biện pháp nâng cao tính tích cực vận động trong giờ học thể dục cho trẻ 5 6 tuổi - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________________________

Nguyễn Thị Yến Linh

BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC
VẬN ĐỘNG TRONG GIỜ HỌC THỂ DỤC
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________________________

Nguyễn Thị Yến Linh

BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC
VẬN ĐỘNG TRONG GIỜ HỌC THỂ DỤC
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

Chuyên ngành

: Giáo dục học (Mầm non)

Mã số


Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Tp.HCM, tháng 09 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Yến Linh

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 6
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 7
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................................. 7
5. Giả thuyết khoa học ........................................................................................................ 8
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: .................................................................................. 8
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 8
8. Đóng góp mới của đề tài ................................................................................................. 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC
VẬN ĐỘNG TRONG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO TRẺ 5 6 TUỔI ........................................................................................................................ 10
1.1. Lịch sử nghiên cứu về tính tích cực vận động trong hoạt động phát triển thể chất
cho trẻ mầm non ............................................................................................................... 10
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước .........................................................................................10
1.1.2. Nghiên cứu trong nước .........................................................................................18
1.2. Các khái niệm cơ bản ................................................................................................ 20

2.2.4. Kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên về sự cần thiết phải nâng cao tính tích
cực vận động cho trẻ 5-6 tuổi .........................................................................................54
2.2.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực vận động của trẻ 5-6 tuổi trong giờ
học thể dục ......................................................................................................................55
2.2.6. Kết quả khảo sát giáo viên về biểu hiện tích cực vận động trong giờ học thể dục ở
trẻ 5-6 tuổi .......................................................................................................................55
2.2.7. Kết quả khảo sát giáo viên về những biện pháp để nâng cao tính tích cực vận
động cho trẻ.....................................................................................................................56
2.2.8. Kết quả khảo sát hình thức tổ chức hoạt động thường sử dụng để nâng cao tính
tích cực vận động cho trẻ ................................................................................................57
2.2.9. Khó khăn thường gặp khi tổ chức giờ học thể dục nâng cao tính tích cực vận
động cho trẻ 5-6 tuổi .......................................................................................................58
2.2.10. Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên về các đề xuất nâng cao tính tích cực vận
động trong giờ học thể dục cho trẻ 5-6 tuổi ....................................................................59
3.2. Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thông qua việc dự giờ học thể dục
của trẻ 5-6 tuổi................................................................................................................... 61
3.2.1. Những khó khăn trong việc phát huy tính tích cực, hứng thú vận động cho trẻ
trong giờ thể dục của trẻ 5-6 tuổi ....................................................................................61
3.2.2. Đề xuất xây dựng môi trường vận động để kích thích tính tích cực vận động
trong giờ thể dục của trẻ 5-6 tuổi ....................................................................................62

CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH
CỰC VẬN ĐỘNG TRONG GIỜ HỌC THỂ DỤC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI ....... 68
3.1. Tổ chức thử nghiệm ................................................................................................... 68
3.2. Xây dựng một số biện pháp nâng cao tính tích cực vận động cho trẻ 5 – 6 tuổi
trên giờ học thể dục .......................................................................................................... 68
3.3. Tiến hành thử nghiệm ............................................................................................... 73
4



trẻ được cung cấp thêm kiến thức, kỹ năng, nhờ đó trẻ sẽ phát triển về mọi mặt. Chính vì
thế, nâng cao tính tích cực vận động trong giờ thể dục là một nội dung quan trọng cần thiết
trong chương trình giáo dục mầm non.
Trong xu hướng đổi mới giáo dục mầm non hiện nay, việc tổ chức hoạt động phát triển
thể chất cần phải chú ý kích thích tính tích cực vận động của từng trẻ, tạo cho trẻ sự hứng
thú, làm nảy sinh cảm xúc tích cực, phấn khởi, bởi đó chính là những yếu tố quan trọng thúc
đẩy trẻ tích cực tham gia vận động. Thực hiện được yêu cầu này cũng chính là thực hiện
được một trong những yêu cầu cơ bản của đổi mới giáo dục mầm non hiện nay ở nước ta.
Trong quá trình quan sát thực tế việc tổ chức hoạt động phát triển vận động cho trẻ 5 6 tuổi, đặc biệt là trên giờ thể dục hiện nay khá phổ biến tình trạng trẻ rất ít có cơ hội tham
gia vận động, nội dung và hình thức tổ chức giờ thể dục đơn điệu, mang tính chất hình thức,
6


trẻ tham gia vận động với tâm thế bắt buộc phải phục tùng theo yêu cầu, mệnh lệnh của cô,
chưa thật sự cảm thấy thoải mái như là đang được vui chơi cùng với cô; giáo viên thiếu điều
kiện để quan tâm đến từng cá nhân trẻ, chưa chú ý đến nhu cầu và hứng thú trẻ vì lớp
thường quá đông. Nhiều giáo viên chưa lựa chọn được những biện pháp thích hợp nhằm
kích thích tính tích cực vận động của trẻ dẫn đến trẻ không hứng thú đối với hoạt động phát
triển vận động. Chính những điều đó cũng đã tác động tới chất lượng hình thành, củng cố và
hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động và tố chất thể lực của trẻ mầm non. Một trong những
nguyên nhân của thực trạng này là do chưa có sự quan tâm, chú trọng đúng mức đến việc tổ
chức hoạt động phát triển vận động cho trẻ mầm non, thiếu đầu tư cơ sở vật chất, chưa chú ý
đến viêc xây dựng môi trường phát triển vận động.
Việc bước đầu tìm kiếm cơ sở cho những nhận định khoa học và đưa ra một số biện
pháp khắc phục thực trạng trên là hết sức cần thiết. Vì vậy chúng tôi đã lựa chọn đề tài
“Biện pháp nâng cao tính tích cực vận động trong giờ học thể dục cho trẻ 5 - 6 tuổi” làm đề
tài nghiên cứu của mình nhằm hoàn thiện thêm lí luận và thực tiễn về vấn đề này, góp phần
nâng cao hiệu quả của hoạt động rèn luyện sức khỏe, củng cố hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo
vận động và phát triển tố chất thể lực cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5 - 6 tuổi, chuẩn bị
toàn diện cho trẻ vào lớp Một.


6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
- Khảo sát ý kiến của 20 Hiệu phó chuyên môn, 150 phụ huynh và 40 giáo viên đang
dạy lớp 5-6 tuổi về phương pháp, biện pháp, môi trường vận động để giúp nâng cao tính tích
cực vận động cho trẻ 5-6 tuổi.
- Khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp nâng cao tính tích cực vận động trong giờ
học thể dục cho trẻ 5-6 tuổi tại truờng Mầm non 19/5 quận 10, trường Mầm non 10 quận 11,
trường Mầm non 12 quận Tân Bình, trường Mầm non Bảo Ngọc quận Bình Tân, trường
Mầm non 8 quận 5, trường Mầm non Phượng Hồng, quận Tân phú - Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Tổ chức thử nghiệm tại trường mầm non 19/5 quận 10 (15 trẻ nhóm thực nghiệm và
15 trẻ nhóm đối chứng).

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ sở về tính tích cực vận
động trong hoạt động phát triển thể chất của trẻ 5 - 6 tuổi.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Sử dụng phiếu khảo sát dành cho giáo viên mầm non để tìm hiểu về các biện pháp
GVMN đã sử dụng để nâng cao tính tích cực vận động trong giờ học thể dục cho trẻ 5 - 6
tuổi.
8


- Sử dụng phiếu khảo sát dành cho phụ huynh có con học lớp 5 - 6 tuổi để tìm hiểu về
các biện pháp nâng cao tính tích cực vận động cho trẻ 5 - 6 tuổi ở gia đình.
- Sử dụng phiếu khảo sát dành cho Hiệu phó chuyên môn để tìm hiểu các biện pháp
giáo viên thường sử dụng nhằm nâng cao tính tích cực vận động trong giờ học thể dục cho
trẻ 5 - 6 tuổi.

tính tích cực trong xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục tư tưởng
dạy học phát huy tính tich cực chủ động của người học, xem người học là chủ thể của quá
trình học tập đã có từ lâu.
Vấn đề tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo cũng được các nhà khoa học như:
A.N.Lêônchép,

A.V.Dapôrôgiest,

N.N.Pôđiavov,

N.P.Xaculina,

Đ.B.

Elcônhin,

I.X.Kôraxcheleva,

A.P.UxôVa,

A.A.Liublinxkaia,

A.K.Bônđarencô,

T.M.Babunôva,

E.I.Kôdakôva… quan tâm và đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu theo một số
khía cạnh khác nhau:
Thứ nhất, nghiên cứu về tiềm năng phát triển trí tuệ, về năng lực hoạt động trí tuệ của
trẻ mẫu giáo và sự ảnh hưởng của quá trình sư phạm đến tốc độ phát triển tâm lí của trẻ, đặc

thức của trẻ mẫu giáo được các tác giả xem xét như là khả năng giải quyết nhiệm vụ nhận
thức với hiệu quả cao bằng việc cố gắng, nỗ lực huy động ở mức độ cao của các chức năng
tâm lí nhận thức đặc biệt là chức năng của tư duy (một số thao tác của tư duy như: So sánh,
phân tích, khái quát hóa…)
Thứ ba, nghiên cứu về vai trò của tính tích cực nhận thức trong sự hình thành và phát
triển nhân cách của trẻ mẫu giáo; về mối quan hệ giữa tính tích cực nhận thức với tính độc
lập trong hoạt động nhận thức của trẻ em, trong đó có trẻ mẫu giáo (A.V.Dapôrôgiet,
A.U.Xôrôkina, G.A.Uruntaeva,…).
J. A. Cômenxki (1592 – 1670), nhà giáo dục Tiệp Khắc quan niệm rằng, “Hãy tìm ra
những biện pháp để phát huy tính tích cực của người học và cho phép giáo viên dạy ít hơn,
học sinh học nhiều hơn”.
A. G.Côvaliôp, nhà tâm lý học Nga, cho rằng “Kiến thức chẳng qua là một dạng nhất
định của những mối liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ bán cầu đại não do ảnh hưởng của
những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể đang nhận thức” .
A. Đixtervec, nhà giáo dục người Đức trong tác phẩm “Hướng dẫn đào tạo giáo viên”
chỉ ra rằng “Không thể ban cho hoặc truyền đạt đến bất kỳ một người nào sự phát triển và
sự giáo dục. Bất cứ ai mong muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu bằng
hoạt động của bản thân, bằng sức lực của chính mình; bằng sự cố gắng của bản thân….Vì
thế sự hoạt động tự lực là phương tiện và đồng thời là kết quả của sự giáo dục”.
J.Dewey (1895-1952) nhà giáo dục người Mỹ khẳng định: “Người giáo viên là người
hướng dẫn trẻ và đáp ứng mọi yêu cầu của trẻ. Còn trẻ phải tích cực trong mọi hoạt động
của mình, là chủ thể nhận thức”.
J.Piaget (1896-1980) nhà tâm lý học, giáo dục học tiêu biểu của thế kỷ XX, người
Thụy Sỹ đã khẳng định:“Quá trình phát triển của trẻ mang tính chủ động và tích cực”. Ông
khuyến khích các chương trình giáo dục mà trong đó nhấn mạnh việc học tập và tự khám
phá của trẻ. [16].
11


M.SenGupta trong Early childhood Care and education năm 2009 đã trình bày rõ đặc


12


Nếu mô hình của Páplốp chú ý đến hoạt động dạy, kinh nghiệm của người dạy thì mô
hình của Skinner lại chú ý đến hoạt động học, tính tích cực, chủ động của người học. Theo
ông, học là tự điều hòa hành vi để dẫn tới hành vi mong muốn, dạy là tạo cơ hội thuận lợi
cho học. Việc học được thông qua hành động, thông qua tích lũy kinh nghiệm bản thân bằng
con đường thử - sai. Bài học đặt ra vì lợi ích người học, người học tự lựa chọn cách học có
hiệu quả. Tiến độ học do năng lực người học quyết định. Muốn tăng hiệu quả học thì người
dạy phải khen thưởng kịp thời.
Quan niệm của hai ông đều được vận dụng vào dạy học dưới những góc độ khác nhau,
bổ sung cho nhau.
Trong thực tế giáo dục mầm non, phần lớn các thói quen hành vi của trẻ đang được
dạy theo mô hình của Páplốp, còn với mô hình Skinner thường áp dụng trong hoạt động vui
chơi của trẻ.
Các công trình nghiên cứu của Piaget (1950, 1972), Erikson (1950), Kami (1985),
Elkind (1986), đã chứng minh: trẻ học bằng cách làm việc – hoạt động. Học là một quá trình
phức tạp, là kết quả của quá trình tiếp xúc, giao tiếp qua lại giữa ý nghĩ của trẻ và những trải
nghiệm của chúng trong môi trường.
Vậy dạy trẻ học như thế nào? Từ “dạy” biểu thị sự bảo ban và cung cấp thông tin.
Muốn biết trẻ học như thế nào cần xem giáo viên dạy trẻ thế nào. Cách dạy trẻ không phải là
giảng bài hoặc chỉ bằng lời. Giáo viên là người hướng dẫn khởi xướng, gợi ý và chuẩn bị
môi trường học, kích thích hứng thú học của trẻ, quan sát trẻ hoạt động xem chúng hiểu thế
nào. Để giúp trẻ hiểu biết đầy đủ và nhớ những gì chúng học thì thông tin phải có ý nghĩa
với trẻ, phù hợp với trình độ phát triển của trẻ như: Chúng hành động thế nào, có những nhu
cầu gì, ai và những tư tưởng giáo dục nào quan trọng với chúng, làm thế nào để chúng học
có hiệu quả nhất, sự khác nhau về mặt văn hóa, thu nhập, giáo dục của gia đình, sự phát
triển của từng cá thể trẻ như thế nào.
L.V. Karmanova, V.G. Frolov và những nhà nghiên cứu khác đã nghiên cứu việc tổ

việc thực hiện vận động của trẻ, yêu cầu trẻ chú ý thực hiện đúng yêu cầu vận động. Đây là
phương pháp rất thích hợp, hiệu quả khi dạy vận động mới cho trẻ
*Tổ chức luyện tập theo nhóm.
Trẻ chia thành các nhóm, mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ vận động riêng
biệt. Phương pháp này cho phép sử dụng hợp lý, hiệu quả thời gian của giờ học, giáo dục ý
thức tự giác, độc lập, trách nhiệm, tự kiềm chế cho trẻ, đảm bảo duy trì mật độ vận động cao
và sự tích cực vận động của trẻ. Trong giờ học nên đồng thời tổ chức cho trẻ thực hiện 2-3
loại bài tập vận động, củng cố vận động cho từng nhóm trẻ.
Hình thức tổ chức luyện tập cá nhân có nghĩa là tổ chức cho riêng từng trẻ thực hiện
bài tập, các trẻ khác quan sát bạn. Giá trị của loại giờ học cá nhân này cho phép giáo viên

14


chú ý đến việc thực hiện vận động, phát hiện kịp thời những thiếu sót của từng trẻ và có
biện pháp giúp đỡ trẻ kịp thời.
M.A. Runova сho rằng, sự kết hợp các phương pháp luyện tập cả lớp và luyện tập theo
nhóm có thể làm tăng hoạt động thể chất. Tổ chức luyện tập theo nhóm là một cách để tăng
mật độ động của giờ học với điều kiện việc thực hiện vận động diễn ra liên tục [45]
Phương pháp hướng dẫn trẻ, sự kết hợp hợp lý giữa làm mẫu và miêu tả, giải thích
cách thực hiện vận động cũng ảnh hưởng lớn đến mật độ động của giờ học thể dục. Với
những trẻ 5 - 6 tuổi có thể đưa ra những lời giải thích ngắn gọn, cô đọng, hướng sự tập trung
chú ý của trẻ đến những chi tiết cơ bản, quan trọng, hạn chế việc làm mẫu “chay”, nhắc nhở
trẻ những cách thức chính, cơ bản để thực hiện vận động. Giải thích phải ngắn gọn, rõ ràng,
diễn cảm, để trẻ có những biểu tượng, khái niệm về vận động chính xác và đúng đắn.
Ảnh hưởng của việc chuẩn bị tổ chức giờ thể dục đến sự tích cực vận động và mật độ
động trên giờ học thể dục.
Tất cả các hoạt động hỗ trợ cần thiết trên giờ học bao gồm sử dụng thời gian hợp lý
(phân chia dụng cụ luyện tập, xếp, di chuyển đội hình đội ngũ, sắp xếp lại các dụng cụ luyện
tập) đều có ảnh hưởng lớn đến mật độ động và sự tích cực của trẻ trên giờ thể dục. Giáo

động của mình và của bạn;


Gọi tên những bài tập khó nhất, dễ nhất, thú vị nhất và giải thích cho những cách

gọi tên đó …


Thường xuyên lôi cuốn trẻ vào việc thực hiện vận động bằng cách sử dụng những

bài tập định hướng trong không gian, các thuật ngữ chỉ không gian, các bài thơ đồng dao,
âm nhạc…
V.А. Siskinna nhấn mạnh rằng: Nếu giờ học thể dục tạo cho trẻ có được cảm giác như
du hành vào một thế giới kì diệu, hấp dẫn, đa dạng của các loại vận động, nhịp điệu của
chúng, sự tương tác hợp lý với thế giới bên ngoài… thì hoạt động thể chất sẽ được được đón
nhận như là một" niềm vui" cơ bắp. Sự thoải mái trong giao tiếp với bạn bè, với giáo viên sẽ
giúp cho giờ học thể dục của trẻ trở nên vui vẻ, có hiệu quả mà không cần một hình thức kỷ
luật nào cả. [50].
Một phương tiện quan trọng để nâng cao mật độ động và tính tích cực vận động của trẻ
trên giờ học là sử dụng âm nhạc. Âm nhạc trùng khớp với việc thực hiện vận động có tác
động tích cực vào việc cải thiện chất lượng thực hiện vận động, góp phần phát triển cảm
xúc, sự biểu cảm, phát triển thính giác, khả năng cảm thụ âm nhạc, giáo dục khả năng định
hướng về thời gian [42]
N.Aksenova [41] cho rằng, "Âm nhạc là phương tiện hữu để kích thích sự tích cực vận
động của những trẻ ít vận động. Âm nhạc giúp trẻ thực hiện vận động theo đúng tốc độ và
nhịp điệu, thống nhất các phần của giờ học thành một chủ đề thống nhất, và nhờ đó để nâng
cao sự tích cực vận động vận động của trẻ trên giờ học".
Để giờ học thể dục đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng và bảo
vệ sức khỏe cho trẻ, theo D.V.Xuxlaeva, cần phải đảm bảo sự thú vị, tạo cho trẻ có những
cảm xúc tích cực nhất định bằng cách đưa thêm những bài tập vận động mới lạ và tăng dần

dụng nhiều phương pháp khác nhau (làm mẫu của giáo viên hay của trẻ, những lời giải
thích, sử dụng âm nhạc nhịp điệu (âm nhạc, âm thanh, đếm, tiếng hô).
17


Tóm lại, dựa trên kết quả nghiên cứu của D.V.Xuxlaeva, T.I.Osokina, E.Ya.
Stepanenkova, M.A.Runova, N.Aksenova và nhiều nhà nghiên cứu khác, để nâng cao tính
tích cực vận động cho trẻ trên giờ học thể dục, cần thiết phải sử dụng các phương pháp và
biện pháp sau đây:


Sử dụng các bài tập vận động có khả năng rèn luyện sự năng động, nhằm phát triển

các nhóm cơ khác nhau, đòi hỏi sự phối hợp vận động sự nhanh nhẹn và sức chịu đựng của
cơ thể;


Nội dung của các trò chơi, bài tập phù hợp lứa tuổi và khả năng vận động của từng



Sử dụng nhiều phương pháp tổ chức trẻ khác nhau;



Sử dụng hợp lý và có hiệu quả môi trường xung quanh, không gian, dụng cụ và

trẻ;

trang thiết bị luyện tập;

Thay đổi các phương án, nâng cao dần mức độ khó của trò chơi vận động.

1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, có một số tác giả đã nghiên cứu tính tích cực nhận thức như Hà Thế
Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Kỳ, Thái Duy Tuyên. Tuy nhiên các công
trình này đều đề cập đến tính tích cực nhận thức của học sinh. Theo đó thì tính tích cực nhận
thức được xem “là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở
mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập – nhận thức”. Tính
tích cực nhận thức là sự ham muốn hoạt động nhận thức của chủ thể và chính chủ thể chủ
động tạo nên những biểu hiện bên trong và bên ngoài. Lòng ham muốn hiểu biết chỉ trở
thành ý đồ học với điều kiện là làm trồi lên một động cơ.
18


Tác giả Đặng Hồng Phương trong nghiên cứu phát triển tính tích cực vận động cho trẻ
mầm non đã chỉ ra rằng: “Phát triển tính tích cực vận ở trẻ là quá trình vận dụng các phương
pháp tích cực nhằm phát huy khả năng vận động và đảm bảo mật độ vận động của trẻ trong
hoạt động giáo dục thể chất, đặc biệt là trong tiết học thể dục” [15].
Trong những năm qua, tính tích cực vận động trong giờ học thể dục đã được nghiên
cứu dưới nhiều góc nhìn khác nhau qua các luận án, luận văn.
Tác giả Nguyễn Thị Hòa (năm 2003) đã nghiên cứu “Phát huy tính tích cực nhận thức
của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi học tập” đã chỉ ra rằng, trong các trò chơi, đặc biệt
là trò chơi học tập đòi hỏi sự hoạt động trí tuệ rất phức tạp, trẻ phải huy động trí tuệ của
mình đến mức tối đa để giải quyết nhiệm vụ nhận thức mà trò chơi đã đặt ra.[ 7]
Khi nghiên cứu khả năng tâm vận động của trẻ 3 – 4 tuổi, Phan Thị Thu đã đề cập đến
vận động tinh như là một nhân tố quan trọng của tâm vận động, ảnh hưởng đến quá trình
phát triển tâm lý của trẻ. [24]
Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của Nguyễn Thị Như Mai năm 2001 Nghiên cứu Tâm vận
động ở trẻ 5 - 6 tuổi, trong phần lý luận về tâm vận động trẻ em, sau khi tổng kết nhiều quan
điểm, tư tưởng, khái niệm khác nhau của các nhà tâm lý học trên thế giới, tác giả đã cho

Lý Thị Anh đã nghiên cứu một số biện pháp phát huy tính tích cực của trẻ mẫu giáo 45 tuổi trong hoạt động chung có mục đích giáo dục thể chất, tác giả đã nhận định tính tích
cực của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trong giờ học thể dục được thể hiện ở việc tập trung, chú ý
nghe, làm theo hiệu lệnh của giáo viên, hứng thú tích cực vận động, mạnh dạn tự tin khi
thực hiện, thực hiện đầy đủ các phần cơ bản của động tác, thích thực hiện nhiều lần. [4]
Có thể nói rằng, có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý đến vấn đề tính tích cực
nhận thức của trẻ mẫu giáo, chỉ ra tiềm năng phát triển trí tuệ của trẻ mẫu là vô cùng lớn,
nhưng đến nay thì vẩn chưa được nghiên cứu một các đầy đủ và hoàn chỉnh. Bên cạnh đó,
có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp nâng cao tính tích cực vận động trong giờ
học thể dục cho trẻ 3-4 tuổi, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tích cực vận động trẻ 3-4
tuổi nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu biện pháp nâng cao tính tích cực vận
động trong giờ thể dục cho trẻ 5-6 tuổi.
Trong những năm gần đây tư tưởng dạy học tích cực đã và đang là chủ trương của
ngành giáo dục nước ta và được giới thiệu trên một số tạp chí khoa học chuyên ngành. Một
trong những nguyên tắc cơ bản của giáo dục mầm non nước ta là phát huy tính tích cực của
trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non.

1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm “Tích cực”
Lâu nay, tính tích cực là một trong những vấn đề cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Vậy tính tích cực là gì?
20


+ Trong từ điển Tiếng Anh [31], tính tích cực là “activity”, chỉ trạng thái hoạt động và tính
chủ động.
+ Theo từ điển bách khoa toàn thư [30] thì “Tính tích cực là hoạt động, đối lập với tính chủ
động là thiếu chủ động”.
+ Theo từ điển tiếng Việt [26] “Tính tích cực” được hiểu là:
- Có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển trái với tiêu cực.
- Tính chủ động, có những hoạt động sáng tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển.

3. Yếu tố động lực quyết định sự phát triển của cơ thể và hệ thần kinh, cùng với yếu tố
di truyền và cảm giác (Bernstein, G. Shepherd);
4. Thỏa mãn nhu cầu vận động của trẻ (Y.F. Zmanovsky).
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tăng khối lượng và cường độ của các hoạt động thể chất
góp phần cải thiện hệ thống sinh lý cơ bản (thần kinh, tim mạch, hô hấp), phát triển thể chất
và tâm lý, phát triển vận động cơ bắp.
Tính tích cực vận động thể hiện ở lượng vận động và cường độ vận động, ngoài ra còn
có các yếu tố chủ động và sáng tạo của trẻ. Chế độ vận động bao gồm những vận động trẻ
thực hiện trong hoạt động vận động do giáo viên tổ chức. Ở mức độ cường độ vận động lớn,
nó được quy định bởi độ dài, nội dung và các phương pháp của những hình thức thể dục
khác nhau. Khí hậu, thời tiết cũng có ảnh hưởng đến sự tích cực vận động của trẻ
Trong giờ thể dục, lượng vận động phụ thuộc vào số lượng và chất lượng thực hiện các
bài tập, hoàn cảnh tác động và phương pháp tổ chức luyện tập.
- Các bài tập thể chất bao gồm: Bài tập thể dục, trò chơi vận động, chúng có cấu trúc
kỹ thuật khác nhau và liên quan đến các tố chất thể lực cũng không giống nhau.
- Hoàn cảnh tác động: Các điều kiện kèm theo và xuất hiện trong khi luyện tập như:
Trẻ tích cực, chủ động, hứng thú, vui vẻ…. hay giờ học căng thẳng, buồn tẻ, nặng nề, thời
tiết, sân bãi, dụng cụ không đầy đủ, không đảm bảo an toàn,….
Phương pháp tổ chức luyện tập: Lựa chọn và sử dụng các phương pháp, biện pháp
hướng dẫn trẻ trong quá trình tập luyện phải đảm bảo nguyên tắc sư phạm, khoa học.
Lượng vận động trong giờ thể dục là độ lớn của các tác động vận động đến cơ thể và là
mức độ các khó khăn chủ quan và khách quan mà người tập phải vượt qua trong quá trình
chịu sự tác động đó. Nói cách khác, lượng vận động chỉ mức độ tác động của bài tập thể
chất đến cơ thể, căng thẳng về tâm lí.

22


Lượng vận động là nguyên nhân trực tiếp làm tiêu hao năng lượng và kéo theo sự mệt
mỏi về thể chất và tâm lí. Mệt mỏi tất yếu phải dẫn đến nghỉ ngơi hợp lí để hồi phục năng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status