BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------------------------------
HỒ SƠ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHCN ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
Nghiên cứu ứng dụng màng lọc nano trong công nghệ xử lý
nước biển áp lực thấp thành nước sinh hoạt cho các vùng ven
biển và hải đảo Việt Nam
MÃ SỐ: ĐTĐL.2010T/31
Cơ quan chủ trì : TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS. TRẦN ĐỨC HẠ
MỤC LỤC
1
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------------------------------
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHCN ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
Nghiên cứu ứng dụng màng lọc nano trong công nghệ xử lý nước biển áp
lực thấp thành nước sinh hoạt cho các vùng ven biển và hải đảo Việt
Nam
MÃ SỐ: ĐTĐL.2010T/31
Cơ quan chủ trì : TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS. TRẦN ĐỨC HẠ
Thực hiện chuyên đề : TS. TRẦN THỊ VIỆT NGA
ThS. NGUYỄN QUỐC HÒA
CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC CẤP
VÀ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC CỦA CÁC CỤM DÂN
CƯ VÙNG NÔNG THÔN VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
VIỆT NAM
HÀ NỘI, THÁNG 11 NĂM 2010
Trang
1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC VÙNG VEN BIỂN VN................... 2
trình mục tiêu về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2005 (Là 1
trong 7 Chương trình Mục tiêu Quốc gia trên toàn quốc). Vào năm 2000, Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn đến
năm 2020 với mục tiêu toàn bộ người dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu
chuẩn quốc gia và hố xí hợp vệ sinh. Đây là động lực mạnh để đẩy mạnh cấp nước và
vệ sinh môi trường ở vùng nông thôn trong đó có các khu vực ven biển.
Các tổ chức Quốc tế và các Quốc gia đã và đang dành sự hỗ trợ quý báu cho
lĩnh vực này. Nhiều dự án đang được triển khai như Chiến lược cấp nước và vệ sinh
môi trường nông thôn (DANIDA - Đan Mạch), dự án phát triển hạ tầng cơ sở nông
thôn (ADB – Ngân hàng Châu á), dự án phát triển nguồn nước ngầm cho các tỉnh
3
phía Bắc và Tây Nguyên (JICA - Nhật Bản), dự án phát triển thủy lợi đồng bằng sông
Cửu Long (WB - Ngân hàng Thế giới)...
1.2. Tình hình cung cấp nước sạch các vùng nông thôn ven biển.
- Giai đoạn trước 1980 trước khi triển khai chương trình nước sinh hoạt nông
thôn do UNICEF tài trợ:
Trong giai đoạn này các công trình cấp nước là các công trình cấp nước cổ
truyền như: hồ, lu chứa nước mưa, giếng khơi thu nước ngầm mạch nông, giếng
khoan khơi thu nước mặt ven hồ và giếng công cộng... đặc biệt là các công trình được
xây dựng từ phong trào “cấp nước và vệ sinh nông thôn” do Bộ y tế phát động từ
năm 1962.
Trong số các công trình trên chỉ có một số giếng ở các hộ gia đình, hoặc công
cộng bên cạnh chùa, nhà thờ có xây thành và bảo quản tốt nên chất lượng nước sạch
hợp vệ sinh. Số giếng này chỉ khoảng 2% tổng số giếng cổ truyền quy đổi theo thống
kê của Vụ vệ sinh môi trường Bộ y tế – tức khoảng 75.000 giếng phục vụ cấp nước
sạch đạt yêu cầu cho 3.870.000 người dân nông thôn. Số giếng cổ truyền còn lại
không đạt yêu cầu về chất lượng nước là do:
- Chất lượng xây dựng không đúng kỹ thuật, không xây thành bao bọc bảo vệ.
- Khi đào giếng gặp phải những mạch nước cứng, nước nhiễm mặn, nhiễm sắt,
nước thải hoặc nhiễm bẩn bởi các chất hữu cơ - sản phẩm của nước thải sinh hoạt
chương trình nước sinh hoạt nông thôn.
Trên cơ sở những mô hình cấp nước có hiệu quả, được sự đồng ý của chính
Phủ và chấp thuận của tổ chức UNICEF, chương trình được mở rộng ra nhiều tỉnh.
Năm 1987 chương trình được mở rộng ra 7 tỉnh (nay là 13 tỉnh và thành phố): Vĩnh
Long, Trà Vinh, Bến Tre, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị,
Quảng Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh đưa quy
mô cấp nước lên 23 tỉnh, thành phố đồng thời vốn tài trợ của UNICEF cho chương
trình được tăng nhanh qua mỗi năm. Năm 1990 có thêm 14 tỉnh tham gia chương
trình, đó là địa phương: Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Quảng Ngãi,
Bình Định, Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Bình, Hải Hưng, Thái Bình,
Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, Gia Lai – Kontum.
Từ năm 1987 được sự đồng ý của Chính phủ, ngân sách địa phương đã góp
phần hỗ trợ cho hoạt động của Chương trình cấp tỉnh, thành phố, huy động thêm
nguồn vốn của người sử dụng đồng thời chủ trương thay thế hàng nhập khẩu, góp
5
phần giảm được giá thành . Những yếu tố này đã làm tăng nhanh số lượng nguồn cấp
nước qua các năm, cụ thể nêu trong bảng 1.1:
Bảng 1.1: Kết quả thực hiện chương trình SHNT 1978 – 1990
Năm Vốn tài trợ của UNICEF
(1000USD)
Số nguồn cấp nước (nguồn)
Năm 1987 1.125 2.415
Năm 1988 1.180 5.238
Năm 1989 2.175 8.375
Năm 1990 2.321 12.121
Đến hết năm 1990, sau hai tài khóa trợ giúp của UNICEF với tổng kinh phí tài
trợ 15,095 triệu USD đã thực hiện được 33.487 giếng trên địa bàn 38 tỉnh, thành phố
(tính theo tỉnh mới) đáp ứng cho khoảng 4 triệu nông dân nông thôn có nước sạch
cho nhu cầu sinh hoạt.
- Hưởng ứng tinh thần Hội nghị thượng đỉnh thế giới tại Niu Đê Li (tháng 9