chính sách đối ngoại của hoa kỳ ở khu vực đông á thập niên đầu thế kỷ xxi - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Chung Thủy

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
Ở KHU VỰC ĐÔNG Á THẬP NIÊN ĐẦU
THẾ KỶ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Chung Thủy

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
Ở KHU VỰC ĐÔNG Á THẬP NIÊN ĐẦU
THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành :

Lịch sử thế giới

Mã số

60 22 03 11

:

2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................5
3. Nguồn tư liệu và lịch sử nghiên cứu vấn đề..................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................10
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ..........................................11
6. Đóng góp của đề tài .......................................................................................................12
7. Kết cấu của luận văn ....................................................................................................12

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐÔNG Á
TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI......... 13
1.1. Bối cảnh quốc tế .........................................................................................................13
1.1.1. Sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta và sự hình thành trật tự thế giới mới .............13
1.1.2. Sự xuất hiện của xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển .......................................14
1.1.3. Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế và sự tác động của các vấn đề toàn cầu .......16
1.1.4. Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 và sự tác động đến chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ đối với khu vực Đông Á ............................................................................................18
1.1.5. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự suy giảm về thế và lực của Mỹ .......................21
1.2. Tình hình khu vực Đông Á .......................................................................................24
1.2.1. Tình hình ở Đông Bắc Á .......................................................................................24
1.2.2. Tình hình ở Đông Nam Á......................................................................................36

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ Ở ĐÔNG Á TRONG
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI .............................................................................. 43
2.1. Khái quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh Lạnh đến
trước thập niên đầu của thế kỷ XXI ...............................................................................43
2.1.1. Chính sách đối ngoại của chính quyền B.Clinton .................................................43
2.1.2. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của chính quyền G.W.Bush sau sự kiện
11/9/2001 .........................................................................................................................47
2.2. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Đông Bắc Á ...................................................49
2.2.1. Chính sách của Mỹ đối với sự “trỗi dậy” của Trung Quốc ...................................49
2

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt
ĐNA

Đông Nam Á

ĐBA

Đông Bắc Á

CA – TBD

Châu Á – Thái Bình Dương

TBCN

Tư bản chủ nghĩa

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

CHDCND
LHQ


tình tình an ninh, chính trị của các quốc gia ở khu vực Đông Á. Đây cũng là lý do thôi
thúc tôi thực hiện đề tài này bởi tính thời sự nóng bỏng và sức hấp dẫn của nó.

2. Mục đích nghiên cứu

5


- Phục dựng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Á trên các lĩnh
vực kinh tế, an ninh – chính trị, vấn đề tự do – nhân quyền,…
- Chỉ ra những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực Đông
Á trước thế kỷ XXI so với giai đoạn thập niên đầu của thế kỷ XXI.
- Rút ra một số nhận định, đánh giá về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực
Đông Á, đồng thời so sánh những điểm khác biệt trong chính sách của Hoa Kỳ giữa hai
khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á.

3. Nguồn tư liệu và lịch sử nghiên cứu vấn đề
∗Về nguồn tư liệu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các loại tư liệu từ
các nguồn sau: các công trình viết thành sách, các bài viết đăng trên các tạp chí của các
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, các bài viết đăng ở các
website trên Internet.
∗Về lịch sử nghiên cứu vấn đề: Do là đề tài mới, mang tính thời sự nên tính đến
thời điểm thực hiện đề tài này, theo chúng tôi được biết, chưa có công trình nào đi sâu
vào nghiên cứu một cách hệ thống toàn bộ chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực
Đông Á vào thập niên đầu thế kỷ XXI trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh, tự do
nhân quyền. Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực hoặc từng vấn đề, sự kiện cụ thể cũng đã có một
số công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước viết thành sách hoặc dưới
dạng bài viết đăng trên một số tạp chí. Đây là những tư liệu quý để chúng tôi tham khảo
trong quá trình thực hiện đề tài. Cụ thể, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau
đây:

Công trình này là một tuyển tập địa - kinh tế - chính trị, với độ dày hơn 800 trang, gồm 5
phần, đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn của thế giới thời hậu chiến tranh lạnh, trong đó
có phần một và phần hai – là những phần đề cập đến vai trò của Hoa Kỳ và Trung Quốc
trong thế giới đương đại hiện nay.
Nguyễn Thiết Sơn (Chủ biên, 2002), Nước Mỹ năm đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa
học xã hội, HN. Nội dung của cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề của nước Mỹ trong
năm đầu của thế kỷ XXI, đặc biệt là sau sự kiện ngày 11/9 như vấn đề về khủng bố và
chống khủng bố, các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội,… Và ở phần IV (từ trang 147
đến trang 249), cuốn sách đề cập đến chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của chính
quyền G.Bush. Đây là phần có nhiều tư liệu cung cấp cho việc thực hiện đề tài của
chúng tôi.
7


PGS.TS Nguyễn xuân Sơn và TS.Nguyễn Văn Du (2006), Chiến lược đối ngoại
của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB
Chính trị Quốc gia, HN. Trong công trình này, các tác giả đã đề cập tới một số vấn đề
như: Cơ sở hoạch định chiến lược đối ngoại của các nước lớn sau chiến tranh lạnh, chiến
lược đối ngoại của một số nước lớn trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI,… Đây là tư
liệu cung cấp cho chúng tôi nhiều cứ liệu khoa học để thực hiện đề tài.
TS. Phạm Minh Sơn (Chủ biên, 2008), Chính sách đối ngoại của một số nước lớn
trên thế giới, NXB Lý luận Chính trị, HN. Với nội dung gồm 8 chương, cuốn sách đã đề
cập đến chính sách đối ngoại của hầu hết các nước lớn trên thế giới. Trong đó ở các
chương I, II,VIII là những chương đề cập đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, Trung
Quốc và Nhật Bản – là những tư liệu liên quan đến đề tài mà chúng tôi thực hiện.
Fareed Zakaria (2010) (Người dịch: Diệu Ngọc), Thế giới hậu Mỹ, NXB Tri thức,
HN. Tác giả của công trình này là cây bút nổi tiếng của tờ Newsweek, một chuyên gia
phân tích về chính sách ngoại giao. Với 7 chương, cuốn sách đã đề cập những nội dung
khá rộng như: Sự trỗi dậy của phương Đông, những mâu thuẫn của thế giới đương đại,
một thế giới không có phương Tây hay quyền lực và mục tiêu của nước Mỹ,…Mặc dù

liệu để thực hiên đề tài, chúng tôi cũng đã tìm được khá nhiều các bài viết có liên quan
đến nhiều khía cạnh của đề tài. Các bài viết này là của các tác giả trong nước đăng trên
một số tạp chí nghiên cứu, tiêu biểu như:
Th.S Trịnh Thị Thu Huyền, Sức mạnh, quyền lực và bá quyền Mỹ trong cơn
khủng hoảng, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3(74) tháng 9/2008.
TS. Nguyễn Thái Yên Hương, Mỹ và các vấn đề toàn cầu thời kỳ sau Chiến tranh
lạnh, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1(72) tháng 3/2008.
Khổng Thị Bình và Nguyễn Vũ Tùng, Chính sách đối ngoại của Mỹ và hệ lụy đối
với khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Các góc nhìn từ giới học giả khu vực, Tạp chí
Nghiên cứu Quốc tế số 2(77) tháng 6/2009.
TS. Vũ Lê Thái Hoàng, Đánh giá về sức mạnh của Mỹ và những hệ lụy quốc tế
trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2(73) tháng
6/2008.
PGS.TS. Trần Khánh, Sự nổi lên của Trung Quốc trong tương quan quyền lực với
Mỹ và Nhật Bản ở Đông Á (thập niên đầu thế kỷ XXI), Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số
4(79) tháng 12/2009.
9


GS.TS. Nguyễn Thiết Sơn, Cộng đồng Đông Á – Những khả năng, Tạp chí Châu
Mỹ ngày nay, số 09 năm 2006.
TS. Nguyễn Thị Hương Canh, Nhân tố Trung Quốc trong chính sách của Mỹ về
vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 10 năm 2006.
Nguyễn Tùng Dương, Tương lai và thế lực của Mỹ: “Khoảnh khắc đơn cực”đã
thực sự chấm dứt?, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1(76) tháng 3/2009.
Th.S Lê Đình Tĩnh, Mỹ và an ninh Đông Nam Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu
Quốc tế số 60.
Nhìn chung, nội dung của các bài viết nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh
khác nhau tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực Đông Á những năm đầu
thế kỷ XXI: từ thế và lực của Mỹ hiện nay đến sự nổi lên của Trung Quốc trong tương

thời chính quyền B.Clinton, 3 trụ cột chính được xác định là kinh tế, an ninh – quân sự
và thúc đẩy dân chủ, nhân quyền. Tuy nhiên, bước sang thập niên đầu thế kỷ XXI, sau
sự kiện khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ, chính quyền G. Bush đã có sự điều chỉnh chính sách
đối ngoại: vấn đề chống khủng bố được coi là ưu tiên số một, do vậy chính sách an ninh
– quân sự cũng được đặc biệt đề cao. Chính vì vậy khi tìm hiểu về chính sách đối ngoại
của Mỹ ở khu vực Đông Á trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, bên cạnh việc trình bày
sơ lược về chính sách kinh tế, vấn đề dân chủ, nhân quyền, đề tài chủ yếu đi sâu vào việc
phân tích chính sách an ninh – quân sự của Mỹ ở Đông Á.
Thứ hai, do giới hạn về số trang của một luận văn thạc sĩ nên việc trình bày về
chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trên cả ba lĩnh vực như đã nêu ở trên trong phạm vi
không gian rộng lớn của cả khu vực Đông Á là điều không thể thực hiện được.
Ngoài ra, trong chính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á, đề tài không đề
cập đến trường hợp Việt Nam vì đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan
hệ Việt - Mỹ.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau:
- Về cơ sở lý luận, chúng tôi dựa vào quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh để xem xét, đánh giá vấn đề cũng như đánh giá tư liệu; nhìn nhận các sự
kiện lịch sử trong mối quan hệ biện chứng.
- Về phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, chúng tôi sử dụng các phương pháp:
11


Phương pháp lịch sử: xem xét, phân tích các vấn đề, sự kiện theo thời gian, niên
đại, lịch đại, đặt các sự kiện, quá trình lịch sử trong bối cảnh khu vực và quốc tế,…
Phương pháp logic: Trình bày, sắp xếp, xâu chuỗi, lí giải các vấn đề, sự kiện.
- Về phương pháp nghiên cứu liên ngành, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên
cứu quan hệ quốc tế: Những nhân tố chi phối quá trình hoạch định và thực hiện đường

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Liên Xô và hệ thống các nước Xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Liên Xô tan vỡ, đã tạo ra
những biến đổi cơ bản trong tương quan so sánh lực lượng trên thế giới và cấu trúc của
hệ thống chính trị quốc tế. Thế giới bước vào thời kỳ quá độ chuyển từ trật tự “hai cực”
sang một trật tự mới với nhiều biến đổi khôn lường, khó dự báo. Mỹ trở thành siêu
cường duy nhất, không có đối thủ tương xứng. Trạng thái mất cân bằng về quyền lực
trên toàn cầu do Liên Xô bất ngờ sụp đổ dẫn tới việc các nước coi lợi ích quốc gia, dân
tộc là một động lực cơ bản chi phối hoạt động chính trị đối ngoại, do đó, khi mâu thuẫn
về ý thức hệ có khuynh hướng thuyên giảm thì mâu thuẫn dân tộc lại nổi lên hết sức phổ
biến và biểu hiện gay gắt hơn trước. Mỹ muốn duy trì nguyên trạng (status quo), nhưng
các nước lớn khác, đặc biệt là Trung Quốc - cường quốc đang “trỗi dậy”, lại muốn xác
lập một thế cân bằng quyền lực mới bảo đảm vai trò nước lớn của họ, nhất là tạo thế có
thể tham gia tạo ra “các luật chơi” cho Trung Quốc. Theo nhiều đánh giá của chính giới
Mỹ, Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng lớn nhất của Mỹ, có khả năng đe dọa vai trò lãnh
đạo của Mỹ trong 15 – 20 năm tới. Và với việc Trung Quốc nổi lên như là một chủ thể
trong hệ thống chính trị quốc tế đương đại là chưa hề có tiền lệ trong lịch sử [2].
Trải qua 235 năm kể từ khi tuyên bố độc lập (1776 – 2011), nước Mỹ đã liên tục
có sự phát triển mạnh mẽ để từ một thuộc địa trở thành một siêu cường trên thế giới.
Cùng với sự phát triển đó là sự thay đổi (lúc mạnh hơn, lúc giảm đi trong so sánh tương
đối với các cường quốc khác) về thế và lực của Mỹ qua các thời kỳ. Hiện nay, tuy cuộc
khủng hoảng tài chính năm 2008 làm Mỹ suy yếu tương đối, hình ảnh nước Mỹ dưới
thời G.W.Bush có bị giảm đi đáng kể sau cuộc chiến ở Irắc, nhưng các chuyên gia đều
nhận định rằng đến 2020 Mỹ vẫn là một siêu cường.
13


Và dù rằng, đa số các chuyên gia đều thống nhất với nhận định chung là đến năm
2020, Mỹ vẫn là một siêu cường. Tuy nhiên, sau khi “trật tự hai cực Ianta” sụp đổ,
“khoảnh khắc đơn cực” tức “một cực” duy nhất do Mỹ thống trị chỉ kéo dài trong
khoảng 15 đến 20 năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Hiện nay, việc xác định trật tự

giới hai cực bị phá vỡ, thế giới bước vào thời kỳ kết thúc Chiến tranh Lạnh. Từ đó xu thế
hòa bình, hợp tác hình thành và ngày càng trở thành một xu thế chủ đạo[58, tr.13]. Trong
thập niên đầu thế kỷ XXI, xu thế chung trên thế giới là hòa bình, hợp tác, toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế khu vực, thế giới với sự nổi lên của nhiều quốc gia và nhiều khu vực
kinh tế. Hòa bình, hợp tác vì sự ổn định và phát triển kinh tế là nét cơ bản, song vẫn còn
nhiều thách thức đặt ra đối với nền hòa bình chung trên thế giới và nền kinh tế toàn cầu.
Nét mới của tình hình thế giới kể từ sau Chiến tranh Lạnh đến những năm đầu thế
kỷ XXI đó là nhân loại ngày càng phải tập trung sức mạnh của toàn thể cộng đồng để
giải quyết mâu thuẫn đang nổi lên, đe dọa đến tất cả các quốc gia, dân tộc, giữa một bên
là các lực lượng đấu tranh cho hòa bình, bảo vệ độc lập dân tộc, ổn định và phát triển
bền vững với một bên là chủ nghĩa đế quốc cường quyền áp đặt do Mỹ và các nước đế
quốc gây ra. Các nước, nhất là các nước đang phát triển bên cạnh việc phải nhanh chóng
thích nghi với toàn cầu hóa, quốc tế hóa và khu vực hóa thì cuộc đấu tranh chống mặt
trái của toàn cầu hóa cũng được xem là một nhiệm vụ quan trọng. Nội dung của thời đại
ngày nay vẫn là cuộc đấu tranh ý thức hệ để lựa chọn con đường phát triển hợp quy luật,
điều chỉnh chiến lược, sách lược để hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa, vừa hợp tác vừa
đấu tranh trên con đường phát triển.
Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, có thể nói, là xu thế vận động và phát triển
chung của thế giới và hơn nữa, còn là một xu thế chính, xu thế chủ đạo trên thế giới hiện
nay. Sau Chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, quan hệ quốc tế đã có những thay đổi sâu sắc.
Thay cho quan hệ đối đầu và biệt phái trước đây là quan hệ đối thoại và hợp tác, giao lưu
giữa các nước. Quan hệ quốc tế hiện nay liên quan trực tiếp đến toàn cầu hóa và kinh tế
thị trường toàn cầu, đến quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng trên quy mô
toàn cầu
[58, tr.17]. Do vậy, việc thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước trên quy mô toàn
cầu đang làm cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc hơn, kết cấu
quan hệ quốc tế xuất hiện sự thay đổi mang tính thực chất và mới mẻ hơn.
15



16


[54, tr.5 – 7 ]. Xu thế này tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế
đến chính trị văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng v.v… cuốn hút tất cả các nước, các
quốc gia trên thế giới, chi phối những biến đổi của tình hình thế giới hiện nay. Và cho dù
được nhìn nhận từ góc độ nào thì người ta đều thống nhất với nhau rằng, toàn cầu hóa là
một quá trình không thể đảo ngược trong ít nhất một vài thập kỷ tới [58, tr.34].
Xu thế toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ bởi đặc điểm của toàn cầu hóa, ở
khía cạnh kinh tế, là việc tạo ra hàng loạt cơ hội cho sự phát triển ở mỗi quốc gia, mỗi
khu vực và toàn thế giới. Đó là gia tăng các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia, thúc
đẩy tiến bộ khoa học và chuyển giao công nghệ mới; các công ty xuyên quốc gia và các
tổ chức tài chính thế giới (như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng châu
Âu, Ngân hàng châu Á, Tổ chức thương mại thế giới, v.v…) ngày càng trở thành những
chủ thể chính trong các quan hệ kinh tế quốc tế; đẩy mạnh tự do hóa thương mại và gia
tăng nhanh chóng mậu dịch, đẩy mạnh di chuyển vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ và
nâng cao năng lực cạnh tranh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế, mở rộng thị trường, đa dạng hóa và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu; mở rộng các
hình thức tổ chức hoạt động kinh tế quốc tế v.v…[54, tr.90 – 98].
Xu thế toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ còn bởi vai trò và tầm quan trọng
của nó. Toàn cầu hóa kinh tế làm gia tăng nhanh số lượng, quy mô và vai trò của các
công ty xuyên quốc gia; tăng cường phân công và chuyên môn hóa lao động quốc tế;
thúc đẩy tiến bộ khoa học và chuyển giao công nghệ; đẩy mạnh tự do hóa thương mại;
đẩy mạnh di chuyển vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh
tranh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, mở rộng thị
trường; cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng; nâng cao hiệu quả và năng lực vạnh
tranh của các quốc gia; thúc đẩy giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế, phối hợp ngăn
ngừa và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của các cuộc suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài
chính tiền tệ, nạn độc quyền, gian lận thương mại, v.v..

chốc biến thành đống đổ nát. Lầu năm góc, trụ sở của Bộ Quốc phòng, nơi được bảo vệ
một cách nghiêm ngặt, cũng bị tấn công làm sụp đổ cả một góc tòa nhà. Hệ thống an
ninh phòng thủ của Mỹ hoàn toàn bị động trước các vụ tấn công trên. Cơ quan tình báo
cũng không hề có thông tin gì về vụ khủng bố.
Vụ khủng bố này đã rung lên một hồi chuông mới về khủng bố và chống khủng
bố. Nó đã và đang tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội nước
Mỹ và của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 là vụ khủng
18


bố lớn nhất trong lịch sử nhân loại xét trên tất cả các phương diện: thiệt hại về tính mạng
con người, về tài sản, về tinh thần, về niềm tin, về mức độ ảnh hưởng, về không gian
cũng như thời gian, về kế hoạch chuẩn bị, sự tinh vi, thời gian chuẩn bị cho cuộc khủng
bố, về ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, về sự phát triển kinh tế. Đây là vụ khủng bố
mang tính toàn cầu mặc dù nó xảy ra trên đất Mỹ. Do đó, chúng ta có thể nhận thấy được
bức tranh toàn cảnh về hậu quả của khủng bố nói chung qua phân tích hậu quả của cuộc
khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ.
Phát biểu trên kênh truyền hình toàn quốc tối ngày 11/9, Tổng thống Mỹ
G.W.Bush coi đây là một thảm kịch quốc gia và là một hành động chiến tranh. Ông kêu
gọi sử dụng toàn bộ nguồn lực quốc gia để cứu trợ các nạn nhân, và cam kết sẽ trả thù và
trừng trị không phân biệt những kẻ tiến hành khủng bố cũng như những nước che chở
cho chúng. Công cuộc cứu hộ đã được tiến hành khẩn trương ở New York, song kết quả
thu được rất bi quan do đống đổ nát quá lớn. Thiệt hại về người là vô cùng to lớn, hơn
gấp đôi số thương vong của Mỹ trong vụ Nhật Bản tấn công vào Trân Châu Cảng 60
năm trước (khoảng 3000 quân). Cho đến ngày 21/9, ngoài 266 hành khách trên 4 chiếc
máy bay, số tử vong ở Lầu năm góc là 180 người. Hơn 5000 người của 79 quốc gia đã
chết, trong đó có 300 cảnh sát và nhân viên cứu hỏa New York đang làm nhiệm vụ trong
hai tòa nhà trước khi chúng sụp đổ. Những nước có số người chết từ 200 người trở lên
bao gồm: Mỹ, Côlômbia, Pakistan, Anh. Những nước có số người chết từ 50 người trở
lên bao gồm: Úc, Bỉ, Nhật Bản, Nga, Thụy sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, El Salvador, Hy

Các nhà lãnh đạo coi các hành vi giết người cũng như các hành động khủng bố dưới mọi
hình thức và biểu hiện, được thực hiện ở bất kỳ nơi nào và thời điềm nào bởi bất kỳ ai,
đều là sự đe doa sâu sắc đối với hòa bình, thịnh vượng và an ninh của mọi dân tộc thuộc
mọi tín ngưỡng, mọi quốc gia” [ 81].
Các cơ quan quốc tế có trụ sở tại New York, kể cả cơ quan Đại hội đồng Liên
Hợp quốc cũng đã được lệnh sơ tán để bảo đảm an ninh. Ngay sau khi nhóm họp lại,
ngoài việc thảo luận, thông qua Nghị quyết số 56/1 ngày 12/9/2001 lên án chủ nghĩa
khủng bố và các tuyên bố khác, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đã giành tới 5 ngày (từ
ngày 1-5/10/2001) để thảo luận về các vấn đề khủng bố (Xem trang web của Liên Hợp
quốc).

20


Vụ khủng bố 11/9 đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy an ninh của Mỹ. Sự kiện
này đã khiến người Mỹ phải nhìn nhận rõ ràng hơn về sự thay đổi của môi trường an
ninh và các thách thức an ninh đối với Mỹ. Đó là biểu hiện cụ thể mức độ thách thức của
chủ nghĩa khủng bố quốc tế đối với an ninh Mỹ; là cú sốc chiến lược, thúc đẩy những
điều chỉnh chính sách quan trọng mang tính tổng thể trong chiến lược an ninh Mỹ; tác
động mạnh tới chính sách chống khủng bố của Mỹ không chỉ ở khu vực Đông Á mà trên
phạm vi toàn thế giới [52, tr.39].
Ở cấp độ chiến lược, quan điểm của chính quyền G.Bush về an ninh đối với Đông
Á, phần nào có sự kế thừa tư duy của chính quyền Bill Clinton. Mục tiêu bao trùm của
Mỹ tại Đông Á vẫn là duy trì vị thế, ảnh hưởng và vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực,
ngăn chặn không để cho bất cứ một nước hay một nhóm nước nào nổi lên thách thức vai
trò, vị trí của Mỹ. Lợi ích của Mỹ tại Đông Á vẫn là duy trì hòa bình, ổn định khu vực;
thúc đẩy tự do hóa thương mại; tiếp cận tự do và an toàn các tuyến đường biển trọng
yếu; thúc đẩy dân chủ hóa theo kiểu phương Tây. Tại cuộc điều trần trước ủy ban đối
ngoại – Thượng viện Mỹ (ngày 26/4/2001), ông James Kelly – Trợ lý ngoại trưởng Mỹ
về Đông Á – Thái Bình Dương đã khẳng định “Lợi ích của chúng ta ở Đông Á là không

Kể từ khi trở thành một siêu cường trên thế giới sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất,
Mỹ đã trải qua một lần suy giảm về thế và lực, đó là giai đoạn từ giữa thập niên 1960
đến cuối thập niên 1970. Khi đó, nước Mỹ hai lần rơi vào suy thoái kinh tế (thập niên 70
và 80), phải cạnh tranh quyết liệt với hai trung tâm kinh tế TBCN khác là Tây Âu và
Nhật Bản; phải đối phó với sự vươn lên mạnh mẽ của Liên Xô và hệ thống các nước
XHCN, thất bại trong chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, giai đoạn suy giảm đó của Mỹ
không nghiêm trọng như trong giai đoạn hiện nay. Sự suy giảm thế và lực hiện nay của
Mỹ thể hiện trên nhiều mặt:
Về kinh tế, hiện nay Mỹ đang mất dần vai trò là động lực chính của nền kinh tế thế
giới, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ hiện nay được coi là nghiêm trọng nhất kể từ
Đại khủng hoảng (1929 – 1933) khởi đầu từ Mỹ đã làm lung lay mạnh vai trò trung tâm,
“thành trì” về tài chính của Mỹ. Theo Tuần báo Kinh doanh (Business Week) của Mỹ,
số ra ngày 22 – 29-8-2005, tỷ trọng của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu sẽ giảm từ 28%
năm 2004 xuống 27% nặm và 26% năm 2050. Năm 2005 là một năm đáng báo động đối
với thị trường chứng khoán New York: 24 trong tổng số 25 đợt lên sàn (IPO) lớn nhất
trong năm đó diễn ra bên ngoài nước Mỹ [102]. Kể từ năm 2002, mỗi năm Mỹ thâm hụt
ngân sách từ 300 đến 400 tỷ đôla, lên đến 450 tỷ trong tài khóa 2007 – 2008. Tính đến
22


tháng 10/2008, tổng nợ quốc gia đã vượt 10.000 tỷ đôla, trong đó 25% là nợ nước ngoài.
Thâm hụt thương mại của Mỹ là khoảng 700 tỷ đôla mỗi năm, chủ yếu là nhập siêu với
Trung Quốc và các nước xuất khẩu dầu [22, tr.135].
Việc bảo đảm an ninh năng lượng là một trong những vấn đề hết sức khó khăn đối
với Mỹ trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Về cơ bản, Mỹ phụ thuộc nhiều vào việc
nhập khẩu năng lượng. Năm 2003, nhập khẩu dầu và năng lượng của Mỹ chiếm hơn 1/4
tổng thâm hụt thương mại hàng hóa và dịch vụ, đến năm 2008 con số này đã vượt mức
3/4 tổng thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, việc này có thể sẽ được khắc phục được trong
một tương lai gần, do việc phát triển các nguồn năng lượng thay thế đang được Chính
phủ Mỹ ưu tiên đầu tư cả về vốn và kỹ thuật công nghệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status