LUẬN VĂN: Hoàn thiện chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Hoàn thiện chính sách kinh tế phát
triển nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa
trong giai đoạn hiện nay
MỞ ĐẦU


sách kinh tế thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam. Chỉ tính riêng trong
những năm đầu của thế kỷ XXI có khá nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu được công bố
như: "Ảnh hưởng của chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" của PGS.TS Ngô Đức Cát, Trường Đại học Kinh tế quốc dân;
"Về một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời kỳ mới" của
PGS.TS Đặng Văn Thanh, Bộ Tài chính; "Hoàn thiện các chính sách đầu tư cho phát triển
nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của ThS. Vũ Thị Thảo,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân; Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Tiến Dĩnh,
năm 2003: "Hoàn thiện các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp, nông thôn ngoại
thành Hà Nội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa"
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích vai trò của hệ thống chính
sách trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH ở hai khía cạnh
lý luận và thực tiễn, trên phạm vi quốc gia và địa phương. Đồng thời, đưa ra các kiến nghị,
giải pháp nhằm không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp
ở nước ta và ở một số địa phương cụ thể. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa có
điều kiện đi sâu tính đặc thù, điều kiện xuất phát thấp, tính đa dạng và phức tạp trong phát
triển kinh tế nông nghiệp của một địa phương như ở Thanh Hóa.
Vì vậy, việc tiếp tục hướng nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện chính sách phát triển kinh
tế nông nghiệp là cần thiết, có cơ sở khoa học và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách kinh tế nông nghiệp, đề
xuất giải pháp nhằm hoàn thiện một số chính sách kinh tế chủ yếu thúc đẩy phát triển nông
nghiệp Thanh Hóa trong những năm tới theo hướng nông nghiệp hàng hóa và CNH, HĐH.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách kinh tế nông nghiệp, ở ba
cấp độ: thế giới, quốc gia và địa phương.

học về kinh tế: Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu, chuyên gia
và hệ thống hóa để từ thực tiễn rút ra những vấn đề lý luận và các chính sách cụ thể chỉ đạo
hoạt động thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả của luận văn sẽ đóng góp những vấn đề sau:
- Tiếp tục hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách kinh tế phát triển
nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế trong nông
nghiệp Thanh Hóa, đồng thời đưa ra những vấn đề cần phải tiếp tục hoàn thiện.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các chính sách kinh tế chủ yếu phát triển nông
nghiệp Thanh Hóa trong những năm tới.
- Luận văn sẽ góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy, học tập và chỉ đạo thực tiễn về lĩnh vực chính sách kinh tế phát triển
nông nghiệp, nông thôn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương, 7 tiết. Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP

1.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1. Một số lý thuyết kinh tế bàn về vai trò của nông nghiệp
Trong lịch sử phát triển tri thức khoa học kinh tế của nhân loại đã xuất hiện nhiều lý
thuyết kinh tế đề cập tới vai trò của kinh tế nông nghiệp trong toàn bộ quá trình phát triển

kỳ nền nông nghiệp nào cũng tạo ra sản phẩm ròng, mà chỉ có nền nông nghiệp tổ chức theo
kiểu đồn điền tư bản chủ nghĩa mới tạo ra sản phẩm ròng, vì như vậy mới đảm bảo được chi
phí lao động ở mức thấp nhất. Quan điểm trường phái này đã nhấn mạnh: trong một xã hội
nông nghiệp là nền tảng, tất yếu phải chú trọng tới sản xuất nông nghiệp, vì nó là điểm xuất
phát cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Và con đường của sự phát triển nông nghiệp là làm
tan rã nông nghiệp truyền thống, tạo ra một nền nông nghiệp sản phẩm ròng, tức là một nền
nông nghiệp thương phẩm. Nền nông nghiệp mà chủ nghĩa trọng nông hướng tới là một nền
nông nghiệp kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, với mục tiêu theo đuổi các giá
trị mới. Họ khẳng định, nông nghiệp là nơi tạo ra tích lũy vốn ban đầu cho sự phát triển.
Hạn chế của trường phái này là tuyệt đối hóa vai trò của xã hội công nghiệp phát triển, còn
phát triển nông nghiệp chỉ là giai đoạn tất yếu, cơ bản và phải bị vượt qua trong quá trình
phát triển.
Trường phái của David Ricado: Khi bàn đến phát triển kinh tế nông nghiệp, nhà
kinh tế học cổ điển người Anh là David Ricado cho rằng: Phát triển nông nghiệp không có
lợi vì đất đai có giới hạn, do đó khi dân cư tăng lên phải canh tác cả trên những đất đai xấu,
dẫn đến tình trạng lợi nhuận nông nghiệp giảm, ảnh hưởng đến tích lũy của cải, tăng tư bản,
do đó nông nghiệp là giới hạn của sự tăng trưởng. "Trong "Nguyên lý kinh tế chính trị học
và thuế", Ricardo đã cho rằng hạn chế tăng trưởng nông nghiệp sẽ tạo ra giới hạn cận trên
cho khu vực phi nông nghiệp và sự hình thành vốn để mở rộng kinh tế"" [37, tr. 5]. Ricacdo còn cho rằng, khi dân số tăng lên, nhu cầu về nông sản ngày càng nhiều, buộc người ta phải
tính đến những mảnh đất ít màu mỡ hơn để canh tác và như vậy làm cho hiệu quả đầu tư
vốn trong nông nghiệp bị giảm dần. Theo ông sự phát triển của nông nghiệp cũng là động
lực để phát triển các ngành kinh tế khác.
1.1.1.2. Kinh tế học Mác - Lênin
Có thể chia kinh tế học Mác - Lênin thành hai giai đoạn phát triển, giai đoạn Mác -
Ăngghen và giai đoạn Lênin.
Kinh tế học Mác - Lênin giai đoạn C.Mác - Ph. Ăngghen ra đời trong điều kiện chủ
nghĩa tư bản đang ở thời kỳ đầu của sự phát triển. Các ông cho rằng sự phát triển của nông

Nga lúc bấy giờ. Chẳng hạn, dưới sự lãnh đạo của ông hàng loạt các chính sách kinh tế phát
triển nông nghiệp đã được thực hiện, như: chính sách thuế lương thực; chính sách xóa bỏ
chế độ trưng thu lương thực thừa; chính sách khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóa
trong nông nghiệp thông qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp với công nghiệp Thực tế
đã chứng minh tính đúng đắn của Lênin trong thực hiện các chính sách kinh tế nông nghiệp
thời kỳ hòa bình và xây dựng của nước Nga.
Từ quan điểm về chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của Lênin đã thể hiện sự
khẳng định vai trò to lớn của phát triển kinh nông nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội. Ông cho rằng, trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, phát triển kinh tế nông
nghiệp là giải pháp đầu tiên trước khi tiến hành công nghiệp hóa đất nước.
1.1.1.3. Kinh tế học hiện đại
Lịch sử phát triển tri thức khoa học về kinh tế của thế giới trong thế
kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI đã ghi nhận sự cạnh tranh, thay thế nhau của các
học thuyết kinh tế. Do thực tiễn không ngừng vận động biến đổi và phát triển, cho nên các
lý thuyết kinh tế trên thế giới cũng không ngừng vận động, nhằm giải quyết các vấn đề của
nền kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế học hiện đại rất phong phú, nghiên cứu nhiều lĩnh
vực của đời sống kinh tế và xuất hiện nhiều quan điểm, trường phái khác nhau. Tuy nhiên,
về phát triển nông nghiệp, quan điểm của các lý thuyết kinh tế thường tập trung nhấn mạnh
vào một số luận điểm như sau: Một là, con đường phát triển tất yếu đối với mọi quốc gia để chuyển từ nền kinh tế tự
nhiên sang nền kinh tế phát triển là nền kinh tế thị trường. Trong tiến trình đó, nông nghiệp
phải được coi là xuất phát điểm cho sự phát triển.
Hai là, nông nghiệp phải được giải phóng khỏi những quan hệ phong kiến, lệ thuộc
- trở lực cho sự phát triển sức sản xuất và phải trở thành nền nông nghiệp thương phẩm, một
lĩnh vực kinh doanh, một bộ phận trong cơ cấu chung của nền kinh tế thì mới phát triển.
Ba là, dù bước đi và nội dung có những đặc điểm riêng, nhưng cũng giống như những
ngành khác, nông nghiệp cũng phải được từng bước CNH, HĐH.
Bốn là, kinh tế hộ gia đình và hình thức phát triển của nó theo yêu cầu của nông

đời sống của lao động nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời làm tăng sức mua và thúc đẩy các
ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển.
Phát triển kinh tế nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa, mà sản
phẩm nông nghiệp còn tham gia xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới. Các sản phẩm từ nông
nghiệp xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 5 tỷ UDS, chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất
khẩu. Chính nguồn thu nhập này đã góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách và cung
cấp một lượng vốn khá lớn cho phát triển nền kinh tế của đất nước.
Phát triển kinh tế nông nghiệp còn là mục tiêu để bảo vệ và làm giàu môi trường
sinh thái, phục vụ đời sống xã hội thông qua việc bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ và rừng kinh tế, phát triển các cụm cây xanh và mặt nước, kết hợp giữa kinh tế và môi
trường. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, đảm
bảo phát triển bền vững, giữ cho tài nguyên đất, tài nguyên nước không bị ô nhiễm. Đồng thời,
phát triển nông nghiệp là cơ sở cho sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái.
Phát triển nông nghiệp còn là điều kiện lưu giữ, giữ gìn các loại hình văn hóa mang
đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, phát huy truyền thống của dân tộc, phát triển du lịch, đó là
những giá trị văn hóa làng xã, những phi vật thể, những làng cổ, làng nghề tạo nên diện
mạo đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Như vậy, phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta có vai trò to lớn trên nhiều
phương diện khác nhau. Và, không chỉ bây giờ vai trò của lĩnh vực kinh tế nông nghiệp mới
được chúng ta khẳng định, mà ngay từ khi mới thành lập Đảng cho đến công cuộc đổi mới
hiện nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò quan trọng của nông dân, nông nghiệp và nông
thôn trong tiến trình đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước Việt Nam. Khi hòa bình lập
lại 1954, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng CNXH, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ đặc điểm
lớn nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
CNXH không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để làm cơ sở xây dựng đường lối
chiến lược và các mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng. Đây là một nhận định hết sức đúng
đắn và có tầm chiến lược của Bác trong chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội. Kế thừa tư
tưởng của Hồ Chủ tịch, sau này các kỳ Đại hội của Đảng đã không ngừng khẳng định và

là: "Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra một bước phát
triển vượt bậc về nông nghiệp nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu của cả nước về lương
thực, thực phẩm và một phần hàng tiêu dùng thông thường " [19, tr. 68].
Theo đường lối trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách lớn,
như đầu tư cho thủy lợi, thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, phát triển giao thông nông thôn.
Đặc biệt từ ngày 13/11/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải
tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động" trong tác xã
nông nghiệp đã tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nông thôn.
Sau hơn 30 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc, Đảng ta càng nhận thức rõ vai trò và vị
trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Trong
điều kiện nền kinh tế nông nghiệp của đất nước còn ở trong tình trạng lạc hậu, tự cung tự
cấp với năng suất thấp, Đảng ta thấy rõ vấn đề bức thiết phải tập trung phát triển mạnh nông
nghiệp, làm cho nông nghiệp vươn lên đáp ứng những nhu cầu đời sống nhân dân, tạo nguồn
tích lũy vốn cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Do vậy, Đại hội V của Đảng đã xác định
mục tiêu kinh tế - xã hội tổng quát và những chính sách lớn. Trong 5 năm 1981-1985 và những
năm 80 cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn CNXH; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hợp lý. Đó là những nội dung chính của công nghiệp hóa trong chặng đường trước mắt.
Trên quan điểm đó, Đảng ta đã chỉ đạo bố trí lại cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, qui định vị
trí, nội dung và mức độ phát triển các ngành kinh tế, kết hợp đúng đắn ngay từ đầu công
nghiệp và nông nghiệp trong một cơ cấu hợp lý. Do đó, nền kinh tế nước ta đã có những
chuyển biến và tiến bộ quan trọng, nhất là trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đánh dấu một bước ngoặt lớn trong đổi mới tư
duy của Đảng ta về phát triển kinh tế nông nghiệp. Đại hội đã đề ra những quan điểm và
chính sách đổi mới, trước hết là đổi mới về kinh tế, thực hiện ba chương trình kinh tế lớn,
nhấn mạnh vai trò hàng đầu của nông nghiệp trong việc đáp ứng những yêu cầu cấp bách về
lương thực, thực phẩm, nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; phấn đấu đưa
nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa CNXH. Đại hội đã chỉ rõ: "Trong

lược hàng đầu. Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần trong nông nghiệp, nông thôn theo định hướng CNXH; huy động tối đa kinh tế hộ xã
viên, cá thể, tư nhân và kinh tế hợp tác, liên doanh với nước ngoài; gắn sản xuất với thị
trường, quá trình phát triển sản xuất đi đôi với mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản; đẩy
mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nhất là công nghệ sinh học để tăng năng suất và
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh; tăng
sức mua của thị trường nội địa; đẩy mạnh xuất khẩu; có chính sách khuyến khích và bảo vệ
hợp lý sản xuất trong nước. Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, cải thiện
môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới Đồng thời, đề ra giải pháp đổi mới các
chính sách vĩ mô, như chính sách thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa, chính sách đầu tư
và chính sách tín dụng, chính sách thuế sử dụng đất và thủy lợi phí, đẩy mạnh công tác
khuyến nông, chính sách khoa học và công nghệ và chính sách xã hội nông thôn
Năm 1996, Đại hội VIII của Đảng đã quyết định chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước. Xác định CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo. Đại hội cũng đã chỉ rõ đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nội dung cơ
bản của những năm còn lại của thập kỷ 90.
Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp; hình thành các vùng tập
trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng
hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo về an toàn về lương thực trong
xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong
và ngoài nước. Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa,
gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị. Phát triển các
làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm: tiểu, thủ công nghiệp,
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại [3, tr 28-
29].
Tiếp theo, Bộ Chính trị khóa VIII ra Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 10/11/1998 về

điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước
hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các
khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản
phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm
và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế - xã hội, quy hoạch
phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn
minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân nông
thôn [24, tr. 92-93].
Như vậy, có thể nói trải qua một quá trình phát triển tư duy lý luận, Đảng ta đã
không ngừng hoàn thiện quan điểm đường lối của mình về phát triển kinh tế nông nghiệp. Điều đó nói lên tầm quan trọng của phát triển kinh tế nông nghiệp trong toàn bộ tiến trình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước ta.
1.2. CHÍNH SÁCH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA
CHÍNH SÁCH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm chính sách
Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về "chính sách". Thực tế đang tồn
tại nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về chính sách. Song, quan điểm của F.Ellis được
nhiều người tán thành, ông quan niệm, chính sách như là sự kết hợp của đường lối, mục tiêu
và phương pháp mà chính phủ lựa chọn đối với lĩnh vực kinh tế, kể cả các mục tiêu mà
chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó. Như vậy,
F.Ellis coi chính sách như là sự kết hợp của đường lối, mục tiêu và các phương pháp mà
chính phủ lựa chọn để tạo ra tăng trưởng.
Tổng hợp một số quan điểm trên thế giới và Việt Nam chúng tôi cho rằng, chính
sách như là cách thức và hành động mà nhà nước lựa chọn nhằm tác động vào sự phân bổ

thụ nông sản
Phân loại theo mức độ quan trọng của mục tiêu cần đạt tới của chính sách:
+ Chính sách phục vụ mục tiêu cơ bản, như chính sách đất đai, chính sách hỗ trợ
xuất khẩu, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+ Chính sách phục vụ mục tiêu thứ yếu.
+ Chính sách phục vụ mục tiêu tổng hợp, như chính sách khuyến nông, chính sách
cho người nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi
Phân loại theo thời gian của mục tiêu:
+ Nhóm chính sách có tác động dài hạn, như: chính sách đất đai; chính sách bảo hiểm
nông sản + Nhóm chính sách có tác động trung hạn, như: chính sách khuyến nông hỗ trợ sản
phẩm mới, chính sách tín dụng thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệp theo mục
tiêu và có thời hạn xác định.
+ Nhóm chính sách có tác động ngắn hạn, như: chính sách miễn giảm thuế hay hỗ
trợ nông nghiệp khi thiên tai, dịch bệnh, chính sách hỗ trợ giống nuôi trồng mới, chính sách
bảo trợ nông sản
Phân loại tổng hợp
Nhóm một: Bao gồm các chính sách có vai trò tác động trực tiếp vào người sản xuất,
làm thay đổi (điều chỉnh) qui mô cũng như phương hướng sản xuất - kinh doanh trong
những điều kiện cụ thể và thời gian nhất định. Các chính sách cụ thể thuộc nhóm này là:
 Chính sách trợ giá trực tiếp đối với sản phẩm đầu ra tại nơi sản xuất.
 Chính sách tín dụng có mục tiêu đối với các yếu tố đầu vào của sản xuất.
 Chính sách trợ cấp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và các điều kiện môi trường cần
thiết cho sản xuất.
 Chính sách giao nộp lương thực và một số nông sản khác với những điều kiện xác
định do Chính phủ đề ra.
 Chính sách chuyển hướng sử dụng đất, cải tạo ruộng đất.
 Chính sách khuyến nông và triển khai nông nghiệp.

1.2.3. Đặc điểm của chính sách kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là một lĩnh vực rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp đối với các
quốc gia đang phát triển. Vì khu vực này thường trải rộng trên nhiều địa bàn khác nhau với
tính đa dạng, phong phú, đặc thù của mỗi địa phương, vùng miền. Dân cư nông thôn chủ
yếu gắn liền với sản xuất nông nghiệp, với môi trường tự nhiên và thường gặp nhiều rủi ro. Người dân nông thôn vừa là người chủ gia đình vừa là người chủ sản xuất, họ sản xuất để
nuôi sống chính bản thân và gia đình, nếu có dư thừa thì mới mang ra thị trường. Tính đa
dạng, không đồng đều của nông nghiệp, nông thôn là một đặc điểm có ảnh hưởng đến việc
xây dựng hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp. Do đó chính sách nông nghiệp của
các quốc gia, khu vực, vùng miền đều mang những nét đặc thù với màu sắc riêng. Chính
sách nông nghiệp thường bao hàm cả chính sách kinh tế và chính sách phi kinh tế. Ngày nay
nông nghiệp không chỉ là nơi sản xuất ra của cải vật chất mà còn là địa bàn có số lượng dân
cư rất đông. Nông nghiệp, nông thôn là nơi tàng trữ các giá trị văn hóa tinh thần của xã hội,
là nơi thực hiện các quá trình bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên quốc gia. Nông nghiệp
không chỉ sản xuất ra của cải cho xã hội mà còn là là môi trường tự nhiên, môi trường xã
hội cho phát triển bền vững. Vì vậy, chính sách phát triển của các quốc gia đều mang những
đặc trưng riêng. Các chính sách này không chỉ nhằm phát triển kinh tế mà còn phải góp
phần giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan đến văn hóa, xã hội, truyền thống. Đảm bảo cho
nông nghiệp phát triển bền vững chính là đảm bảo sự cân bằng của xã hội. Trên thực tế
nông dân luôn là lực lượng bị thiệt thòi nhất trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Do đất đai bị thu hẹp, do năng suất lao động thấp, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều
vào thiên nhiên cho nên thu nhập của người nông dân thường thấp trong xã hội. Các chính
sách phát triển nông nghiệp ngoài mục đích kinh tế còn phải hướng vào xóa đói giảm nghèo,
nâng cao dân trí, lưu giữ và bảo vệ các giá trị văn hóa tinh thần
1.2.4. Những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách kinh tế nông nghiệp
Chính sách nói chung, chính sách kinh tế nông nghiệp nói riêng luôn chịu sự tác
động, chi phối của nhiều nhân tố về:
Một là, nhân tố quan trọng và chi phối trước tiên đến chính sách kinh tế nông

cho sản xuất nông nghiệp sẽ khác với các nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp.
Sáu là, quy mô, tốc độ gia tăng dân số có tác động đến việc xây dựng và thực hiện
chính sách nông nghiệp của một quốc gia. Một quốc gia mà có quy mô dân số lớn, có tốc độ gia tăng dân số nhanh thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm là rất lớn, do đó sẽ có cách
quan tâm tương đối đặc thù so với một quốc gia quy mô dân số nhỏ, tốc độ gia tăng chậm.
Bảy là, chính sách nông nghiệp còn chịu sự tác động của điều kiện thực hiện bản
thân chính sách. Chính sách nông nghiệp được xây dựng phải dựa trên điều kiện kinh tế,
trình độ phát triển của một quốc gia cụ thể. Các mục tiêu và giải pháp của chính sách nông
nghiệp không thể vượt quá các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và từng khu vực,
vùng miền. Nếu thoát ly điều kiện thực thi chính sách nông nghiệp sẽ khó có cơ hội thành
công.
1.2.5. Vai trò của chính sách nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách kinh tế là công cụ, phương tiện không thể thiếu được của nhà nước quản
lý điều hành nền kinh tế. Thông qua những chính sách kinh tế cụ thể sẽ truyền các tác động
quản lý kinh tế của nhà nước đến các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Chính sách kinh tế là
cách thức, biện pháp để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch và chiến lược phát triển
kinh tế của đất nước. Thực tiễn vận hành nền kinh tế của đất nước, nhất là trong 20 năm đổi
mới vừa qua, chúng ta có thể nhận thấy trong cơ chế quản lý kinh tế, các chính sách kinh tế
là yếu tố năng động nhất, có tính nhạy cảm rất lớn trước những biến động của đời sống kinh
tế - xã hội của nước ta. Chính tính năng động, sự nhạy cảm này đã tạo ra nhu cầu không
ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm giải quyết những vấn đề mà đời sống kinh tế
của đất nước đặt ra. Một bài học thấy rõ trong thời kỳ đổi mới đất nước là khi nào mà Nhà
nước, các địa phương, ngành kịp thời xây dựng và thực hiện các chính sách phù hợp thì sẽ
mang lại kết quả cao, và ngược lại khi nào Nhà nước, các địa phương, ngành chậm xây
dựng và thực hiện các chính sách không phù hợp thì kết quả rất thấp.
Công cuộc đổi mới đất nước, mà trọng tâm và trước hết là đổi mới về kinh tế đã
khẳng định vai trò to lớn của các chính sách kinh tế. Một hệ thống chính sách kinh tế đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status