Mai Thị Loan


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................. 3
4. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 3
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 4
7. Đóng góp của đề tài .................................................................................... 4
8. Cấu trúc khóa luận .......................................................................................4
NỘI DUNG ................................................................................................... 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYÊT ................................................................. 5
1.1. Đơn vị cấu tạo từ ..................................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm hình vị trong ngôn ngữ đại cương........................................ 5
1.1.2. Khái niệm hình vị trong tiếng Việt ....................................................... 6
1.2. Phương thức tạo từ .................................................................................. 8

KẾT LUẬN ................................................................................................ 43
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO


BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

STT

Kí hiệu viết tắt

Tên đầy đủ

1

A

Hình vị chỉ loại lớn

2

B, C, D...., X

Các hình vị loại nhỏ phân nghĩa cho A

3

B1

Bậc 1


9



Thuộc

10



Tạo ra


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt. Nó là phương tiện để giao tiếp
giữa các dân tộc, là ngôn ngữ chính thức trong các lĩnh vực ngoại giao, hành
chính, giáo dục, văn hóa... Tiếng Việt của dân tộc ta sức phong phú và đa dạng,
là kết quả của các phương thức cấu tạo khác nhau. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, vốn
từ của dân tộc lại có sự mở rộng về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa. Điều đó phản
ánh trình độ phát triển, trình độ tư duy của con người. Do đó, nghiên cứu về sự
biến động của từ trong hệ thống từ vựng là một vấn đề đáng được quan tâm.
Sự biến động về vốn từ vựng dân tộc thể hiện ở khả năng sản sinh ra
hàng loạt những từ mới đáp ứng nhu cầu giao tiếp của con người. Sự biến
động này đã được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm, tiêu biểu ta phải kể đến
GS. Đỗ Hữu Châu. Sự tăng lên về số lượng các từ ngữ mới hiện nay theo
nhiều nhà nghiên cứu là nhờ phương thức ghép, cụ thể là ghép phân nghĩa.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về ghép phân nghĩa mới chỉ dừng lại ở khái quát
lý luận chung. Các tác giả mới chỉ đưa ra một số trường hợp cấu tạo ghép

triển cơ bản của phương thức này. Đó là: “Cơ chế phân nghĩa có thể liên tục
tác động vào một từ ghép phân nghĩa cơ sở cho ra những từ ghép phân nghĩa
ở thế hệ thứ hai, thứ ba... với hình thức ngữ âm tương đối dài. Số lượng quan
hệ (tức số lần tác động của cơ chế) là cơ sở để phân biệt những từ ghép phân
nghĩa có số lượng hơn hai âm tiết thuộc thế hệ thứ nhất, hay thuộc thế hệ thứ
hai, thứ ba, v.v...”. Để minh chứng cho điều này, tác giả đã lấy ví dụ về máy
đo nhịp tim thuộc thế hệ thứ nhất vì quan hệ ở đây là máy với đo nhịp tim; còn
chất đốt lỏng thuộc thế hệ thứ hai, vì quan hệ ở đây là chất đốt với chất lỏng
[2, tr.273]
Cũng trong công trình nghiên cứu đó,về cấu tạo từ ghép phân nghĩa
(hay còn gọi là từ ghép chính phụ), tác giả đã đưa ra nhiều kiến giải và một số
kiểu cấu tạo của từ ghép phân nghĩa dựa trên sự khác nhau của các phương
thức láy và phương thức ghép. Theo tác giả, các từ ghép phân nghĩa có thể
được chia thành nhiều kiểu nhỏ tiêu biểu là từ ghép phân nghĩa một chiều và
từ ghép phân nghĩa hai chiều. Ở mỗi kiểu đó, tác giả đã xây dựng những điều
kiện cụ thể để chứng minh sự tồn tại cũng như cơ chế cấu tạo của từ ghép

Mai ThÞ Loan

2

K35B - SP Ng÷ v¨n


phân nghĩa. Từ đó, tác giả rút ra nhận xét cụ thể về từ ghép phân nghĩa
“Trong các từ ghép phân nghĩa, tính thế hệ thể hiện khá rõ. Một từ ghép phân
nghĩa lại có thể trở thành một hình vị (đơn vị) chỉ loại lớn để tạo ra hàng loạt
các từ ghép phân nghĩa mới” [2, tr.236]. Công trình nghiên cứu nói trên của
tác giả đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về từ ghép phân nghĩa. Tuy
nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở từ ghép nói chung mà chưa đi sâu vào tìm

6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: mục đích của phương pháp này là nhằm thống
kê những từ ghép phân nghĩa trên các tờ báo làm tư liệu cho quá trình nghiên
cứu.
Phương pháp hệ thống: nhằm tổng hợp tất cả tư liệu.
Phương pháp phân tích ngôn ngữ: để tìm ra các mô hình cụ thể của từ
ghép phân nghĩa trong tiếng Việt hiện nay.
7. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Qua việc khảo sát các từ ghép phân nghĩa trên một số
văn bản báo chí, ta có thể khái quát được mô hình cấu tạo của từ ghép phân
nghĩa ở các bậc cao hơn.
Về mặt thực tiễn: Những kết quả thống kê của khóa luận giúp ích cho
việc học tập và giảng dạy môn ngôn ngữ nói chung và từ vựng nói riêng. Đặc
biệt là giảng dạy, học tập về cấu tạo từ tiếng Việt.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Một số mô hình cấu tạo ghép phân nghĩa trong tiếng Việt
hiện nay.

Mai ThÞ Loan

4

K35B - SP Ng÷ v¨n


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

K35B - SP Ng÷ v¨n


những hình thái ngôn ngữ. Mỗi hình thái ngôn ngữ học đều là sự kết hợp ổn
định những đơn vị - tín hiệu, những âm vị, mỗi hình thái ngôn ngữ đều có ý
nghĩa thường xuyên và xác định, mỗi ý nghĩa của mọi hình thái ngôn ngữ
khác cũng trong ngôn ngữ này”.
1.1.1.2. Phân loại hình vị
Theo các nhà ngôn ngữ học đại cương, hình vị được chia làm hai loại:
Hình vị căn tố (chính tố) và hình vị phụ tố.
Hình vị căn tố là những hình vị có ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa chính tố và
có liên hệ một cách logic với đối tượng, ý nghĩa của chính tố hoạt động độc
lập, tự nghĩa.
Hình vị phụ tố là những hình vị mang ý nghĩa bổ sung hoặc ý nghĩa
ngữ pháp, ý nghĩa của phụ tố trừu tượng. Hình vị này không độc lập về nghĩa,
nghĩa của nó chỉ rõ ràng khi nằm trong kết cấu từ.
Ví dụ: books (book là chính tố, s là phụ tố)
1.1.1.3. Chức năng của hình vị
Theo các nhà ngôn ngữ học này, chức năng cơ bản của hình vị là chức
năng cấu tạo từ.
Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Nghĩa là, nó không cho phép tiếp
tục phân chia thành những đơn vị có nghĩa mà nhỏ hơn nữa, chia nhỏ các hình
vị thì ta chỉ có các âm không có nghĩa - những đơn vị chỉ có mặt âm thanh.
Trong phần cấu tạo từ, hình vị được chia làm hai loại: chính tố (căn tố)
và phụ tố. Trong đó, chính tố được coi là bộ phân chính của từ, bộ phận trung
tâm về nghĩa của từ.
1.1.2. Khái niệm hình vị trong tiếng Việt
Đa số, các nhà Việt ngữ học đều thống nhất cho rằng: “Hình vị là đơn
vị nhỏ nhất có nghĩa”. Tuy nhiên, khi đi vào vận dụng, miêu tả trong tiếng
Việt thì tình hình lại có phần khác.

xanh lè, phức trong thơm phức...)
Nghĩa của hình vị có thể là nghĩa tiềm tàng (Ví dụ: ái, quốc, thủy, sơn...)
Nghĩa của hình vị có thể có nghĩa ngữ pháp (Ví dụ: đã, vừa, mới....)
Nghĩa của hình vị có thể có nghĩa biểu cảm (Ví dụ: ái, ôi, nhỉ, nhé...).

Mai ThÞ Loan

7

K35B - SP Ng÷ v¨n


Vậy, hình vị là những yếu tố nhỏ nhất tham gia vào các phương thức
tạo từ. Để cho ra các từ mới của tiếng Việt, hình vị tự thân nó phải có nghĩa.
1.2. Phương thức tạo từ
Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị
để cho ta các từ. Để tạo ra hàng loạt các từ mới, tiếng Việt sử dụng chủ yếu ba
phương thức sau:
1.2.1. Phương thức từ hóa hình vị
Phương thức từ hóa hình vị là phương thức cấu tạo từ bằng cách tác
động vào bản thân hình vị làm nó mang đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của
từ, biến hình vị đó thành từ mà không thay đổi hình thức ngữ âm của nó. Kết
quả của phương thức này tạo ra những từ đơn.
Ví dụ: nhà, xe, áo, người... là những từ được hình thành do sự từ hóa
các hình vị: nhà, xe, áo, người,...
1.2.2. Phương thức láy
Phương thức láy là phương thức tác động vào hình vị cơ sở làm xuất
hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về mặt âm thanh. Trong
đó, cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ. Kết quả của phương thức
này tạo ra những từ láy.


→ hoa hồng

Hình vị: bút, bi

→ bút bi

Hình vị: sách, vở

→ sách vở,...

Từ những ví dụ trên, có thể mô hình hóa biểu đồ của phương thức ghép
bằng biểu thức sau:
Ghép
Hình vị A, B



từ A + B

Trong ba phương thức trên thì phương thức ghép có khả năng tạo từ
cao nhất. Nhờ phương thức này, tiếng Việt đã sản sinh ra nhiều từ mới đáp
ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy của con người.
1.3. Các kiểu từ xét về cấu tạo
Xét về cấu tạo trong tiếng Việt hiện nay, từ có thể chia thành hai loại
lớn là từ đơn và từ phức. Trong từ phức chia thành hai kiểu cấu tạo nhỏ hơn là
từ láy và từ ghép. Mỗi loại lớn trên gồm có những đặc tính về mặt ngữ nghĩa
và hình thức giống nhau, đến lượt mình sẽ được phân chia thành các kiểu cấu
tạo nhỏ hơn cũng gồm những từ tương đồng về ngữ nghĩa và hình thức.
1.3.1. Từ đơn

Phương thức láy tạo ra những từ láy có nghĩa sắc thái hóa so với nghĩa
của hình vị gốc. Do đó, nó được sử dụng rộng rãi trong văn chương đặc biệt là
lĩnh vực thơ ca.
1.3.3. Từ ghép
Từ ghép là sản phẩm của phương thức ghép. Đó là những từ được tạo
thành bằng cách ghép hai hình vị độc lập riêng rẽ với nhau theo những quy
tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định.

Mai ThÞ Loan

10

K35B - SP Ng÷ v¨n


1.3.3.1. Quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ ghép
Về mặt ngữ pháp: Các tiếng ghép với nhau theo hai kiểu quan hệ: Quan
hệ đẳng lập và quan hệ chính phụ.
Quan hệ đẳng lập thể hiện ở chỗ giữa các hình vị có quan hệ ngang
hàng bình đẳng với nhau không phân biệt hình vị nào là chính, hình vị nào là
phụ.
Ví dụ: Sách vở , kính trọng, quần áo ,...

Quan hệ chính phụ: Giữa các hình vị có quan hệ không bình đẳng với
nhau, một hình vị giữ vai trò chính và một hình vị giữ vai trò phụ.
Ví dụ: Xe đạp, bánh khoai, cá mập,...

Về mặt ngữ nghĩa:
Quan hệ cùng phạm trù ngữ nghĩa tức là các hình vị ghép với nhau có
quan hệ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa (Ví dụ: xóm làng, nguồn gốc, đi đứng, trai

ghép chính phụ, từ ghép phụ gia) là từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị theo
quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động,
tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại
nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập tương đối với nhau. Các từ ghép phân nghĩa
hợp thành những hệ thống gồm một số từ thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ
loại lớn. Quan niệm về từ ghép phân nghĩa trên, chúng tôi dựa chủ yếu trên
định nghĩa của GS. Đỗ Hữu Châu trong: Từ vựng – ngữ nghĩa Tiếng Việt..
Về cơ chế cấu tạo: Từ ghép phân nghĩa được tạo thành từ việc ghép hai
hình vị có cơ chế không ngang nhau theo quan hệ chính phụ. Trong đó một
tiếng chính biểu thị loại lớn và một tiếng phụ có nhiệm vụ chi tiết hóa, cụ thể
hóa, sắc thái hóa tiếng chính. (Ví dụ: bút bi, bút mực, bút dạ,...)
Về mặt phân loại: Nhóm từ ghép phân nghĩa một chiều và nhóm từ
ghép phân nghĩa hai chiều. Từ ghép phân nghĩa một chiều là những từ ghép
chỉ có một hình vị chỉ loại lớn. Căn cứ vào tính chất các hình vị có thể chia
thành các tiểu loại nhỏ hơn bao gồm: từ ghép phân nghĩa biệt loại, từ ghép
phân nghĩa đẳng nghĩa, từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa. Từ ghép phân nghĩa

Mai ThÞ Loan

12

K35B - SP Ng÷ v¨n


hai chiều là những từ ghép mà cả hai hình vị vừa có tính chất chỉ loại lớn vừa
có tính chất hình vị phân nghĩa.
Ngoài ra trong từ ghép còn có một kiểu loại thường được đề cập đến là
từ ghép biệt lập. Đây là những từ ghép được tạo thành trên cơ sở của quan hệ
ngữ pháp hoặc đẳng lập hoặc chính phụ. Tuy nhiên các từ này không lập
thành hệ thống nghĩa là mỗi từ tồn tại một các độc lập riêng rẽ giống như các

Trong khi đó, ở từ ghép phân nghĩa có sự khác biệt, tiếng thứ nhất trong
từ ghép biểu thị ý nghĩa phạm trù giữ vai trò chủ yếu, trung tâm, tiếng thứ hai
có vai trò phụ biểu thị tính chất, quá trình hay thuộc tính riêng của sự vật hiện
tượng. Nghĩa là, chúng có thể cùng hoặc không cùng phạm trù từ loại (Ví dụ:
bánh nướng, bánh đa, bánh khoai,...).
Như vậy, cùng là từ ghép nhưng chúng có những nét khác nhau cần
phải phân biệt rõ.
1.5. Phân biệt từ ghép với ngữ tự do
Ngữ tự do được hình thành trong lời nói đó là sự kết hợp lỏng lẻo giữa
các yếu tố. Đây là loại đơn vị dễ gây nhầm lẫn với các từ ghép. Do đó, để hiểu
hơn về từ ghép và không nhầm lẫn giữa từ ghép với ngữ tự do chúng ta cần
phân biệt từ ghép với ngữ tự do. Giữa chúng có những ranh giới nhất định ta
có thể phân biệt được.
Tính vững chắc về cấu tạo và tính thành ngữ về ngữ nghĩa là những tiêu
chuẩn mà nhiều tác giả đưa ra để vạch ranh giới giữa “từ” và “ngữ tự do”.
Tính vững chắc của từ thể hiện ở chỗ không cho phép một yếu tố nào
khác xen vào. Ví dụ: không thể tách thủy, giao ra khỏi tàu thủy và ngoại giao
để sử dụng trong lời nói hoặc xen yếu tố khác vào giữa các đơn vị đó. Như
vậy, có thể thấy tính vững chắc về cấu tạo phản ánh được một đặc trưng cơ
bản của từ ghép.
Tính thành ngữ của từ biểu hiện ở chỗ ý nghĩa của “từ” là cái gì mới và
khác hơn là tổng số ý nghĩa của từng biện pháp tạo ra từ đó. Ví dụ: Ý nghĩa
tàu thủy không phải đơn thuần là ý nghĩa của tàu cộng ý nghĩa của thủy. Rõ
ràng ý nghĩa của tàu thủy đã hòa vào nhau tạo thành một khối thống nhất,
không tách riêng ra được. Vì vậy, bước đầu cũng có thể nói: tính thành ngữ về
ngữ nghĩa đã phản ánh được một đặc trưng cơ bản nữa của từ ghép. Bởi vì với

Mai ThÞ Loan

14


15

K35B - SP Ng÷ v¨n


1.6. Xu hướng phát triển từ vựng bằng con đường cấu tạo từ trong tiếng
Việt hiện nay
Hiện nay, xu hướng phát triển từ vựng bằng con đường cấu tạo từ trong
tiếng Việt chủ yếu qua ba phương thức cơ bản: từ hóa hình vị, phương thức
ghép, phương thức láy. Mức độ tạo từ mới ở mỗi phương thức được thể hiện
cụ thể như sau:
Phương thức từ hóa hình vị: Hiện nay đã hết nguyên liệu nghĩa là
không có khả năng sản sinh ra từ mới nữa, chỉ xuất hiện ở các yếu tố vay
mượn nước ngoài.
Chat (tiếng Anh) → Chát (Việt Nam)

Ví dụ:

Phương thức từ láy mặc dù không chiếm ưu thế như phương thức ghép
nhưng nó vẫn tiếp tục tạo ra từ mới. Người ta tạo ra từ láy bằng nhiều con
đường khác nhau. Có thể đảo trật tự các tiếng trong từ láy có sẵn.
Ví dụ: đắn đo

→ đo đắn.

xao xuyến → xuyến xao.
Hoặc láy các phụ âm đầu của tiếng gốc hoặc láy vần.
Ví dụ: gái → gái gú
chát → chát chít.

Phong cách báo chí - công luận là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng
lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực
báo chí – công luận. Nói cụ thể hơn đó đó là vai của nhà báo, người đưa tin,
người cổ động, người quảng cáo, bạn đọc... tất cả những ai tham gia vào hoạt
động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự.
Phong cách ngôn ngữ báo chí – công luận chủ yếu dựa trên kiểu ngôn
ngữ viết – phi nghệ thuật, nhưng bao gồm rộng rãi những kiểu cấu trúc của
các kiểu viết và miệng – nghệ thuật của lời nói. Yếu tố cá tính đóng vai trò
quan trọng.
1.7.2. Chức năng và đặc trưng của phong cách báo chí
1.7.2.1. Chức năng của phong cách báo chí
Phong cách báo chí có hai chức năng cơ bản là chức năng giao tiếp lí trí
và chức năng tác động. Giao tiếp lí trí được hiểu là chức năng thông báo, tác
động là tác động vào nhu cầu, nguyện vọng của người nghe, người đọc.

Mai ThÞ Loan

17

K35B - SP Ng÷ v¨n


Trích đoạn Mô hình bậc 1 Mô hình bậc 2
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status