LUẬN VĂN: Hoàn thiện chính sách kinh tế phát
triển nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa
trong giai đoạn hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều nghị quyết nhằm không
ngừng xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp. Trong thực tế những
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của PGS.TS Ngô Đức Cát, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân; "Về một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời kỳ
mới" của PGS.TS Đặng Văn Thanh, Bộ Tài chính; "Hoàn thiện các chính sách đầu tư
cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của
ThS. Vũ Thị Thảo, Trường Đại học Kinh tế quốc dân; Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả
Nguyễn Tiến Dĩnh, năm 2003: "Hoàn thiện các chính sách kinh tế phát triển nông
nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa"
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích vai trò của hệ thống
chính sách trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH ở hai
khía cạnh lý luận và thực tiễn, trên phạm vi quốc gia và địa phương. Đồng thời, đưa ra
các kiến nghị, giải pháp nhằm không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển
kinh tế nông nghiệp ở nước ta và ở một số địa phương cụ thể. Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu này chưa có điều kiện đi sâu tính đặc thù, điều kiện xuất phát thấp, tính đa
dạng và phức tạp trong phát triển kinh tế nông nghiệp của một địa phương như ở Thanh
Hóa.
Vì vậy, việc tiếp tục hướng nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện chính sách phát triển
kinh tế nông nghiệp là cần thiết, có cơ sở khoa học và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách kinh tế nông nghiệp, đề
xuất giải pháp nhằm hoàn thiện một số chính sách kinh tế chủ yếu thúc đẩy phát triển
nông nghiệp Thanh Hóa trong những năm tới theo hướng nông nghiệp hàng hóa và CNH,
HĐH.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách kinh tế nông nghiệp, ở
ba cấp độ: thế giới, quốc gia và địa phương.
- Phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện một số chính sách kinh tế trong nông
học về kinh tế: Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu, chuyên
gia và hệ thống hóa để từ thực tiễn rút ra những vấn đề lý luận và các chính sách cụ thể
chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả của luận văn sẽ đóng góp những vấn đề sau:
- Tiếp tục hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách kinh tế phát
triển nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế trong nông
nghiệp Thanh Hóa, đồng thời đưa ra những vấn đề cần phải tiếp tục hoàn thiện.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các chính sách kinh tế chủ yếu phát triển nông
nghiệp Thanh Hóa trong những năm tới.
- Luận văn sẽ góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho công
tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và chỉ đạo thực tiễn về lĩnh vực chính sách kinh tế
phát triển nông nghiệp, nông thôn.
7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
1.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1. Một số lý thuyết kinh tế bàn về vai trò của nông nghiệp
Trong lịch sử phát triển tri thức khoa học kinh tế của nhân loại đã xuất hiện nhiều
lý thuyết kinh tế đề cập tới vai trò của kinh tế nông nghiệp trong toàn bộ quá trình phát
thương mại chỉ làm thay đổi hình thái của của cải và chúng không tạo thêm giá trị cho
của cải. Nhưng không phải bất kỳ nền nông nghiệp nào cũng tạo ra sản phẩm ròng, mà
chỉ có nền nông nghiệp tổ chức theo kiểu đồn điền tư bản chủ nghĩa mới tạo ra sản phẩm
ròng, vì như vậy mới đảm bảo được chi phí lao động ở mức thấp nhất. Quan điểm trường
phái này đã nhấn mạnh: trong một xã hội nông nghiệp là nền tảng, tất yếu phải chú trọng
tới sản xuất nông nghiệp, vì nó là điểm xuất phát cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Và
con đường của sự phát triển nông nghiệp là làm tan rã nông nghiệp truyền thống, tạo ra
một nền nông nghiệp sản phẩm ròng, tức là một nền nông nghiệp thương phẩm. Nền
nông nghiệp mà chủ nghĩa trọng nông hướng tới là một nền nông nghiệp kinh doanh theo
phương thức tư bản chủ nghĩa, với mục tiêu theo đuổi các giá trị mới. Họ khẳng định,
nông nghiệp là nơi tạo ra tích lũy vốn ban đầu cho sự phát triển. Hạn chế của trường phái
này là tuyệt đối hóa vai trò của xã hội công nghiệp phát triển, còn phát triển nông nghiệp
chỉ là giai đoạn tất yếu, cơ bản và phải bị vượt qua trong quá trình phát triển.
Trường phái của David Ricado: Khi bàn đến phát triển kinh tế nông nghiệp, nhà
kinh tế học cổ điển người Anh là David Ricado cho rằng: Phát triển nông nghiệp không
có lợi vì đất đai có giới hạn, do đó khi dân cư tăng lên phải canh tác cả trên những đất đai
xấu, dẫn đến tình trạng lợi nhuận nông nghiệp giảm, ảnh hưởng đến tích lũy của cải, tăng
tư bản, do đó nông nghiệp là giới hạn của sự tăng trưởng. "Trong "Nguyên lý kinh tế
chính trị học và thuế", Ricardo đã cho rằng hạn chế tăng trưởng nông nghiệp sẽ tạo ra
giới hạn cận trên cho khu vực phi nông nghiệp và sự hình thành vốn để mở rộng kinh tế"" [37, tr. 5]. Ricacdo còn cho rằng, khi dân số tăng lên, nhu cầu về nông sản ngày càng
nhiều, buộc người ta phải tính đến những mảnh đất ít màu mỡ hơn để canh tác và như
vậy làm cho hiệu quả đầu tư vốn trong nông nghiệp bị giảm dần. Theo ông sự phát triển
của nông nghiệp cũng là động lực để phát triển các ngành kinh tế khác.
1.1.1.2. Kinh tế học Mác - Lênin
Có thể chia kinh tế học Mác - Lênin thành hai giai đoạn phát triển, giai đoạn
Mác - Ăngghen và giai đoạn Lênin.
Kinh tế học Mác - Lênin giai đoạn C.Mác - Ph. Ăngghen ra đời trong điều kiện
Lênin sớm nhận ra sự lạc hậu, không phù hợp của mô hình chính sách kinh tế này trong
điều kiện mới. Do vây, ông đã nhanh chóng thực hiện mô hình "Chính sách kinh tế mới"
(NEP). Trong nội dung của (NEP) Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế
nông nghiệp ở nước Nga lúc bấy giờ. Chẳng hạn, dưới sự lãnh đạo của ông hàng loạt các
chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp đã được thực hiện, như: chính sách thuế lương
thực; chính sách xóa bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa; chính sách khôi phục và phát
triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp thông qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp
với công nghiệp Thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của Lênin trong thực hiện các
chính sách kinh tế nông nghiệp thời kỳ hòa bình và xây dựng của nước Nga.
Từ quan điểm về chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của Lênin đã thể hiện
sự khẳng định vai trò to lớn của phát triển kinh nông nghiệp trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Ông cho rằng, trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, phát triển kinh
tế nông nghiệp là giải pháp đầu tiên trước khi tiến hành công nghiệp hóa đất nước.
1.1.1.3. Kinh tế học hiện đại
Lịch sử phát triển tri thức khoa học về kinh tế của thế giới trong thế
kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI đã ghi nhận sự cạnh tranh, thay thế nhau của
các học thuyết kinh tế. Do thực tiễn không ngừng vận động biến đổi và phát triển, cho
nên các lý thuyết kinh tế trên thế giới cũng không ngừng vận động, nhằm giải quyết các
vấn đề của nền kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế học hiện đại rất phong phú, nghiên
cứu nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế và xuất hiện nhiều quan điểm, trường phái khác nhau. Tuy nhiên, về phát triển nông nghiệp, quan điểm của các lý thuyết kinh tế thường
tập trung nhấn mạnh vào một số luận điểm như sau:
Một là, con đường phát triển tất yếu đối với mọi quốc gia để chuyển từ nền kinh tế
tự nhiên sang nền kinh tế phát triển là nền kinh tế thị trường. Trong tiến trình đó, nông
nghiệp phải được coi là xuất phát điểm cho sự phát triển.
Hai là, nông nghiệp phải được giải phóng khỏi những quan hệ phong kiến, lệ
thuộc - trở lực cho sự phát triển sức sản xuất và phải trở thành nền nông nghiệp thương
phẩm, một lĩnh vực kinh doanh, một bộ phận trong cơ cấu chung của nền kinh tế thì mới
đặc biệt là công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, Đồng thời, nông nghiệp là nơi cung
cấp nguồn lao động dồi dào cho các ngành kinh tế khác trong xã hội.
Phát triển kinh tế nông nghiệp tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
theo hướng tích cực. Phát triển nông nghiệp sẽ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập,
nâng cao đời sống của lao động nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời làm tăng sức mua và thúc
đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển.
Phát triển kinh tế nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa, mà sản
phẩm nông nghiệp còn tham gia xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới. Các sản phẩm từ
nông nghiệp xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 5 tỷ UDS, chiếm khoảng 20% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Chính nguồn thu nhập này đã góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân
sách và cung cấp một lượng vốn khá lớn cho phát triển nền kinh tế của đất nước.
Phát triển kinh tế nông nghiệp còn là mục tiêu để bảo vệ và làm giàu môi trường
sinh thái, phục vụ đời sống xã hội thông qua việc bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ và rừng kinh tế, phát triển các cụm cây xanh và mặt nước, kết hợp giữa kinh tế và
môi trường. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch,
đảm bảo phát triển bền vững, giữ cho tài nguyên đất, tài nguyên nước không bị ô nhiễm. Đồng thời, phát triển nông nghiệp là cơ sở cho sự phát triển bền vững của môi trường sinh
thái.
Phát triển nông nghiệp còn là điều kiện lưu giữ, giữ gìn các loại hình văn hóa
mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, phát huy truyền thống của dân tộc, phát triển du
lịch, đó là những giá trị văn hóa làng xã, những phi vật thể, những làng cổ, làng
nghề tạo nên diện mạo đặc trưng của văn hóa Việt Nam.
Như vậy, phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta có vai trò to lớn trên nhiều
phương diện khác nhau. Và, không chỉ bây giờ vai trò của lĩnh vực kinh tế nông nghiệp
mới được chúng ta khẳng định, mà ngay từ khi mới thành lập Đảng cho đến công cuộc
đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò quan trọng của nông dân, nông nghiệp
và nông thôn trong tiến trình đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước Việt Nam. Khi
hòa bình lập lại 1954, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng CNXH, Hồ Chủ tịch đã
sản xuất nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng tự hào.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đại hội IV (1976) của Đảng tiếp tục
khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hóa là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ và xác
định lấy nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ làm cơ sở ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý. Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5
năm (1976-1980) là: "Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các ngành, các cấp, tạo
ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu của
cả nước về lương thực, thực phẩm và một phần hàng tiêu dùng thông thường " [19, tr. 68].
Theo đường lối trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách
lớn, như đầu tư cho thủy lợi, thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, phát triển giao thông
nông thôn. Đặc biệt từ ngày 13/11/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-
CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm và người lao
động" trong tác xã nông nghiệp đã tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp, nông thôn.
Sau hơn 30 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc, Đảng ta càng nhận thức rõ vai trò và
vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp của đất nước còn ở trong tình trạng lạc hậu, tự
cung tự cấp với năng suất thấp, Đảng ta thấy rõ vấn đề bức thiết phải tập trung phát triển
mạnh nông nghiệp, làm cho nông nghiệp vươn lên đáp ứng những nhu cầu đời sống nhân
dân, tạo nguồn tích lũy vốn cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Do vậy, Đại hội V của
Đảng đã xác định mục tiêu kinh tế - xã hội tổng quát và những chính sách lớn. Trong 5 năm
1981-1985 và những năm 80 cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn CNXH; kết hợp
nông nghiệp, công nghiệp hợp lý. Đó là những nội dung chính của công nghiệp hóa trong
chặng đường trước mắt. Trên quan điểm đó, Đảng ta đã chỉ đạo bố trí lại cơ cấu kinh tế,
cơ cấu đầu tư, qui định vị trí, nội dung và mức độ phát triển các ngành kinh tế, kết hợp
đúng đắn ngay từ đầu công nghiệp và nông nghiệp trong một cơ cấu hợp lý. Do đó, nền
kinh tế nước ta đã có những chuyển biến và tiến bộ quan trọng, nhất là trong nông
trọng tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống
nhân dân [3, tr. 21].
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội VII của Đảng và thực tiễn cuộc sống, Ban Chấp
hành Trung ương ra Nghị quyết 05 NQ/HNTW ngày 10/6/1993 về tiếp tục đổi mới và
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, đã xác định một hệ thống quan điểm nhằm tiếp tục
phát triển nông nghiệp nông thôn. Trong đó, xác định quá trình CNH, HĐH đất nước, đặt
sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa là nhiệm vụ
chiến lược hàng đầu. Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần trong nông nghiệp, nông thôn theo định hướng CNXH; huy động tối đa kinh
tế hộ xã viên, cá thể, tư nhân và kinh tế hợp tác, liên doanh với nước ngoài; gắn sản xuất
với thị trường, quá trình phát triển sản xuất đi đôi với mở rộng thị trường tiêu thụ nông
sản; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nhất là công nghệ sinh học để tăng
năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức
cạnh tranh; tăng sức mua của thị trường nội địa; đẩy mạnh xuất khẩu; có chính sách
khuyến khích và bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước. Gắn phát triển kinh tế với phát triển
văn hóa, xã hội, cải thiện môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới Đồng thời, đề ra giải pháp đổi mới các chính sách vĩ mô, như chính sách thị trường tiêu thụ nông sản
hàng hóa, chính sách đầu tư và chính sách tín dụng, chính sách thuế sử dụng đất và thủy
lợi phí, đẩy mạnh công tác khuyến nông, chính sách khoa học và công nghệ và chính
sách xã hội nông thôn
Năm 1996, Đại hội VIII của Đảng đã quyết định chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước. Xác định CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo. Đại hội cũng đã chỉ rõ đặc biệt coi
trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nội
dung cơ bản của những năm còn lại của thập kỷ 90.
Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp; hình thành các vùng tập
trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng
nghiệp theo hướng hiện đại, Đại hội lần thứ IX (năm 2001) của Đảng đã chủ trương ưu tiên
phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất cho phù hợp theo định
hướng CNXH, tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, ngày
18/3/2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ra Nghị
quyết số 15-NQ/TW về "Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn thời kỳ 2001-2010". Nghị quyết đã xác định rõ nội dung tổng quát CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn:
Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ
khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công
nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện
đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị
sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế - xã
hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại
sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ,
công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của
nhân dân nông thôn [24, tr. 92-93].
Như vậy, có thể nói trải qua một quá trình phát triển tư duy lý luận, Đảng ta đã
không ngừng hoàn thiện quan điểm đường lối của mình về phát triển kinh tế nông nghiệp.
Điều đó nói lên tầm quan trọng của phát triển kinh tế nông nghiệp trong toàn bộ tiến trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta.
1.2. CHÍNH SÁCH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA
CHÍNH SÁCH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
nghiệp, nông thôn.
Phân loại theo địa chỉ tác động của chính sách, chúng ta có các nhóm chính sách
phát triển kinh tế nông nghiệp như sau:
+ Chính sách hỗ trợ đầu vào của sản xuất nông nghiệp. Đó là các chính sách về
trợ giá giống mới cây trồng vật nuôi, trợ giá phân bón, thuốc bảo vệ động thực vật, chính
sách hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất
nông nghiệp
+ Chính sách điều chỉnh đầu ra của sản xuất nông nghiệp. Bao gồm chính sách về
bảo hiểm nông sản, chính sách bảo hộ nông sản, chính sách miễn giảm thuế nông sản, chính
sách miễn giảm thuế buôn bán nông sản, chính sách khuyến khích mở rộng thị trường
tiêu thụ nông sản
Phân loại theo mức độ quan trọng của mục tiêu cần đạt tới của chính sách:
+ Chính sách phục vụ mục tiêu cơ bản, như chính sách đất đai, chính sách hỗ trợ
xuất khẩu, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế + Chính sách phục vụ mục tiêu thứ yếu.
+ Chính sách phục vụ mục tiêu tổng hợp, như chính sách khuyến nông, chính
sách cho người nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi
Phân loại theo thời gian của mục tiêu:
+ Nhóm chính sách có tác động dài hạn, như: chính sách đất đai; chính sách bảo
hiểm nông sản
+ Nhóm chính sách có tác động trung hạn, như: chính sách khuyến nông hỗ trợ
sản phẩm mới, chính sách tín dụng thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệp
theo mục tiêu và có thời hạn xác định.
+ Nhóm chính sách có tác động ngắn hạn, như: chính sách miễn giảm thuế hay
hỗ trợ nông nghiệp khi thiên tai, dịch bệnh, chính sách hỗ trợ giống nuôi trồng mới, chính
sách bảo trợ nông sản
Phân loại tổng hợp
Nhóm một: Bao gồm các chính sách có vai trò tác động trực tiếp vào người sản
lượng sản phẩm xuất khẩu thông qua chính sách trợ cấp qua giá (khi muốn khuyến khích
xuất khẩu) và chính sách đánh thuế cao (khi muốn hạn chế xuất khẩu).
Chính sách hạn ngạch (quota) nhập khẩu: Chính sách này có tác dụng tương tự
chính sách đánh thuế nhập khẩu với mục đích hạn chế nhập khẩu.
Sử dụng hàng rào phi thuế quan bằng nhiều văn bản chính sách có tác dụng gây
trở ngại cho nhập khẩu, chẳng hạn các qui định ngặt nghèo về tiêu chuẩn y tế, chất lượng
sản phẩm, mẫu mã bao bì, đặc biệt là những đòi hỏi về tiêu chuẩn kỹ thuật của mặt hàng nhập khẩu Những qui định này thường thay đổi trong thời gian rất ngắn và có tác dụng
điều tiết lượng hàng nhập khẩu tương đối hiệu quả.
Chính sách tỷ giá: Để điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu nói chung giữa các
nhóm hàng tham gia xuất nhập khẩu.
1.2.3. Đặc điểm của chính sách kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là một lĩnh vực rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp đối với các
quốc gia đang phát triển. Vì khu vực này thường trải rộng trên nhiều địa bàn khác nhau
với tính đa dạng, phong phú, đặc thù của mỗi địa phương, vùng miền. Dân cư nông thôn
chủ yếu gắn liền với sản xuất nông nghiệp, với môi trường tự nhiên và thường gặp nhiều
rủi ro. Người dân nông thôn vừa là người chủ gia đình vừa là người chủ sản xuất, họ sản
xuất để nuôi sống chính bản thân và gia đình, nếu có dư thừa thì mới mang ra thị trường.
Tính đa dạng, không đồng đều của nông nghiệp, nông thôn là một đặc điểm có ảnh hưởng
đến việc xây dựng hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp. Do đó chính sách nông
nghiệp của các quốc gia, khu vực, vùng miền đều mang những nét đặc thù với màu sắc
riêng. Chính sách nông nghiệp thường bao hàm cả chính sách kinh tế và chính sách phi
kinh tế. Ngày nay nông nghiệp không chỉ là nơi sản xuất ra của cải vật chất mà còn là địa
bàn có số lượng dân cư rất đông. Nông nghiệp, nông thôn là nơi tàng trữ các giá trị văn
hóa tinh thần của xã hội, là nơi thực hiện các quá trình bảo vệ môi trường, bảo vệ tài
nguyên quốc gia. Nông nghiệp không chỉ sản xuất ra của cải cho xã hội mà còn là là môi
trường tự nhiên, môi trường xã hội cho phát triển bền vững. Vì vậy, chính sách phát triển
của các quốc gia đều mang những đặc trưng riêng. Các chính sách này không chỉ nhằm
nền kinh tế nông nghiệp thế giới.
Bốn là, sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đến chính sách kinh tế
nông nghiệp. Quá trình hoạch định và thực hiện chính sách kinh tế nông nghiệp chịu tác
động của những thành tựu khoa học, công nghệ của quốc gia đó và của thế giới. Khoa
học kỹ thuật ngày nay đã thực sự trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành động lực cho sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Chính mức độ và quy mô áp dụng
trình độ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp của một quốc gia sẽ quy định việc
xây dựng và thực hiện chính sách nông nghiệp. Khoa học kỹ thuật phát triển sẽ tạo ra
động lực và mục tiêu cho việc xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế nông nghiệp cho
mỗi quốc gia.
Năm là, điều kiện tự nhiên bao gồm khí hậu, thời tiết, môi trường, địa hình, thổ
nhưỡng, nguồn nước có ảnh hưởng rất quan trọng đến chính sách kinh tế nông nghiệp.
Chính sách kinh tế nông nghiệp ở một quốc gia mà hội tụ các điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho sản xuất nông nghiệp sẽ khác với các nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp.
Sáu là, quy mô, tốc độ gia tăng dân số có tác động đến việc xây dựng và thực
hiện chính sách nông nghiệp của một quốc gia. Một quốc gia mà có quy mô dân số lớn,
có tốc độ gia tăng dân số nhanh thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm là rất lớn, do đó sẽ
có cách quan tâm tương đối đặc thù so với một quốc gia quy mô dân số nhỏ, tốc độ gia
tăng chậm.
Bảy là, chính sách nông nghiệp còn chịu sự tác động của điều kiện thực hiện bản
thân chính sách. Chính sách nông nghiệp được xây dựng phải dựa trên điều kiện kinh tế,
trình độ phát triển của một quốc gia cụ thể. Các mục tiêu và giải pháp của chính sách
nông nghiệp không thể vượt quá các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và từng khu
vực, vùng miền. Nếu thoát ly điều kiện thực thi chính sách nông nghiệp sẽ khó có cơ hội
thành công.
1.2.5. Vai trò của chính sách nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội