Luận văn: Một số chính sách kinh tế đối ngoại của Hoa Kỳ pot - Pdf 11


1

Luận văn

Một số chính sách kinh tế đối
ngoại của Hoa Kỳ

2
LỜI MỞ ĐẦU
Châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành khu vực năng động nhất thế giới
bởi có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong nhiều thập niên qua. Khu vực này
cũng là nơi tập trung nhiều nền kinh tế lớn của thế giới như Nhật Bản, Trung
Quốc, các nước công nghiệp mới NICs,…mà đặc biệt là Hoa Kỳ- nền kinh tế
lớn nhất khu vực và thế giới. Bài viết này xin đưa ra một vài nét chính trong
chính sách kinh tế đối ngoại và luật pháp Hoa Kỳ trong bối cảnh thế giới đang
chuyển sang một cục diện đa cực như hiện nay. Bài viết bao gồm những phần
sau:
Phần 1: Chính sách đối với khu vực Châu Á-Thái Binh Dương.
Phần này trình bày về một số chính sách chung đối với khu vực Châu Á-Thái
Binh Dương và chính sách riêng đối với một số nước trong khu vực trong đó có
Việt Nam.
Phần 2: Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ
Phần này tập trung vào hai vấn đề là hệ thống pháp luật và hiệu lực pháp lý, một
số chính sách thương mại đối ngoại của Hoa Kỳ.
Phần 3: Một số chính sách kinh tế đối ngoại của Hoa Kỳ.
Phần này trình bày một số chính sách kinh tế đối ngoại của Hoa Kỳ nhằm mục
tiêu giữ vững vị trí nền kinh tế số một thế giới.

không thành công, ngày 13-12-2001, Hoa Kỳ đã đơn phương huỷ bỏ hiệp ước
này để triển khai kế hoạch NMD. Nga hiện nay không còn được coi là đồng
minh chiến lược mà là đối thủ cạnh tranh chiến lược cả trên lĩnh vực quân sự và
kinh tế.
Đối với Trung Quốc

4
Hoa Kỳ không coi Trung Quốc là kẻ thù. Chính sách của Hoa Kỳ là tăng
cường quan hệ nhằm tác động vào quá trình phát triển chính trị và kinh tế của
Trung Quốc nhưng đồng thời lại tìm cách kiềm chế nhằm ngăn chặn ảnh hưởng
của quốc gia nàytại Châu Á và ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc trở thành thách
thức với Hoa Kỳ trong tương lai. Trung Quốc giờ đây trở thành “ đối thủ cạnh
tranh chiến lược” trong chiến lược của tổng thống Bush. Hoa Kỳ vẫn công nhận
“một nước Trung Hoa” thống nhất nhưng trên thực tế, vẫn tăng cường giúp đỡ
cho Đài Loan về vũ khí, thậm chí mời Đài Loan tham gia kế hoạch NMD của
Hoa Kỳ.
Đối với Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ có thể chia thành bốn giai đoạn chính:
- Giai đoạn trước năm 1954: Việt Nam là nước quá nhỏ bé so với Hoa Kỳ
nên hầu như chưa có quan hệ kinh tế, thương mại.
- Giai đoạn 1954-1975: Hoa Kỳ là chỗ dựa của chính quyền miền Nam về
quân sự và kinh tế và coi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là kẻ thù. Hoa Kỳ
luôn coi Việt Nam là vị trí chiến lược về quân sự trong việc ngăn chặn
ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản đối với khu vực Đông Nam Á.
- Giai đoạn 1975-1990: Sau khi chiến tranh kết thúc, Hoa Kỳ đã thi hành
lệnh cấm vận kinh tế chống lại Việt Nam.
- Giai đoạn từ 1990 đến nay: Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và
Hoa Kỳ hình thành và phát triển. Sự phát triển này xuất phát từ hai
nguyên nhân chính:

cao liên bang. Hiến pháp được sửa đổi khi có hai phần ba số phiếu thuận ở quốc
hội hai viện và phải được hội đồng lập pháp của ít nhất ba phần tư số bang hoặc
ba phần tư đại diện của các bang ở hội nghị toàn quốc phê chuẩn. Đến nay, hiến
pháp Hoa Kỳ đã qua 27 lần sửa đổi.
(2) Các hiệp ước quốc tế: Đây là hiệp ước được kí giữa nhà nước Hoa Kỳ với
các quốc gia khác. Các quy định trong hiệp ước chỉ phải tuân thủ Hiến pháp, và
do vậy các hiệp ước quốc tế có giá trị hiệu lực pháp lí cao hơn tất cả các văn bản
pháp lí khác. Hiệp ước quốc tế sẽ có hiệu lực khi được tổng thống phê chuẩn và
được hai phần ba số thượng nghị sĩ biểu quyết tán thành. Có hai loại hiệp ước,
một loại sẽ có hiệu lực ngay sau khi phê chuẩn mà không cần Quốc hội hai viện

7
thông qua và một loại có hiệu lực sau khi ban hành một đạo luật liên bang
hướng dẫn.
(3) Các đạo luật liên bang: ngoài quyền lập pháp đã được qui định cụ thể,
Hiến pháp còn qui định Quốc hội còn có quyền ban hành tất cả các văn bản pháp
luật khi thấy cần thiết để tạo điều kiện cho việc hành pháp. Cũng giống như các
hiệp ước, các đạo luật khi đã ban hành thì chỉ phải tuân thủ hiến pháp, tức là các
đạo luật này không được vi hiến. Một đạo luật khi ban hành ra có thể hợp hiến,
cũng cóthể vi hiến, và nhiệm vụ của tào án tối cao là phải xác định đạo luật nào
hợp hiến để thông qua.
(4)Các mệnh lệnh, qui tắc sử dụng và quy phạm hành chính: Các mệnh lệnh
mà tổng thống đưa ra phải phù hợp với pháp luật. Các cơ quan hành chính liên
quan cũng có quyền ban hành các quy tắc xử sự cũng như các quy phạm hành
chính nhưng phải phù hợp với những văn bản pháp luật, và nếu các quy tắc, các
quy phạm này đóng vai trò như những quy định của luật liên bang thì đương
nhiên chúng có giá trị cao hơn luật của tiểu bang.
(5) Hiến pháp bang: Hiến pháp bang không được trái với Hiến pháp và các
đạo luật liên bang và thường sửa đổi, bổ sung nhiều hơn.
(6) Luật của các bang: Luật liên bang không thể bao quát hết tất cả các lĩnh

 Quy chế tối huệ quốc (MFN)
Hiện nay quy chế này đã giành cho tất cả các thành viên WTO và hầu hết
các quốc gia khác. Các quốc gia muốn được hưởng MFN phải thoả mãn hai yêu
cầu: Tuân thủ các điều khoản Jackson- Vanick và đã kí hiệp định thương mại
song phương với Hoa Kỳ. Kể từ ngày10-12-2001, khi hiệp định thương mại
song phương Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực thì hàng Việt Nam cũng được
hưởng mức thuế MFN.

9
 Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)
GSP là hệ thống ưu đãi thuế quan đơn phương không kèm theo các điều
kiện ràng buộc có đi có lại mà Hoa Kỳ áp dụng với các nước đang phát triển
nhằm giúp các nước này nâng cao tính cạnh tranh về giá (do được hưởng thuế
xuất nhập khẩu thấp, thông thường bằng 50% so với mức thuế qui định với
MFN) khi đưa hàng hoá vào các nước công nghiệp phát triển. Chế độ này đang
được áp dụng cho trên 4450 sản phẩm từ trên 150 nước và vùng lãnh thổ đang
phát triển. Luật thương mại năm 1984 cũng qui định rõ danh sách các nước
không được hưởng chế độ GSP. Việt Nam chưa được hưởng GSP của Hoa Kỳ.
Trong hiệp định Việt Nam-Hoa Kỳ chỉ mới đề cập đến qui chế MFN, Hoa Kỳ
cũng khẳng định sẽ xem xét việc dành cho Việt Nam chế độ GSP.
2.2.2 Luật bồi thường thương mại
Luật này được áp dụng khi hàng hóa nước ngoài được hưởng lợi thế
không công bằng trên thị trường Hoa Kỳ hoặc hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ bị
phân biệt đối xử trên thị trường nước ngoài. Bao gồm hai luật cơ bản:
* Luật thuế chống bán phá giá
Luật này nhằm ngăn chặn việc bán phá giá hàng hoá. Bán phá giá hàng hoá xảy
ra khi “hàng hoá là đối tượng” nhập khẩu vào Mỹ được bán với giá thấp hơn giá
thịnh hành trên thị trường nội địa và thấp hơn giá cần thiết để thu hồi chi phí sản
xuất (bán dưới giá thành). Việc bán phá giá như vậy được xác định là nguyên
nhân hoặc đe doạ gây ra thiệt hại vật chất cho ngành kinh doanh Hoa Kỳ hoặc

này.
2.2.3. Các luật hạn chế nhập khẩu.
* Hạn nghạch thuế quan (Quota)
Để hạn chế việc nhập khẩu quá mức cần thiết, Hoa Kỳ áp dụng các mức hạn
ngạch nhập khẩu. Hạn ngạch nhập khẩu là khối lượng hoặc giá trị hàng hoá tối

11
đa cho phép được nhập khẩu vào một quốc gia trong một thời hạn nhất định.
Mức hạn ngạch do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu quy định. Hiện
nay, khoảng 200 mặt hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ phải chịu sự chi phối của hạn
ngạch thuế quan, nghĩa là chỉ được hưởng mức thuế suất thấp trong phạm vi hạn
ngạch cho phép, còn lượng hàng hoá trên hạn ngạch phải chịu thuế suất cao hơn,
lượng hàng hoá trên mức hạn ngạch càng nhiều thì thuế càng cao. Trong thực tế,
thuế suất MFN trung bình đối với các sản phẩm trong hạn ngạch là 9,5%, trong
khi thuế suất trung bình ngoài hạn ngạch là 55,8%. Có hai loại hạn ngạch quy
định đối với hàng nhập khẩu: hạn ngạch tuyệt đối và hạn ngạch theo thuế quan.
Hạn ngạch tuyệt đối quy định một lượng hàng hoá nhất định được nhập khẩu
vào thị trường Hoa Kỳ trong thời gian quy định trên hạn ngạch. Hàng hoá nhập
khẩu quá số lượng hạn ngạch cho phép sẽ bị hải quan giữ lại cho đến khi công
bố thời gian hạn ngạch tiếp theo. Trong khi chờ gia hạn hạn ngạch, hàng hoá
vượt quá số lượng cho phép có thể được bảo quản tại một trong những địa điểm
như: khu vực ngoại thương, kho hải quan….hoặc có thể xuất khẩu trở lại nước
xuất khẩu và đôi khi có thể bị huỷ dưới sự giám sát của hải quan nếu thực hiện
biện pháp trên quá tốn kém.
Hạn ngạch theo thuế quan quy định hàng hoá áp dụng hạn ngạch thuế quan
không bị giới hạn về số lượng nhập khẩu nhưng lượng hàng hoá vượt qua hạn
ngạch cho phép sẽ phải chịu thuế suất cao hơn. Trong hầu hết các trường hợp,
sản phẩm của các khu vực, các nước do Đảng Cộng Sản lãnh đạo không được
hưởng hạn ngạch thuế quan của Hoa Kỳ.
* Hạn chế nhập khẩu theo luật môi trường

đơn đầu tiên” (first- to- file), Hoa Kỳ cấp bằng sáng chế cho “người phát minh
đầu tiên” (first- to- invent). Khi có người đăng kí cấp bằng sáng chế, sáng chế

13
này sẽ được công bố, nếu trong một khoảng thời gian, không có người khởi kiện
thì họ người đăng kí sẽ được cấp bằng sáng chế. Thời hạn bảo hộ sáng chế là 20
năm, phù hợp với hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) của WTO.
* Nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hoá gồm chữ hoặc biểu tượng, hoặc có thể là sự biểu hiện
của nhiều yếu tố khác thể hiện nguốn gốc sản phẩm hoặc dịch vụ.
Việc đăng kí nhãn hiệu hàng hoá tại Hoa Kỳ không bắt buộc. Thương hiệu có
thời hạn bảo hộ là 10 năm và có thể gia hạn. Tương tự như sáng chế, người có
quyền đăng kí nhãn hiệu thương mại với PTO là người sử dụng nhãn hiệu đầu
tiên trong thương mại, nhưng cũng có thể là người đầu tiên nộp đơn đăng kí.
Người nước ngoài đăng kí nhãn hiệu thương mại với PTO nếu không do một
luật sư Hoa Kỳ làm đại diện thì phải chỉ định một người Hoa Kỳ làm đại diện.
Để đăng kí tại PTO, người nước ngoài không cần xuất trình giấy chứng nhận đã
đăng kí nhãn hiệu thương mại đó tại một nước khác. Nhãn hiệu đã đăng kí có
thể bị PTO huỷ bỏ bất cứ lúc nào nếu có bằng chứng là nhãn hiệu đó không
được sử dụng trên thực tế. Các hàng hoá khi nhập khẩu phải đăng kí nhãn hiệu
tại cục hải quan Hoa Kỳ. Nếu nhãn hiệu giả sẽ bị tịch thu sung công. Hàng hóa
mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chước một nhãn hiệu đã đăng kí bản
quyền của một công ty Hoa Kỳ hay một công ty nước ngoài đã đăng kí bản
quyền đều bị cấm nhập khẩu vào Hoa Kỳ.
* Quyền tác giả
Quyền tác giả bảo vệ cho các tác phẩm, công trình nghệ thuật như công
trình điêu khắc, tác phẩm văn học, bức vẽ, bức tranh,…
* Bí mật thương mại
Đây là việc bảo hộ các bí mật trong kinh doanh. Thường bảo hộ bí mật
thương mại được áp dụng cho những hoạt động nội bộ (như thuật toán, mật mã).

công bằng” chỉ nhằm gây sức ép đòi hỏi mở cửa của Mỹ trong giai đoạn này
khiến cho nhiều nước phản ứng và tạo dựng liên minh thương mại mới, như mô
tả”…. Ngày nay, Mỹ lại đối mặt với khả năng đụng độ kinh tế trên cả hai lĩnh
vực tài chính và thương mại với cả hai mặt trận Châu Âu và Đông Á. Vì vậy thế
đứng của Mỹ trên thế giới ngày càng trở lên lu mờ khi có sự phát triển của các
quốc gia khác. Mỹ không thể một tay thâu tóm cả thế giới.
Vậy Mỹ đã phải làm gì trước những tác động có thể làm thay đổi cục diện
thế giới?
3.1 Các rào cản thuế quan và phi thuế quan.
Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu vào Mỹ hoặc không chịu thuế hoặc phải
chịu mức thuế rất thấp. Việc miễn thuế được áp dụng cho gần 1/3 biểu thuế quốc
gia và mức trung bình đơn giản áp dụng cho thuế đối với các nước được hưởng
quy chế tối huệ quốc (MFN). Theo WB, thuế bình quân gia quyền của Mỹ đối

16
với tất cả các loại hàng hoá là 2,5% ( 3,1% với hàng hoá sơ chế và 2,4% đối với
hàng chế tạo). Tuy nhiên, các nhà sản xuất ở Mỹ thường kêu ca rằng họ phải đối
mặt với các mức thuế cao ở các nước đang phát triển. (VD: Mức thuế bình quân
của Brazil đối với hàng hoã Mỹ là 13,7%; Thái Lan là 17% và Ấn Độ là 35%).
Còn các như Canada và Mêhicô, nhờ có khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
(NAFTA) đã được hưởng chế độ thuế còn thấp hơn nữa. Ngoài ra, hơn 150 nước
đang phát triển được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập áp dụng cho hầu
hết sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Mỹ.
Vì vậy ngoài thuế quan, Mỹ còn áp dụng một số biện pháp phi thuế quan,
như các lệnh cấm hoặc phải xin giấy phép hay hạn chế số lượng đối với một số
mặt hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, một số mặt hàng tiêu dùng như các mặt hàng
dệt may phải chịu Quota nhập khẩu hoặc các hạn chế theo hiệp định và thoả
thuận song phương.
Những thoả thuận trong khuôn khổ vòng đàm phán Urugoay đã loại trừ rất
nhiều các biện pháp trên nên Mỹ đã sử dụng một số biện pháp khác như thuế

của hai khu vực mậu dịch tự do ở Châu Mỹ là NAFTA và MECOSUR. FTAA
sẽ là khu vực mà Mỹ có thể cạnh tranh hiệu quả với Châu Âu và Nhật Bản, biến
tây bán cầu từ sân sau về chính trị thành khu vực sân sau về cả kinh tế.
Bên cạnh đó, Mỹ đã vươn sang Châu Á, tích cực tham gia vào các hoạt động
của khu vực này. Cụ thể là Mỹ đã tích cực tham gia vào APEC, coi đây là thành
phần cốt lõi trong chính sách Châu Á-Thái Binh Dương của mình.
Theo bộ ngoại giao Hoa Kỳ, “đối với Mỹ, sự tham gia trong APEC là biện
pháp thành đạt một số mục tiêu đối ngoại: trước hết và quan trọng nhất là APEC
sẽ giúp Mỹ duy trì được vai trò lãnh đạo của mình ở khu vực CÁ-TBD. Mỹ còn
có những nỗ lực nhằm sử dụng APEC ngăn chặn một khối kinh tế Châu Á riêng

18
biệt của các nước Đông Á, cụ thể là liên kết kinh tế Đông Á (EAEG). Cũng như
việc Nhật Bản cố gắng mở rộng ảnh hưởng tại khu vực này.
Song song với các hoạt động ở Châu Á, Mỹ cũng là nước đưa ra sáng kiến
thành lập khu vực mậu dịch tự do xuyên Đại Tây Dương, gắn EU với NAFTA.
Như vậy trong những năm qua, nhằm thúc đẩy thương mại toàn cầu, chính
phủ Mỹ đã tích cực chủ động đưa ra những sáng kiến thúc đẩy tự do hoá thương
mại và đầu tư khu vực. Thực chất Mỹ muốn dựa vào việc xây dựng các khu vực
kinh tế không mâu thuẫn với tự do hoá thương mại đa phương và từ đó tác động
tới các đàm phán tự do hoá thương mại toàn cầu.
3.2.3. Tăng cường các hiệp định song phương.
Trên thực tế mặc dù đã có những hiệp định đa phương và khu vực song dào
cản đối với các hoạt động kinh tế quốc tế vẫn còn tồn tại khá nhiều giữa các
quốc gia.
Do đó, để nhanh chóng tiến hành việc dỡ bỏ rào cản này , trong những năm
qua chính phủ Mỹ đã tích cực sử dụng các bịên pháp kinh tế song phương. Lí
do chủ yếu là việc mở cửa thị trường, dỡ bỏ các rào cản thương mại thông qua
đàm phán song phương thường diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn so với các cuộc
đàm phán song phương trong khuôn khổ GATT hay WTO. Trong đó các đối

Như vậy, dựa trên cơ sở thế và lực của mình, Mỹ đã đưa ra nhiều chính
sách kinh tế đối ngoại nhằm củng cố hơn nữa vai trò đầu tàu kinh tế của mình
trên phạm vi toàn thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status